Thứ sáu 20/03/2026 03:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cầm giữ tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 - Một số bất cập cần hoàn thiện

Cầm giữ tài sản được ghi nhận là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự lần đầu tiên trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Biện pháp bảo đảm này cho phép bên có quyền trong hợp đồng song vụ được chiếm hữu, cầm giữ tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ đến khi bên có nghĩa vụ hoàn thànhnghĩa vụ

1. Một số quy định về cầm giữ tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Thuật ngữ "cầm giữ" được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Cầm là giữ, nắm trong bàn tay hoặc ngón tay[1]; giữ là làm cho ở nguyên một chỗ, không có sự xê dịch[2]. Còn theo Từ điển Luật học, cầm giữ tài sản được định nghĩa là “lien on property”. Lien: Ràng buộc (quyền giữ đồ thế chấp); quyền giữ đồ thế chấp có thể là đặc quyền chung (gen-eral lien), khi hàng hóa bị giữ lại làm vật bảo đảm cho những món nợ chưa trả xong, hay đặc quyền đặc biệt (par-ticular lien) đối với vật được thế chấp, trong một số hợp đồng người bán chịu có quyền giữ hàng hóa đó cho đến khi nhận được số tiền bán; một người chủ xe có quyền giữ hàng hóa mà người đó đang chuyên chở”[3]. Từ đó, có thể khái quát rằng, cầm giữ là việc một chủ thể không phải chủ sở hữu tài sản được kiểm soát trực tiếp bằng cách nắm giữ tài sản của người khác để chờ đợi người đó thực hiện nghĩa vụ đối với mình.

Trong khoa học pháp lý, việc cầm giữ tài sản đã được thừa nhận khi mà Bộ luật Hàng hải năm 2015 quy định tại Điều 40[4]: “Quyền cầm giữ hàng hải là quyền của người có khiếu nại hàng hải quy định tại Điều 41 của Bộ luật này được ưu tiên trong việc đòi bồi thường đối với chủ tàu, người thuê tàu, người khai thác tàu mà tàu biển đó đã làm phát sinh khiếu nãi hàng hải”. Có thể hiểu về cầm giữ hàng hải là việc bên bị vi phạm được quyền kiểm soát, bắt giữ tàu biển của bên vi phạm khi bên vi phạm đã thực hiện hành vi dẫn tới khiếu nại hàng hải như: Không thanh toán công cứu hộ tàu biển; sử dụng tàu biển gây tai nạn dẫn đến thiệt hại; không thanh toán lệ phí cảng biển hay phí trọng tải…Ví dụ, A là chủ sở hữu tàu biển, có neo đậu trong một vùng cảng nước sâu, khu vực cầu cảng nơi tàu của A neo đậu thuộc quản lý của Công ty TNHH vận tải biển và logistic XNZ. Trường hợp nếu bên A không thực hiện việc thanh toán lệ phí cảng biển, sẽ phát sinh khiếu nại của Công ty TNHH XNZ, đồng thời, công ty này có quyền cầm giữ tàu biển của A để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền của A. Mục đích của cầm giữ hàng hải mang tính hối thúc bên vi phạm nghiêm túc và thiện chí thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nếu muốn nhận lại tài sản đã bị cầm giữ. Dấu hiệu này mang bản chất đặc thù giống các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Cầm giữ tài sản cũng là một cách xử sự đã được thừa nhận trong các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005. Điều 416 Bộ luật này quy định: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang chiếm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được cầm giữ tài sản khi bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ không đúng theo thỏa thuận”. Mặc dù theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, cầm giữ chỉ được thừa nhận là một trong số các cách xử sử của các chủ thể tham gia hợp đồng song vụ. Tuy nhiên, quy định tại Điều 416 lại cho thấy, cầm giữ đóng vai trò như một biện pháp dự phòng, chỉ đặt ra khi một bên vi phạm nghĩa vụ. Đây là bản chất của một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.

Kế thừa các quy định về cầm giữ tài sản trong hợp đồng song vụ của Bộ luật Dân sự năm 2005; tiếp thu những quy định của Bộ luật Hàng hải năm 2015 về cầm giữ hàng hải; Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thừa nhận cầm giữ tài sản là một trong 09 biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, một số quy định lần đầu tiên được giới thiệu trong một Bộ luật Dân sự đã thể hiện những bất cập nhất định

Thứ nhất, việc giới hạn đối tượng của các hợp đồng dân sự phát sinh biện pháp cầm giữ là bất hợp lý

Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về cầm giữ tài sản như sau[5]: “Cầm giữ tài sản là việc có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Căn cứ quy định của điều luật thấy rằng, điều kiện cần để áp dụng biện pháp cầm giữ tài sản là bên có quyền đang thực tế chiếm hữu đối tượng của hợp đồng. Ví dụ: Anh A đến điểm du lịch có thuê xe máy tại cửa hàng của chị B với mục đích sử dụng để tham quan danh lam thắng cảnh địa phương trong thời hạn 03 ngày, có ký cược số tiền là 10 triệu đồng. Hết 03 ngày khi anh A quay lại cửa hàng chị B để trả xe, chị B không đồng ý trả lại anh A 10 triệu đồng; lúc này anh A có quyền cầm giữ chiếc xe máy của cửa hàng chị B tới khi chị B hoàn trả đủ tiền ký cược. Phân tích tình huống trên thấy rằng, anh A là người có quyền (yêu cầu nhận lại tiền ký cược), đồng thời, anh A cũng đang thực tế nắm giữ chiếc xe của chị B (là đối tượng trong hợp đồng thuê giữa anh A và chị B). Căn cứ quy định tại Điều 346, có thể khẳng định rằng, anh A được quyền cầm giữ chiếc xe của chị B bởi đây là một quyền dân sự hợp pháp. Biện pháp cầm giữ anh A đang thực hiện là một biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền ký cược của chị B.

Tuy nhiên, với nội dung quy định tại Điều 346, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã gián tiếp không thừa nhận những trường hợp “cầm giữ” tài sản không phải là đối tượng của hợp đồng song vụ, mà chỉ là đối tượng của một công việc thực hiện nghĩa vụ từ hợp đồng song vụ. Ví dụ: Anh A có gửi xe ô tô tại cửa hàng sửa chữa mà anh B làm chủ để anh B sửa chữa xe cho mình. Sau khi hoàn thành việc sửa chữa, anh B thông báo để anh A đến nhận xe. Anh A đến nhận xe và thông báo chưa thu xếp đủ tiền để trả anh B. Anh B không chuyển giao xe cho anh A và có quyền cầm giữ chiếc xe ô tô của anh A để gây sức ép buộc anh A phải thanh toán chi phí này. Áp dụng quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì anh B hoàn toàn không được nắm giữ, kiểm soát chiếc xe ô tô của anh A, bất luận anh A có thanh toán chi phí cho việc sửa chữa chiếc xe hay không vì đối tượng của hợp đồng anh A và anh B ký kết là công việc dịch vụ sửa chữa xe ô tô. Đối tượng của hợp đồng song vụ giữa A và B không phải là tài sản, nên không thể đáp ứng quy định của Điều 346. Có thể nói, quy định về cầm giữ tài sản hiện nay không thể giải quyết được vấn đề phát sinh từ những quan hệ dân sự tương tự tình huống trong ví dụ này. Với cách thể hiện nội dung trong Điều 346, quy định về cầm giữ tài sản đã thể hiện sự bất cập rõ rệt.

Thứ hai, không có quy định về thời hiệu cầm giữ tài sản[6]

Điều 347 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rằng, cầm giữ tài sản phát sinh từ thời điểm đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Tức là, nếu đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ, thì bên có quyền đang chiếm hữu tài sản phải hoàn trả tài sản là đối tượng của hợp đồng song vụ. Trường hợp có sự vi phạm của bên có phạm nghĩa vụ thì bên có quyền được tiếp tục nắm giữ tài sản. Một trong những trường hợp quyền nắm giữ tài sản chấm dứt là nghĩa vụ đã thực hiện xong[7] (khoản 3 Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015). Tuy nhiên, Bộ luật không có quy định về thời hạn bên có quyền được phép cầm giữ tài sản của bên có nghĩa vụ. Điều này dẫn đến sự bất cập trên thực tế khi bên có nghĩa vụ do cố ý hoặc do hoàn cảnh khách quan mà không có khả năng thực hiện nghĩa vụ trong một khoảng thời gian dài, còn bên có quyền duy trì việc nắm giữ nhưng cũng không xác định được thời điểm nào việc thực hiện nghĩa vụ có tính khả thi. Việc thiếu quy định về thời hạn tối đa đối với quyền cầm giữ tác động tiêu cực đến cả tính thiện chí trong thực hiện nghĩa vụ lẫn vấn đề đảm bảo quyền lợi của bên có quyền. Thực tế, trong lĩnh vực hàng hải, Bộ luật Hàng hải năm 2015 đã có quy định cụ thể về thời hạn cầm giữ hàng hải tại khoản 1 Điều 43[8]: “Thời hiệu quyền cầm giữ hàng hải là 01 năm kể từ thời điểm phát sinh quyền cầm giữ hàng hải”. Bộ luật Dân sự năm 2015 cần tiếp thu ý tưởng về việc quy định thời hiệu cầm giữ này.

Thứ ba, thiếu quy định về nguyên tắc, phương thức xử lý tài sản cầm giữ

Căn cứ quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về cầm giữ tài sản, thấy rằng, bên có quyền chỉ được cầm giữ tài sản để “chờ đợi” bên có nghĩa vụ hoàn thiện việc thực hiện nghĩa vụ với mình mà không hề có quyền chủ động xử lý tài sản cầm giữ. Ngoài bản chất là một phương án dự phòng, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung thể hiện bản chất của một quan hệ nghĩa vụ bổ sung. Trong trường hợp việc thực hiện nghĩa vụ dân sự chính bị thiếu hụt (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ) thì các cam kết bảo đảm sẽ là căn cứ phát sinh một nghĩa vụ bổ sung, tức là bên có quyền sẽ được bù đắp quyền lợi trực tiếp từ đối tượng của biện pháp bảo đảm. Tuy nhiên, với những quy định hiện hành về cầm giữ tài sản thì bên có quyền không có phương thức nào để bù đắp lợi ích tương ứng với phần nghĩa vụ vi phạm từ tài sản cầm giữ là đối tượng bảo đảm. Thực tế cho thấy, sau một thời gian dài chậm trễ thực hiện nghĩa vụ; phần giá trị nghĩa vụ bị vi phạm gia tăng nhanh chóng; trong nhiều trường hợp có giá trị gần bằng hoặc tương đương với giá trị tài sản cầm giữ. Việc không cho phép bên có quyền được xử lý tài sản cầm giữ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền lợi chính đáng của bên có quyền. Thực chất kiểm soát, chi phối tài sản bảo đảm trong thời gian bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ chính (giống trong cầm cố, thế chấp) chỉ là một bước chuẩn bị cho việc xử lý tài sản bảo đảm. Nếu cầm giữ tài sản chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị (bên có quyền kiểm soát, nắm giữ tài sản) thì rõ ràng đã không bảo đảm tuyệt đối được lợi ích của bên có quyền.

Pháp luật hiện hành không cho phép bên có quyền được xử lý tài sản cầm giữ cũng dẫn đến một thực trạng: Bên có quyền cầm giữ sẽ chịu bất lợi nếu tài sản đang cầm giữ bị xử lý để bảo đảm cho việc thực hiện một nghĩa vụ dân sự trước đó của bên có nghĩa vụ[9]. Ví dụ: A đang thực hiện cầm giữ tài sản của B do B vi phạm nghĩa vụ từ hợp đồng song vụ hai bên xác lập, trước đó tài sản của B đang được thế chấp tại ngân hàng. Trong thời gian A đang thực tế cầm giữ tài sản của B, ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp do B vi phạm nghĩa vụ đến hạn. Trường hợp này khi tài sản thế chấp được xử lý thì A cũng không được xác định trong thứ bậc ưu tiên thanh toán, vì theo quy định A chỉ được yêu cầu B thực hiện đúng nghĩa vụ vi phạm mà không được bù đắp quyền lợi từ chính giá trị tài sản cầm giữ (bị xử lý theo hợp đồng thế chấp với ngân hàng).

2. Một số kiến nghị nhằm bổ sung, hoàn thiện pháp luật

Một là, luật cần xác định chính xác tài sản cầm giữ là đối tượng của việc thực hiện nghĩa vụ

Như đã phân tích, quy định tại Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 khiến việc áp dụng pháp luật trên thực tế gặp nhiều khó khăn. Cầm giữ tài sản chỉ áp dụng đối với những tài sản là đối tượng của các hợp đồng song vụ; còn đối với những hợp đồng có đối tượng là công việc liên quan đến một tài sản cụ thể thì không thể viện dẫn điều luật này để điều chỉnh. Ví dụ: A có tài sản gửi giữ cho B; đối tượng hợp đồng là công việc trông giữ liên quan trực tiếp đến tài sản được gửi giữ; nhưng nếu trường hợp A chậm trễ thanh toán tiền trông giữ thì B không có quyền cầm giữ tài sản này của A. Do vậy, Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015 cần được chỉnh sửa theo hướng như sau: “Cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”.

Hai là, luật cần bổ sung quy định về thời hiệu cầm giữ. Để ràng buộc hơn trách nhiệm của bên có nghĩa vụ, đồng thời, đảm bảo hơn lợi ích chính đáng của bên có quyền luật cần có quy định cụ thể về thời hiệu cầm giữ. Giới hạn thời hạn cầm giữ sẽ buộc bên có nghĩa vụ phải thực sự nghiêm túc, thiện chí trong việc hoàn thiện phần nghĩa vụ còn thiếu đối với bên có quyền. Quy định về thời hiệu cầm giữ cũng góp phần giúp bên có quyền chủ động hơn trong việc bố trí nguồn lực, chuẩn bị chi phí, phương thức cần thiết cho việc bảo quản, trông giữ tài sản trong khoảng thời hiệu cầm giữ. Vì những lý do đó, Bộ luật dân sự 2015 cần bổ sung quy định về thời hiệu cầm giữ tại khoản 2 Điều 346: “Thời hiệu cầm giữ do các bên thỏa thuận, tối đa không quá 01 năm kể từ ngày phát sinh quyền cầm giữ của bên có quyền trong hợp đồng song vụ”.

Ba là, cần thiết bổ sung về quyền xử lý tài sản cầm giữ

Bổ sung quy định về thời hiệu cầm giữ là chưa đủ, về nguyên tắc thời hiệu phải gắn liền với một hậu quả pháp lý được luật dự liệu, khi hết thời hiệu này chủ thể sẽ được hưởng quyền dân sự, miễn trừ nghĩa vụ dân sự hoặc mất quyền khởi kiện, yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự. Do vậy, pháp luật cần thừa nhận quyền xử lý tài sản cầm giữ như một hệ quả hợp lý từ việc bên có nghĩa vụ không thể khắc phục phần nghĩa vụ hao hụt trong thời gian tài sản của mình bị cầm giữ. Việc bổ sung quy định về xử lý tài sản cầm giữ thể hiện được bản chất của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Bên có quyền được tác động trực tiếp lên đối tượng của biện pháp bảo đảm để bù đắp cho phần lợi ích của mình bị khiếm khuyết do bên kia vi phạm nghĩa vụ.

Với những lập luận trên, Bộ luật Dân sự năm 2015 cần tiếp tục bổ sung quy định về quyền xử lý tài sản cầm giữ theo hướng bổ sung mới khoản 4 Điều 348 (quyền của bên cầm giữ) “được xử lý tài sản cầm giữ khi hết thời hiệu cầm giữ mà bên có nghĩa vụ chưa thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ theo phương thức các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định”./.

ThS. Hoàng Ngọc Hưng

Đại học Luật Hà Nội


[1] Xem Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý; Nxb Văn hóa Thông tin, 1998, tr. 273.

[2] Xem Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý; Nxb Văn hóa Thông tin, 1998, tr. 754.

[3] Xem Từ điển Pháp luật Anh – Việt, Nguyễn Thành Minh; Nxb Thế giới, 1998, tr. 562.

[4] Xem Điều 40 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[5] Xem Điều 346 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Xem Điều 347 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Xem Khoản 3 Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[8] Xem Điều 43 Bộ luật Hàng hải năm 2015.

[9] Xem https://www.thesaigontimes.vn/152554/Han-che-rui-ro-tu-quy-dinh-cam-giu-tai-san.html.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: