Thứ tư 23/09/2026 14:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cầm giữ tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 - Một số bất cập cần hoàn thiện

Cầm giữ tài sản được ghi nhận là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự lần đầu tiên trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Biện pháp bảo đảm này cho phép bên có quyền trong hợp đồng song vụ được chiếm hữu, cầm giữ tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ đến khi bên có nghĩa vụ hoàn thànhnghĩa vụ

1. Một số quy định về cầm giữ tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Thuật ngữ "cầm giữ" được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Cầm là giữ, nắm trong bàn tay hoặc ngón tay[1]; giữ là làm cho ở nguyên một chỗ, không có sự xê dịch[2]. Còn theo Từ điển Luật học, cầm giữ tài sản được định nghĩa là “lien on property”. Lien: Ràng buộc (quyền giữ đồ thế chấp); quyền giữ đồ thế chấp có thể là đặc quyền chung (gen-eral lien), khi hàng hóa bị giữ lại làm vật bảo đảm cho những món nợ chưa trả xong, hay đặc quyền đặc biệt (par-ticular lien) đối với vật được thế chấp, trong một số hợp đồng người bán chịu có quyền giữ hàng hóa đó cho đến khi nhận được số tiền bán; một người chủ xe có quyền giữ hàng hóa mà người đó đang chuyên chở”[3]. Từ đó, có thể khái quát rằng, cầm giữ là việc một chủ thể không phải chủ sở hữu tài sản được kiểm soát trực tiếp bằng cách nắm giữ tài sản của người khác để chờ đợi người đó thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Trong khoa học pháp lý, việc cầm giữ tài sản đã được thừa nhận khi mà Bộ luật Hàng hải năm 2015 quy định tại Điều 40[4]: “Quyền cầm giữ hàng hải là quyền của người có khiếu nại hàng hải quy định tại Điều 41 của Bộ luật này được ưu tiên trong việc đòi bồi thường đối với chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu mà tàu biển đó đã làm phát sinh khiếu nãi hàng hải”. Có thể hiểu về cầm giữ hàng hải là việc bên bị vi phạm được quyền kiểm soát, bắt giữ tàu biển của bên vi phạm khi bên vi phạm đã thực hiện hành vi dẫn tới khiếu nại hàng hải như: Không thanh toán công cứu hộ tàu biển; sử dụng tàu biển gây tai nạn dẫn đến thiệt hại; không thanh toán lệ phí cảng biển hay phí trọng tải…Ví dụ, A là chủ sở hữu tàu biển, có neo đậu trong một vùng cảng nước sâu, khu vực cầu cảng nơi tàu của A neo đậu thuộc quản lý của Công ty TNHH vận tải biển và logistic XNZ. Trường hợp nếu bên A không thực hiện việc thanh toán lệ phí cảng biển, sẽ phát sinh khiếu nại của Công ty TNHH XNZ, đồng thời, công ty này có quyền cầm giữ tàu biển của A để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền của A. Mục đích của cầm giữ hàng hải mang tính hối thúc bên vi phạm nghiêm túc và thiện chí thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nếu muốn nhận lại tài sản đã bị cầm giữ. Dấu hiệu này mang bản chất đặc thù giống các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Cầm giữ tài sản cũng là một cách xử sự đã được thừa nhận trong các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Điều 416 Bộ luật này quy định: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận”. Mặc dù theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, cầm giữ chỉ được thừa nhận là một trong số các cách xử sử của các chủ thể tham gia hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, quy định tại Điều 416 lại cho thấy, cầm giữ đóng vai trò như một biện pháp dự phòng, chỉ đặt ra khi một bên vi phạm nghĩa vụ. Đây là bản chất của một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Kế thừa các quy định về cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ của Bộ luật Dân sự năm 2005; tiếp thu những quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015 về cầm giữ hàng hải; Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thừa nhận cầm giữ tài sản là một trong 09 biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, một số quy định lần đầu tiên được giới thiệu trong một Bộ luật Dân sự đã thể hiện những bất cập nhất định

Thứ nhất, việc giới hạn đối tượng của các hợp đồng dân sự phát sinh biện pháp cầm giữ là bất hợp lý

Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về cầm giữ tài sản như sau[5]: “Cầm giữ tài sản là việc có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Căn cứ quy định của điều luật thấy rằng, điều kiện cần để áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản là bên có quyền đang thực tế chiếm hữu đối tượng của hợp đồng. Ví dụ: Anh A đến điểm du lịch có thuê xe máy tại cửa hàng của chị B với mục đích sử dụng để tham quan danh lam thắng cảnh địa phương trong thời hạn 03 ngày, có ký cược số tiền là 10 triệu đồng. Hết 03 ngày khi anh A quay lại cửa hàng chị B để trả xe, chị B không đồng ý trả lại anh A 10 triệu đồng; lúc này anh A có quyền cầm giữ chiếc xe máy của cửa hàng chị B tới khi chị B hoàn trả đủ tiền ký cược. Phân tích tình huống trên thấy rằng, anh A là người có quyền (yêu cầu nhận lại tiền ký cược), đồng thời, anh A cũng đang thực tế nắm giữ chiếc xe của chị B (là đối tượng trong hợp đồng thuê giữa anh A và chị B). Căn cứ quy định tại Điều 346, có thể khẳng định rằng, anh A được quyền cầm giữ chiếc xe của chị B bởi đây là một quyền dân sự hợp pháp. Biện pháp cầm giữ anh A đang thực hiện là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền ký cược của chị B.

Tuy nhiên, với nội dung quy định tại Điều 346, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã gián tiếp không thừa nhận những trường hợp “cầm giữ” tài sản không phải là đối tượng của hợp đồng song vụ, mà chỉ là đối tượng của một công việc thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng song vụ. Ví dụ: Anh A có gửi xe ô tô tại cửa hàng sửa chữa mà anh B làm chủ để anh B sửa chữa xe cho mình. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa, anh B thông báo để anh A đến nhận xe. Anh A đến nhận xe và thông báo chưa thu xếp đủ tiền để trả anh B. Anh B không chuyển giao xe cho anh A và có quyền cầm giữ chiếc xe ô tô của anh A để gây sức ép buộc anh A phải thanh toán chi phí này. Áp dụng quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì anh B hoàn toàn không được nắm giữ, kiểm soát chiếc xe ô tô của anh A, bất luận anh A có thanh toán chi phí cho việc sửa chữa chiếc xe hay không vì đối tượng của hợp đồng anh A và anh B ký kết là công việc dịch vụ sửa chữa xe ô tô. Đối tượng của hợp đồng song vụ giữa A và B không phải là tài sản, nên không thể đáp ứng quy định của Điều 346. Có thể nói, quy định về cầm giữ tài sản hiện nay không thể giải quyết được vấn đề phát sinh từ những quan hệ dân sự tương tự tình huống trong ví dụ này. Với cách thể hiện nội dung trong Điều 346, quy định về cầm giữ tài sản đã thể hiện sự bất cập rõ rệt.

Thứ hai, không có quy định về thời hiệu cầm giữ tài sản[6]

Điều 347 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng, cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Tức là, nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ, thì bên có quyền đang chiếm hữu tài sản phải hoàn trả tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ. Trường hợp có sự vi phạm của bên có phạm nghĩa vụ thì bên có quyền được tiếp tục nắm giữ tài sản. Một trong những trường hợp quyền nắm giữ tài sản chấm dứt là nghĩa vụ đã thực hiện xong[7] (khoản 3 Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, Bộ luật không có quy định về thời hạn bên có quyền được phép cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ. Điều này dẫn đến sự bất cập trên thực tế khi bên có nghĩa vụ do cố ý hoặc do hoàn cảnh khách quan mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trong một khoảng thời gian dài, còn bên có quyền duy trì việc nắm giữ nhưng cũng không xác định được thời điểm nào việc thực hiện nghĩa vụ có tính khả thi. Việc thiếu quy định về thời hạn tối đa đối với quyền cầm giữ tác động tiêu cực đến cả tính thiện chí trong thực hiện nghĩa vụ lẫn vấn đề đảm bảo quyền lợi của bên có quyền. Thực tế, trong lĩnh vực hàng hải, Bộ luật Hàng hải năm 2015 đã có quy định cụ thể về thời hạn cầm giữ hàng hải tại khoản 1 Điều 43[8]: “Thời hiệu quyền cầm giữ hàng hải là 01 năm kể từ thời điểm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải”. Bộ luật Dân sự năm 2015 cần tiếp thu ý tưởng về việc quy định thời hiệu cầm giữ này.

Thứ ba, thiếu quy định về nguyên tắc, phương thức xử lý tài sản cầm giữ

Căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về cầm giữ tài sản, thấy rằng, bên có quyền chỉ được cầm giữ tài sản để “chờ đợi” bên có nghĩa vụ hoàn thiện việc thực hiện nghĩa vụ với mình mà không hề có quyền chủ động xử lý tài sản cầm giữ. Ngoài bản chất là một phương án dự phòng, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung thể hiện bản chất của một quan hệ nghĩa vụ bổ sung. Trong trường hợp việc thực hiện nghĩa vụ dân sự chính bị thiếu hụt (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ) thì các cam kết bảo đảm sẽ là căn cứ phát sinh một nghĩa vụ bổ sung, tức là bên có quyền sẽ được bù đắp quyền lợi trực tiếp từ đối tượng của biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên, với những quy định hiện hành về cầm giữ tài sản thì bên có quyền không có phương thức nào để bù đắp lợi ích tương ứng với phần nghĩa vụ vi phạm từ tài sản cầm giữ là đối tượng bảo đảm. Thực tế cho thấy, sau một thời gian dài chậm trễ thực hiện nghĩa vụ; phần giá trị nghĩa vụ bị vi phạm gia tăng nhanh chóng; trong nhiều trường hợp có giá trị gần bằng hoặc tương đương với giá trị tài sản cầm giữ. Việc không cho phép bên có quyền được xử lý tài sản cầm giữ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi chính đáng của bên có quyền. Thực chất kiểm soát, chi phối tài sản bảo đảm trong thời gian bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chính (giống trong cầm cố, thế chấp) chỉ là một bước chuẩn bị cho việc xử lý tài sản bảo đảm. Nếu cầm giữ tài sản chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị (bên có quyền kiểm soát, nắm giữ tài sản) thì rõ ràng đã không bảo đảm tuyệt đối được lợi ích của bên có quyền.

Pháp luật hiện hành không cho phép bên có quyền được xử lý tài sản cầm giữ cũng dẫn đến một thực trạng: Bên có quyền cầm giữ sẽ chịu bất lợi nếu tài sản đang cầm giữ bị xử lý để bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ dân sự trước đó của bên có nghĩa vụ[9]. Ví dụ: A đang thực hiện cầm giữ tài sản của B do B vi phạm nghĩa vụ từ hợp đồng song vụ hai bên xác lập, trước đó tài sản của B đang được thế chấp tại ngân hàng. Trong thời gian A đang thực tế cầm giữ tài sản của B, ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp do B vi phạm nghĩa vụ đến hạn. Trường hợp này khi tài sản thế chấp được xử lý thì A cũng không được xác định trong thứ bậc ưu tiên thanh toán, vì theo quy định A chỉ được yêu cầu B thực hiện đúng nghĩa vụ vi phạm mà không được bù đắp quyền lợi từ chính giá trị tài sản cầm giữ (bị xử lý theo hợp đồng thế chấp với ngân hàng).

2. Một số kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện pháp luật

Một là, luật cần xác định chính xác tài sản cầm giữ là đối tượng của việc thực hiện nghĩa vụ

Như đã phân tích, quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 khiến việc áp dụng pháp luật trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng đối với những tài sản là đối tượng của các hợp đồng song vụ; còn đối với những hợp đồng có đối tượng là công việc liên quan đến một tài sản cụ thể thì không thể viện dẫn điều luật này để điều chỉnh. Ví dụ: A có tài sản gửi giữ cho B; đối tượng hợp đồng là công việc trông giữ liên quan trực tiếp đến tài sản được gửi giữ; nhưng nếu trường hợp A chậm trễ thanh toán tiền trông giữ thì B không có quyền cầm giữ tài sản này của A. Do vậy, Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần được chỉnh sửa theo hướng như sau: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Hai là, luật cần bổ sung quy định về thời hiệu cầm giữ. Để ràng buộc hơn trách nhiệm của bên có nghĩa vụ, đồng thời, đảm bảo hơn lợi ích chính đáng của bên có quyền luật cần có quy định cụ thể về thời hiệu cầm giữ. Giới hạn thời hạn cầm giữ sẽ buộc bên có nghĩa vụ phải thực sự nghiêm túc, thiện chí trong việc hoàn thiện phần nghĩa vụ còn thiếu đối với bên có quyền. Quy định về thời hiệu cầm giữ cũng góp phần giúp bên có quyền chủ động hơn trong việc bố trí nguồn lực, chuẩn bị chi phí, phương thức cần thiết cho việc bảo quản, trông giữ tài sản trong khoảng thời hiệu cầm giữ. Vì những lý do đó, Bộ luật dân sự 2015 cần bổ sung quy định về thời hiệu cầm giữ tại khoản 2 Điều 346: “Thời hiệu cầm giữ do các bên thỏa thuận, tối đa không quá 01 năm kể từ ngày phát sinh quyền cầm giữ của bên có quyền trong hợp đồng song vụ”.

Ba là, cần thiết bổ sung về quyền xử lý tài sản cầm giữ

Bổ sung quy định về thời hiệu cầm giữ là chưa đủ, về nguyên tắc thời hiệu phải gắn liền với một hậu quả pháp lý được luật dự liệu, khi hết thời hiệu này chủ thể sẽ được hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự. Do vậy, pháp luật cần thừa nhận quyền xử lý tài sản cầm giữ như một hệ quả hợp lý từ việc bên có nghĩa vụ không thể khắc phục phần nghĩa vụ hao hụt trong thời gian tài sản của mình bị cầm giữ. Việc bổ sung quy định về xử lý tài sản cầm giữ thể hiện được bản chất của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Bên có quyền được tác động trực tiếp lên đối tượng của biện pháp bảo đảm để bù đắp cho phần lợi ích của mình bị khiếm khuyết do bên kia vi phạm nghĩa vụ.

Với những lập luận trên, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần tiếp tục bổ sung quy định về quyền xử lý tài sản cầm giữ theo hướng bổ sung mới khoản 4 Điều 348 (quyền của bên cầm giữ) “được xử lý tài sản cầm giữ khi hết thời hiệu cầm giữ mà bên có nghĩa vụ chưa thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ theo phương thức các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định”./.

ThS. Hoàng Ngọc Hưng

Đại học Luật Hà Nội


[1] Xem Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý; Nxb Văn hóa Thông tin, 1998, tr. 273.

[2] Xem Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý; Nxb Văn hóa Thông tin, 1998, tr. 754.

[3] Xem Từ điển Pháp luật Anh – Việt, Nguyễn Thành Minh; Nxb Thế giới, 1998, tr. 562.

[4] Xem Điều 40 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[5] Xem Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Xem Điều 347 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Xem Khoản 3 Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8] Xem Điều 43 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[9] Xem https://www.thesaigontimes.vn/152554/Han-che-rui-ro-tu-quy-dinh-cam-giu-tai-san.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: