Thứ ba 10/03/2026 09:39
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do người của cơ quan điều tra gây ra trong hoạt động tạm giam, tạm giữ

Trong chế độ dân chủ, Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân lập ra, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội thông qua người thi hành công vụ, hành vi của người thi hành công vụ là thực thi quyền lực nhà nước.

Trong chế độ dân chủ, Nhà nước là của nhân dân, do nhân dân lập ra, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý của mình trên tất cả lĩnh vực đời sống xã hội thông qua người thi hành công vụ, hành vi của người thi hành công vụ là thực thi quyền lực nhà nước. Người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại thì Nhà nước chịu trách nhiệm đứng ra bồi thường thay cho người thi hành công vụ. Vì vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (TNBTCNN) là trách nhiệm pháp lý, trong đó Nhà nước chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại xuất phát từ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ[1].

Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) năm 2015 quy định tám biện pháp ngăn chặn được áp dụng trong hoạt động điều tra[2]. Cơ quan điều tra (CQĐT) với tư cách là một chủ thể trong “chuỗi” các giai đoạn TTHS, CQĐT áp dụng các biện pháp ngăn chặn này để phục vụ công tác điều tra. Biện pháp ngăn chặn mà CQĐT thường sử dụng nhất trong hoạt động điều tra của mình đó là biện pháp ngăn chặn tạm giam, tạm giữ. Với việc áp dụng hai biện pháp này, nếu có đủ căn cứ trong quá trình hoạt động điều tra nói chung và hoạt động tạm giam, tạm giữ nói riêng, CQĐT gây ra oan, sai cho người dân thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

1. Các căn cứ trách nhiệm gây ra trong hoạt động tạm giam, tạm giữ

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước chỉ xuất phát từ hành vi của người thi hành công vụ, Nhà nước chỉ bồi thường khi có đủ các căn cứ: Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại; có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi TNBTCNN; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại[3]. Theo đó, chúng ta cần xác định người thi hành công vụ là ai? Hành vi trái pháp luật là gì? Có thiệt hại thực tế hay không và có mối quan hệ nhân quả như thế nào?

Thứ nhất, về xác định người thi hành công vụ. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quy định: “Người thi hành công vụ là người được bầu cử, phê chuẩn, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và pháp luật có liên... hoặc thi hành án”[4].

Theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự thì chỉ có “Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; Thủ trưởng đơn vị độc lập cấp trung đoàn và tương đương, Đồn trưởng Đồn biên phòng,…[5]” mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ người bao gồm. Như vậy, CQĐT cấp huyện trở lên có quyền ra quyết định tạm giữ. Cũng theo quy định này, những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn toàn là những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả những người của các cơ quan nhà nước khác hoặc trong lực lượng vũ trang.

Đối với hoạt động tạm giam, Bộ luật Tố tụng hình sự quy định chỉ có “Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng” các cơ quan: CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án và Hội đồng xét xử mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam[6]. Tuy nhiên, lệnh bắt tạm giam của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Như vậy, cho thấy ở giai đoạn điều tra Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp có quyền ra lệnh tạm giam. Tuy nhiên, việc quyết định, hủy bỏ, thay thế biện pháp tạm giam đều thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát, CQĐT chỉ có quyền đề nghị, thẩm quyền áp dụng biện pháp tạm giam của CQĐT ở giai đoạn điều tra chỉ mang tính hình thức.

Điều tra viên trong lực lượng Công an nhân dân là một chức danh “bổ nhiệm”[7]. Nếu điều tra viên có đầy đủ năng lực và phẩm chất thì có thể được bổ nhiệm làm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT[8]. Vì vậy, điều tra viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng làm việc theo “nhiệm kỳ” và là người được “bổ nhiệm” theo luật định chính là “người thi hành công vụ”, nếu những người này gây thiệt hại cho người tạm giam, tạm giữ thì Nhà nước phải bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Thứ hai, xác định hành vi trái pháp luật: “Hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ là hành vi không thực hiện… đúng quy định của pháp luật[9]”. Trong lĩnh vực tạm giam, tạm giữ, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 không nêu rõ là người thuộc CQĐT có hành vi trái pháp luật mà chỉ nêu những trường hợp làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước được liệt kê tại Điều 18, nhưng nếu phân tích kỹ thì trong các trường hợp được liệt kê tại Điều 18, chúng ta nhận thấy có yếu tố trái pháp luật do người của CQĐT gây ra trong hoạt động tạm giam, tạm giữ, cụ thể:

Ra quyết định tạm giữ: Biện pháp tạm giữ là một biện pháp ngăn chặn trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. “Tạm giữ có thể áp dụng đối với… quyết định truy nã”[10]. Biện pháp này rất dễ gây thiệt hại đến quyền lợi hợp pháp người tạm giữ. Do vậy, nhằm bảo vệ người bị áp dụng biện pháp tạm giữ, pháp luật bồi thường nhà nước có quy định TNBTCNN đối với người bị tạm giữ. Nếu “Người bị tạm giữ mà có quyết định… vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật”[11]. Như vậy, khi CQĐT ra quyết định tạm giữ người nhưng Viện kiểm sát có thẩm quyền có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không có hành vi vi phạm pháp luật thì người tạm giữ được bồi thường.

Ra quyết định tạm giam: “Tạm giam có thể áp dụng đối với bị can, bị cáo… tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”[12]. Đây là một biện pháp nghiêm khắc nhất, người bị áp dụng biện pháp này sẽ bị cách ly xã hội một thời gian nhất định, từ đó người bị tạm giam sẽ bị thiệt hại về tinh thần, vật chất. Pháp luật bồi thường nhà nước cũng đã kịp thời quy định TNBTCNN đối với trường hợp người bị tạm giam.

Ra quyết định tạm giữ rồi tự hủy: Ngoài hai trường hợp nêu trong Điều 18, tại Điều 4 Thông tư liên tịch số 05/2012/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BQP-BTC-BNNPTNT ngày 02/11/2012 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn còn hướng dẫn bổ sung một số trường hợp nữa mà CQĐT và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động TTHS là: “Đã ra quyết định tạm giữ người, nhưng sau đó tự hủy bỏ quyết định tạm giữ đó vì người bị tạm giữ không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật”.

Điều kiện bắt buộc để người bị tạm giam, tạm giữ được Nhà nước bồi thường là người bị tạm giam, tạm giữ phải có văn bản trong việc chứng minh hành vi trái pháp luật của người thuộc CQĐT gây ra. Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, trong hồ sơ mà người bị tạm giam, tạm giữ gởi CQĐT yêu cầu giải quyết bồi thường phải có “văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường”[13], trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Như vậy, yếu tố văn bản tại giai đoạn này luật yêu cầu cần phải có.

Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động tạm giam, tạm giữ là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo quy định pháp luật, văn bản có thể là bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định rõ người bị tạm giam, tạm giữ thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường. Trong văn bản phải thể hiện rõ hành vi trái pháp luật của người thuộc CQĐT gây ra cho người bị tạm giam, tạm giữ. Trong hoạt động tạm giam, tạm giữ, CQĐT thông thường ban hành quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra bị can, quyết định trả tự do cho người tạm giam, tạm giữ, các quyết định này phải thể hiện bằng văn bản.

Thứ ba, có thiệt hại thực tế của người bị tạm giam, tạm giữ. Thiệt hại thực tế được xác định bao gồm: Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng; thiệt hại về tinh thần; thiệt hại về tài sản; thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; các chi phí khác.

Thiệt hại là điều kiện quan trọng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng bởi mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại là nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà người bị tạm giam, tạm giữ phải gánh chịu. Do đó, nếu người bị tạm giam, tạm giữ không có phát sinh thiệt hại thì cũng không phát sinh TNBTCNN. Việc đưa quy định về thiệt hại thực tế là điều kiện cơ bản để người bị tạm giam, tạm giữ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời giúp cho CQĐT có căn cứ để xác định các loại thiệt hại và mức bồi thường cho người bị tạm giam, tạm giữ nhằm mục đích khôi phục lại nguyên trạng hoặc bù đắp tương xứng với những thiệt hại mà người bị tạm giam, tạm giữ đã phải gánh chịu.

Tuy nhiên, trong thực tiễn khi người của CQĐT gây thiệt hại cho người tạm giam, tạm giữ, không phải thiệt hại nào cũng được bồi thường tương xứng đối với từng thời điểm xảy ra thiệt hại, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích của người bị tạm giam, tạm giữ.

Thứ tư, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại. Đây là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của hành vi). Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 (Điều 6) và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 (Điều 7) đều cho rằng phải có nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại. Nhưng không có quy định về quan hệ nhân quả là gì. Trong pháp luật dân sự, có định nghĩa nhân quả như sau: “Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại”. (Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao).

Vì vậy, theo quy định, người bị tạm giam, tạm giữ muốn được Nhà nước bồi thường thì phải có hành vi gây thiệt hại của CQĐT và thiệt hại (vật chất, tinh thần) của người bị tạm giam, tạm giữ. Trong thực tế, người bị tạm giam, tạm giữ có thể có rất nhiều thiệt hại và có một hay một số thiệt hại có quan hệ nhân quả với hành vi trái pháp luật của CQĐT mới được bồi thường, thiệt hại không có mối quan hệ nhân quả với hành vi của người thuộc CQĐT thì không được bồi thường. Ví dụ như: Bà Minh bị Công an huyện Ia Grai đã khởi tố bị can về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và bị bắt tạm giam. Sau đó, bà Minh được minh oan và được bồi thường như mất giảm thu nhập trong thời gian bị giam giữ, tổn thất tinh thần. Tuy nhiên, đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất do mất sức lao động 75% sau khi bị giam giữ, tạm giam thì Tòa án cho rằng đây là do bệnh lý. Từ đó “không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu bồi thường cho bà Minh”[14].

Với vụ việc thực tiễn nêu trên, có thể thấy, một người bị tạm giam, tạm giữ có nhiều thiệt hại và Tòa án đã xác định có một hay một số thiệt hại có quan hệ nhân quả với hành vi trái pháp luật mới được bồi thường, thiệt hại không có mối quan hệ nhân quả với hành vi của người thi hành công vụ thì không được bồi thường. Hướng giải quyết của Tòa án tại bản án nêu trên là thuyết phục.

2. Bất cập, khó khăn về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 ra đời đã từng bước hoàn thiện Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 về căn cứ xác định TNBTCNN. Tuy nhiên, khi vận dụng vào thực tiễn, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 vẫn còn một số khó khăn, bất cập nhất định, đó là:

Một là, về văn bản: Một trong những điều kiện quan trọng để người bị tạm giam, tạm giữ thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường là phải có văn bản của CQĐT là trái pháp luật. Với việc quy định này, nhằm đảm bảo cơ chế công bằng, khách quan trong việc xác định hành vi của CQĐT có vi phạm hay không vi phạm, có gây thiệt hại hay không gây thiệt hại đối với người tạm giam tạm giữ. Bên cạnh đó, việc quy định cũng sẽ gây cản trở, khó khăn cho người bị tạm giam, tạm giữ nếu như CQĐT chậm ban hành hoặc không ban hành văn bản xác định hành vi của người thuộc CQĐT là trái pháp luật.

Mặt khác, mặc dù khi CQĐT cũng đã ban hành quyết định đình chỉ điều tra bị can, đình chỉ điều tra vụ án, nhưng do quy định của pháp luật bồi thường nhà nước không rõ ràng dẫn đến các cơ quan xét xử áp dụng pháp luật khác nhau dẫn đến thiệt hại cho người bị tạm giam, tạm giữ. Ví dụ như ông Thêm bị Công an huyện Hồng Ngự tạm giam, tạm giữ oan. Sau đó, Công an huyện Hồng Ngự ra quyết định đình chỉ điều tra bị can đối với ông Thêm. Ông Thêm khởi kiện công an huyện Hồng Ngự ra Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đã ra quyết định đình chỉ giải quyết với lý do là trong hồ sơ khởi kiện của ông Thêm chưa có văn bản nào của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật nên chưa đủ điều kiện khởi kiện[15].

Quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu là không thuyết phục. Thực ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can nêu trên cũng là một dạng “văn bản” theo yêu cầu của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Nên việc Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu từ chối với lý do vừa nêu làm ảnh hưởng đến quyền yêu cầu bồi thường của ông Thêm, từ đó, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang (phúc thẩm) đã cho rằng “Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu đình chỉ giải quyết vụ án là không đúng”[16].

Với hai quyết định và vụ việc cụ thể nêu trên, cho thấy sự không rõ ràng của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 trong việc quy định văn bản nào là “văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật” và “văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 18”. “Văn bản” ở đây có phải là các quyết định của CQĐT, Viện kiểm sát, hay là của cơ quan xét xử? Với sự chưa quy định cụ thể này, đã gây rất nhiều khó khăn cho người bị thiệt hại trong việc yêu cầu các cơ quan nhà nước bồi thường.

Hai là, bất cập về chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 yêu cầu bị thiệt hại phải “chứng minh những thiệt hại thực tế của mình được bồi thường”[17]. Đây là một quy định rất khó khăn trong thực tế khi thi hành Luật, đặc biệt là đối với người bị tạm giam, tạm giữ khi được trả tự do, bởi trong mối quan hệ bồi thường này là quan hệ bất bình đẳng giữa một bên là Nhà nước và một bên là cá nhân bị thiệt hại. Bên cạnh đó, khi người tạm giam, tạm giữ khi trả tự do, họ không có công cụ gì trong tay mà chứng minh là có thiệt hại thực tế xảy ra.

3. Một số kiến nghị, hoàn thiện về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Thứ nhất, về vấn đề văn bản: Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tạm giam, tạm giữ trong việc thực hiện yêu cầu bồi thường của mình. Thiết nghĩ, các cơ quan nhà nước cần hướng dẫn, quy định rõ văn bản nào mới gọi là văn bản của CQĐT xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật, chẳng hạn như: Quy định rõ quyết định đình chỉ điều tra vụ án, quyết định đình chỉ điều tra bị can, Quyết định trả tự do cho người tạm giam, tạm giữ. Bên cạnh đó, để tránh tình trạng “ngâm” hồ sơ, Nhà nước cũng cần quy định rõ thời gian bao nhiêu ngày kể từ khi nhận đơn, thì CQĐT phải ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và quy định chế tài cụ thể nếu chậm trễ ban hành văn bản này.

Về mối quan hệ nhân quả: Với việc phân tích mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế của người bị tạm giam, tạm giữ và hành vi gây thiệt hại của CQĐT gây ra. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện nay chưa quy định cụ thể nên tác giả kiến nghị có thể khai thác tương tự như trong pháp luật dân sự (Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP). Theo đó: “Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại”.

Thứ hai, về chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra: Tác giả kiến nghị bỏ điểm c khoản 2 Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017. Bởi vì người tạm giam, tạm giữ khi được trả tự do có nghĩa vụ “cung cấp kịp thời, chính xác, trung thực tài liệu, chứng cứ có liên quan đến yêu cầu bồi thường và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của mình” (điểm a khoản 2 Điều 13) đã là hết sức khó khăn cho người tạm giam, tạm giữ. Vấn đề chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra của người tạm giam, tạm giữ nên giao lại cho cơ quan giải quyết bồi thường (ở đây là CQĐT) hoặc là Tòa án (nếu Tòa án thụ lý theo thủ tục TTHS) sẽ là hợp lý hơn.

Có thể khẳng định, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 ra đời đã thể hiện tính ưu việt so với các văn bản pháp luật về TNBTCNN trước đó. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, người bị thiệt hại vẫn gặp khó khăn trong quá trình thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường cho mình, đặc biệt là trong vấn đề tạm giam, tạm giữ. Các quy định cụ thể về căn cứ xác định TNBTTHCNN theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 chưa mang tính khái quát, rõ ràng và chưa đồng nhất khiến cho người bị tạm giam, tạm giữ khó thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình mặc dù trên thực tế họ phải gánh chịu thiệt hại từ hành vi trái pháp luật do người của CQĐT gây ra./.

ThS. Nguyễn Đức Anh
Phòng Tư pháp huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận

[1] Xem thêm: Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) (2014), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm pháp lý của Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan nhà nước ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 19-182.

[2] Xem thêm: Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[3] Xem thêm: Khoản 1 Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017.

[4] Xem thêm: Khoản 2 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017.

[5] Xem thêm: Khoản 2 Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Xem thêm: Khoản 1 Điều 113 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[7] Xem thêm: Điều 51 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

[8] Xem thêm: Khoản 1Điều 57 Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự năm 2015.

[9] Xem thêm: Khoản 4 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

[10] Xem thêm: Điều 48 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[11]Xem thêm: Khoản 2 Điều 18 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

[12] Xem thêm: Khoản 1, khoản 2 Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[13] Xem thêm: Điểm b khoản 1 Điều 41 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017.

[14] Xem thêm Bản án số 180/2014/DSPT, ngày 27/8/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

[15] Xem thêm: Quyết định số 68/2012/QĐST-DS, ngày 17/7/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

[16] Xem thêm: Quyết định số 56/2013/QĐ-PT, ngày 8/3/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.

[17] Xem thêm Quyết định số 68/2012/QĐST-DS, ngày 17/7/2012 của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.

Theo dõi chúng tôi trên: