Thứ hai 24/08/2026 14:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp hiện nay

Nhiệm vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua mạng trực tuyến được thực hiện trong bối cảnh công cuộc cải cách hành chính ở nước ta đang được quan tâm, đẩy mạnh trên nhiều lĩnh vực, đồng thời thực hiện Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử đối với nhiệm vụ “xây dựng hệ thống và hướng dẫn thực hiện qua mạng điện tử trên toàn quốc đối với việc cấp lý lịch tư pháp, thực hiện xong trước ngày 01/01/2016”, đáp ứng nhu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp của cá nhân ngày càng tăng cao về số lượng, đa dạng về mục đích.


1. Tình hình thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4

Theo Quyết định số 877/QĐ-TTg ngày 18/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh mục dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 để các bộ, ngành, địa phương thực hiện trong các năm 2018 - 2019 (Quyết định số 877/QĐ-TTg), Sở Tư pháp có nhiệm vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trong các năm 2018 - 2019. Căn cứ Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước (Nghị định số 43/2011/NĐ-CP) và Thông tư số 32/2017/TT-BTTT ngày 15/11/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến và bảo đảm khả năng truy cập thuận tiện đối với trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau:

(i) Đáp ứng các yêu cầu của dịch vụ công trực tuyến mức độ 2;

(ii) Các biểu mẫu của dịch vụ được cung cấp đầy đủ dưới dạng biểu mẫu điện tử tương tác để người sử dụng thực hiện được việc khai báo thông tin, cung cấp các tài liệu liên quan (nếu có) dưới dạng điện tử đính kèm và gửi hồ sơ trực tuyến tới cơ quan cung cấp dịch vụ;

(iii) Hồ sơ hành chính điện tử được sắp xếp, tổ chức, lưu trữ trong cơ sở dữ liệu của ứng dụng dịch vụ công trực tuyến để bảo đảm khả năng xử lý, tra cứu, thống kê, tổng hợp, kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu của hệ thống ứng dụng liên quan;

(iv) Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng;

(v) Việc thanh toán phí, lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan cung cấp dịch vụ hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Như vậy, đối với dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, người dân không cần phải đến cơ quan hành chính nhà nước mà vẫn được cung cấp dịch vụ đầy đủ và hiệu quả.

Hiện nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đang thực hiện cung cấp dịch vụ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua mạng trực tuyến theo Quyết định số 19/QĐ-TTg ngày 08/01/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án thí điểm cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến” (Đề án 19).

Theo Đề án 19, cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể lựa chọn một trong hai cách thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến như sau:

(i) Đăng ký tờ khai trực tuyến, trực tiếp nộp hồ sơ tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu và đăng ký nhận Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính;

(ii) Đăng ký tờ khai trực tuyến, gửi trực tuyến hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp và trực tiếp nhận Phiếu lý lịch tư pháp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu.

Qua 03 năm triển khai thực hiện Đề án 19, ngoài Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, đã có 60 Sở Tư pháp triển khai Phân hệ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến do Bộ Tư pháp xây dựng, trong đó, 40 Sở Tư pháp đã triển khai tiếp nhận hồ sơ trực tuyến, các Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang và tỉnh Khánh Hòa đã triển khai cho phép người dân nộp phí thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng. Tính đến ngày 31/10/2017, có 62.719 trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến với 59.730 trường hợp được tiếp nhận và xử lý, trong đó: (i) 54.959 trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp và nhận Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, chiếm 87,62% tổng số trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo Đề án 19 của cả nước; (ii) 4.771 trường hợp gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu, chiếm 7,60% tổng số trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo Đề án 19 của cả nước.

Đồng thời, cá nhân có thể lựa chọn gửi phương thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến kết hợp cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, theo đó, sau khi đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, cá nhân gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính và nhận kết quả qua bưu chính. Việc đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến được thực hiện trên trang Dịch vụ đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến của cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp). Đến nay, đã có 57 Sở Tư pháp triển khai tích hợp đăng ký trực tuyến với dịch vụ nhận hồ sơ và Phiếu lý lịch tư pháp thông qua dịch vụ bưu chính. Trong đó, 47 Sở Tư pháp tích hợp dịch vụ bưu chính của Tổng Công ty Bưu điện Việt Nam, 13 Sở Tư pháp tích hợp dịch vụ bưu chính của Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel, 03 Sở Tư pháp tích hợp dịch vụ bưu chính của cả hai tổng công ty, bao gồm: (i) 18.509 trường hợp đăng ký Tờ khai trực tuyến, gửi hồ sơ yêu cầu và nhận Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính; (ii) 1.762 trường hợp đăng ký tờ khai trực tuyến, gửi hồ sơ yêu cầu qua dịch vụ bưu chính và nhận Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu; (iii) 1.658 trường hợp đăng ký tờ khai trực tuyến, nộp hồ sơ yêu cầu và nhận Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp tại trụ sở cơ quan cấp Phiếu.

Hiện nay, cá nhân có thể lựa chọn phương thức đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến kết hợp với đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp phần nào giúp tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí đi lại của người dân, đặc biệt là đối với những người dân ở các địa phương ở cách xa trung tâm tỉnh hoặc đang ở nước ngoài, qua đó, tạo ra sự thuận lợi cho người có yêu cầu cấp Phiếu khi thực hiện các thủ tục hành chính, góp phần cắt giảm chi phí thực hiện thủ tục hành chính. Đặc biệt là đối với người nước ngoài đã cư trú ở Việt Nam và công dân Việt Nam đang cư trú ở nước ngoài không phải vất vả về Việt Nam xin Phiếu lý lịch tư pháp.

2. Một số vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện triển khai Đề án 19

Thứ nhất, theo Đề án 19, cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp thực hiện quét (scan) các giấy tờ kèm theo và gửi trực tuyến cùng với tờ khai. Bản scan các giấy tờ gửi trực tuyến phải bảo đảm yêu cầu về kỹ thuật, độ chính xác cao, trong đó: Tiêu chuẩn quét đối với giấy chứng minh nhân dân phải bảo đảm tỷ lệ 1/1, quét ở chế độ ảnh (photo), độ phân giải 500 DPI, tiêu chuẩn quét đối với các văn bản kèm theo sổ hộ khẩu hoặc giấy chứng nhận thường trú, tạm trú được quét ở độ phân giải 200 PDI. Tuy nhiên, do trình độ dân trí và điều kiện kinh tế, xã hội tại nhiều địa phương còn chưa cao nên việc sử dụng các thiết bị kỹ thuật để scan và gửi trực tuyến hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật quy định tại Đề án 19 khó thực hiện với một bộ phận lớn người dân nên nhiều trường hợp, cá nhân gửi trực tuyến hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu nhưng bản scan mờ, độ phân giải thấp nên cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu lý lịch tư pháp không thể tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp về án tích theo quy trình, nghiệp vụ cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ hai, phương thức người dân gửi hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả trực tiếp tại Sở Tư pháp chưa có ưu điểm nổi trội so với những cách thức nộp hồ sơ khác nên tỷ lệ hồ sơ phát sinh còn hạn chế. Đồng thời, khi lựa chọn phương thức nộp hồ sơ trực tuyến qua mạng, người dân vẫn phải đến Sở Tư pháp để đối chiếu hồ sơ gốc và nhận kết quả. Trường hợp lựa chọn phương án cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính thì cách thức thực hiện đơn giản và chắc chắn hơn.

Thứ ba, việc nộp lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp thông qua hình thức chuyển khoản khó thực hiện với hầu hết các Sở Tư pháp vì đây là công việc chuyên môn do bộ phận kế toán của Sở Tư pháp thực hiện. Hơn nữa, để biết cá nhân đã nộp lệ phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp, kế toán của Sở Tư pháp phải theo dõi và thường xuyên phải đến Kho bạc Nhà nước để nhận thông báo chuyển tiền phí cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Thứ tư, thực tế phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến theo Đề án 19 đã đáp ứng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 theo quy định tại Nghị định số 43/2011/NĐ-CP, theo đó, cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp có thể nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả trực tiếp tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp. Riêng đối với trường hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính, do đặc thù trong lĩnh vực lý lịch tư pháp với nguyên tắc bảo đảm bí mật đời tư cá nhân công dân, để đảm bảo tính xác thực người nộp hồ sơ cấp Phiếu lý lịch tư pháp cũng như tính xác thực của hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, Đề án 19 đã đưa ra quy định sau khi triển khai trực tuyến yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cá nhân nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tiếp và nhận kết quả cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính. Đồng thời, để tạo thuận lợi cho người có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cá nhân có thể sử dụng phương thức kết hợp đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua mạng trực tuyến, sau đó nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu qua dịch vụ bưu chính và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính.

3. Để việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp đáp ứng dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3, 4 tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp hiện nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia tham mưu Lãnh đạo Bộ Tư pháp trình Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện thí điểm phương thức cấp Phiếu lý lịch tư pháp qua dịch vụ bưu chính, đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, trên cơ sở đó tạo tiền đề để thực hiện Quyết định số 877/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

- Tuyên truyền sâu rộng và đa dạng hình thức, nâng cao nhận thức, hiểu biết của người dân về dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 trong lĩnh vực lý lịch tư pháp.

- Nâng cấp, chỉnh sửa phần mềm đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến, bảo đảm kết nối các tính năng cơ bản (tra cứu hồ sơ, khai trực tuyến, tiếp nhận hồ sơ trực tuyến...) của phần mềm dùng chung với Trang dịch vụ công trực tuyến của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Nâng cấp, cập nhật các tính năng của Trang thông tin đăng ký cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến (https://lltptructuyen.moj.gov.vn) để đảm bảo các điều kiện kỹ thuật cần thiết, thuận lợi cho việc tiếp nhận, xử lý hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến. Mở rộng chức năng khai trực tuyến tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp trực tuyến trên tất cả các dòng điện thoại smartphone.

Nguyễn Hồng Linh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: