Chủ nhật 18/01/2026 20:53
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp hiện nay

Nhiệm vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua mạng trực tuyến được thực hiện trong bối cảnh công cuộc cải cách hành chính ở nước ta đang được quan tâm, đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực, đồng thời thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử đối với nhiệm vụ “xây dựng hệ thống và hướng dẫn thực hiện qua mạng điện tử trên toàn quốc đối với việc cấp lý lịch tư pháp, thực hiện xong trước ngày 01/01/2016”, đáp ứng nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân ngày càng tăng cao về số lượng, đa dạng về mục đích.


1. Tình hình thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4

Theo Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các bộ, ngành, địa phương thực hiện trong các năm 2018 - 2019 (Quyết định số 877/QĐ-TTg), Sở Tư pháp có nhiệm vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trong các năm 2018 - 2019. Căn cứ Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước (Nghị định số 43/2011/NĐ-CP) và Thông tư số 32/2017/TT-BTTT ngày 15/11/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

(i) Đáp ứng các yêu cầu của dịch vụ công trực tuyến mức độ 2;

(ii) Các biểu mẫu của dịch vụ được cung cấp đầy đủ dưới dạng biểu mẫu điện tử tương tác để người sử dụng thực hiện được việc khai báo thông tin, cung cấp các tài liệu liên quan (nếu có) dưới dạng điện tử đính kèm và gửi hồ sơ trực tuyến tới cơ quan cung cấp dịch vụ;

(iii) Hồ sơ hành chính điện tử được sắp xếp, tổ chức, lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của ứng dụng dịch vụ công trực tuyến để bảo đảm khả năng xử lý, tra cứu, thống kê, tổng hợp, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu của hệ thống ứng dụng liên quan;

(iv) Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng;

(v) Việc thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan cung cấp dịch vụ hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Như vậy, đối với dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, người dân không cần phải đến cơ quan hành chính nhà nước mà vẫn được cung cấp dịch vụ đầy đủ và hiệu quả.

Hiện nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đang thực hiện cung cấp dịch vụ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua mạng trực tuyến theo Quyết định số 19/QĐ-TTg ngày 08/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến” (Đề án 19).

Theo Đề án 19, cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể lựa chọn một trong hai cách thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến như sau:

(i) Đăng ký tờ khai trực tuyến, trực tiếp nộp hồ sơ tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu và đăng ký nhận Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính;

(ii) Đăng ký tờ khai trực tuyến, gửi trực tuyến hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và trực tiếp nhận Phiếu lý lịch tư pháp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu.

Qua 03 năm triển khai thực hiện Đề án 19, ngoài Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, đã có 60 Sở Tư pháp triển khai Phân hệ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến do Bộ Tư pháp xây dựng, trong đó, 40 Sở Tư pháp đã triển khai tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, các Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang và tỉnh Khánh Hòa đã triển khai cho phép người dân nộp phí thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng. Tính đến ngày 31/10/2017, có 62.719 trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến với 59.730 trường hợp được tiếp nhận và xử lý, trong đó: (i) 54.959 trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp và nhận Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, chiếm 87,62% tổng số trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo Đề án 19 của cả nước; (ii) 4.771 trường hợp gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu, chiếm 7,60% tổng số trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo Đề án 19 của cả nước.

Đồng thời, cá nhân có thể lựa chọn gửi phương thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến kết hợp cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, theo đó, sau khi đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, cá nhân gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính và nhận kết quả qua bưu chính. Việc đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến được thực hiện trên trang Dịch vụ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp). Đến nay, đã có 57 Sở Tư pháp triển khai tích hợp đăng ký trực tuyến với dịch vụ nhận hồ sơ và Phiếu lý lịch tư pháp thông qua dịch vụ bưu chính. Trong đó, 47 Sở Tư pháp tích hợp dịch vụ bưu chính của Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam, 13 Sở Tư pháp tích hợp dịch vụ bưu chính của Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel, 03 Sở Tư pháp tích hợp dịch vụ bưu chính của cả hai tổng công ty, bao gồm: (i) 18.509 trường hợp đăng ký Tờ khai trực tuyến, gửi hồ sơ yêu cầu và nhận Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính; (ii) 1.762 trường hợp đăng ký tờ khai trực tuyến, gửi hồ sơ yêu cầu qua dịch vụ bưu chính và nhận Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu; (iii) 1.658 trường hợp đăng ký tờ khai trực tuyến, nộp hồ sơ yêu cầu và nhận Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu.

Hiện nay, cá nhân có thể lựa chọn phương thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến kết hợp với đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp phần nào giúp tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí đi lại của người dân, đặc biệt là đối với những người dân ở các địa phương ở cách xa trung tâm tỉnh hoặc đang ở nước ngoài, qua đó, tạo ra sự thuận lợi cho người có yêu cầu cấp Phiếu khi thực hiện các thủ tục hành chính, góp phần cắt giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính. Đặc biệt là đối với người nước ngoài đã cư trú ở Việt Nam và công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài không phải vất vả về Việt Nam xin Phiếu lý lịch tư pháp.

2. Một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện triển khai Đề án 19

Thứ nhất, theo Đề án 19, cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thực hiện quét (scan) các giấy tờ kèm theo và gửi trực tuyến cùng với tờ khai. Bản scan các giấy tờ gửi trực tuyến phải bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật, độ chính xác cao, trong đó: Tiêu chuẩn quét đối với giấy chứng minh nhân dân phải bảo đảm tỷ lệ 1/1, quét ở chế độ ảnh (photo), độ phân giải 500 DPI, tiêu chuẩn quét đối với các văn bản kèm theo sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú, tạm trú được quét ở độ phân giải 200 PDI. Tuy nhiên, do trình độ dân trí và điều kiện kinh tế, xã hội tại nhiều địa phương còn chưa cao nên việc sử dụng các thiết bị kỹ thuật để scan và gửi trực tuyến hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quy định tại Đề án 19 khó thực hiện với một bộ phận lớn người dân nên nhiều trường hợp, cá nhân gửi trực tuyến hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu nhưng bản scan mờ, độ phân giải thấp nên cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp không thể tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp về án tích theo quy trình, nghiệp vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ hai, phương thức người dân gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả trực tiếp tại Sở Tư pháp chưa có ưu điểm nổi trội so với những cách thức nộp hồ sơ khác nên tỷ lệ hồ sơ phát sinh còn hạn chế. Đồng thời, khi lựa chọn phương thức nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng, người dân vẫn phải đến Sở Tư pháp để đối chiếu hồ sơ gốc và nhận kết quả. Trường hợp lựa chọn phương án cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính thì cách thức thực hiện đơn giản và chắc chắn hơn.

Thứ ba, việc nộp lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp thông qua hình thức chuyển khoản khó thực hiện với hầu hết các Sở Tư pháp vì đây là công việc chuyên môn do bộ phận kế toán của Sở Tư pháp thực hiện. Hơn nữa, để biết cá nhân đã nộp lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp, kế toán của Sở Tư pháp phải theo dõi và thường xuyên phải đến Kho bạc Nhà nước để nhận thông báo chuyển tiền phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ tư, thực tế phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo Đề án 19 đã đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 theo quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP, theo đó, cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả trực tiếp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp. Riêng đối với trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính, do đặc thù trong lĩnh vực lý lịch tư pháp với nguyên tắc bảo đảm bí mật đời tư cá nhân công dân, để đảm bảo tính xác thực người nộp hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp cũng như tính xác thực của hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Đề án 19 đã đưa ra quy định sau khi triển khai trực tuyến yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Đồng thời, để tạo thuận lợi cho người có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cá nhân có thể sử dụng phương thức kết hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua mạng trực tuyến, sau đó nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu qua dịch vụ bưu chính và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính.

3. Để việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp hiện nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia tham mưu Lãnh đạo Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện thí điểm phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, trên cơ sở đó tạo tiền đề để thực hiện Quyết định số 877/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

- Tuyên truyền sâu rộng và đa dạng hình thức, nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân về dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trong lĩnh vực lý lịch tư pháp.

- Nâng cấp, chỉnh sửa phần mềm đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, bảo đảm kết nối các tính năng cơ bản (tra cứu hồ sơ, khai trực tuyến, tiếp nhận hồ sơ trực tuyến...) của phần mềm dùng chung với Trang dịch vụ công trực tuyến của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Nâng cấp, cập nhật các tính năng của Trang thông tin đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến (https://lltptructuyen.moj.gov.vn) để đảm bảo các điều kiện kỹ thuật cần thiết, thuận lợi cho việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Mở rộng chức năng khai trực tuyến tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến trên tất cả các dòng điện thoại smartphone.

Nguyễn Hồng Linh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: