Thứ năm 27/08/2026 03:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bị hại, người làm chứng, người tố giác tội phạm là những người tham gia tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ án hình sự, vì lời khai của họ là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án.

1. Dẫn nhập
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, bị hại, người làm chứng, người tố giác tội phạm là những người tham gia tố tụng đóng vai trò quan trọng trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ án hình sự, vì lời khai của họ là nguồn chứng cứ quan trọng trong vụ án. Chính vì vậy, họ là những người dễ bị xâm hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản trong quá trình tham gia tố tụng. Hiện nay, ở một số nhóm tội danh xâm hại về tính mạng, sức khỏe, về ma túy, tham nhũng, những đối tượng thực hiện loại tội phạm này rất tinh vi, manh động, sẵn sàng xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của người tố giác tội phạm, người bị hại, người làm chứng khi họ cung cấp thông tin cho cơ quan tố tụng.
Hiến pháp năm 2013 dành riêng Chương II quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chế độ chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1 Điều 14); “mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” (Điều 19); “mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm…” (Điều 20); “nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo…” (Điều 30). Việc quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Chương II ngay sau Chương I - Chế độ chính trị cho thấy quan điểm của Đảng, Nhà nước đánh giá tầm quan trọng về quyền con người cần được pháp luật bảo vệ.
Trên cơ sở đánh giá thực tiễn thực hiện Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 về cơ chế bảo vệ người tham gia tố tụng và bảo vệ quyền con người, để bảo vệ người tham gia tố tụng khỏi sự xâm hại hoặc đe dọa xâm hại do họ tham gia tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự) đã chính thức ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác.
2. Nội dung của chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác
Thứ nhất, đối tượng được bảo vệ:
Theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự thì những chủ thể sau được áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại (Điều 484).
Thứ hai, căn cứ đề nghị, yêu cầu áp dụng các biện pháp bảo vệ:
Khi tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố giác tội phạm; người làm chứng; bị hại; người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại bị xâm hại hoặc bị đe dọa xâm hại thì họ có quyền yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ. Hình thức đề nghị yêu cầu bảo vệ có thể làm văn bản đề nghị hoặc trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ trực tiếp đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ hoặc thông qua phương tiện thông tin liên lạc nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản đề nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (khoản 1 Điều 487).
Khi nhận được đề nghị yêu cầu bảo vệ, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải đánh giá, xem xét yêu cầu của họ có tính xác thực và có căn cứ hay không, nếu xét thấy yêu cầu của họ không cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải giải thích rõ lý do cho người đã yêu cầu, đề nghị biết.
Thứ ba, các biện pháp bảo vệ:
Các biện pháp bảo vệ được quy định tại khoản 1 Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự bao gồm:
- Bố trí lực lượng, tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ và các phương tiện khác để canh gác, bảo vệ;
- Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ;
- Giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ;
- Di chuyển, giữ bí mật chỗ ở, nơi làm việc, học tập; thay đổi tung tích, lý lịch, đặc điểm nhân dạng của người được bảo vệ, nếu được họ đồng ý;
- Răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật;
- Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, cơ quan, người có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ:
- Cơ quan có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ gồm: Cơ quan điều tra của Công an nhân dân; Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân.
- Người có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm:
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra của Công an nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ đối với người được bảo vệ trong các vụ việc, vụ án hình sự do cơ quan mình thụ lý, giải quyết, điều tra hoặc theo đề nghị của Viện kiểm sát quân sự, Tòa án quân sự cùng cấp; đề nghị của Viện kiểm sát quân sự trung ương.
Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ của Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án các cấp. Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân xét thấy cần thiết áp dụng biện pháp bảo vệ thì có văn bản đề nghị cơ quan điều tra trực tiếp thụ lý vụ án trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ (khoản 3 Điều 485 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Thứ năm, quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ:
- Quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ gồm các nội dung chính: Số, ngày, tháng, năm; địa điểm ra quyết định; chức vụ của người ra quyết định; căn cứ ra quyết định; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú của người được bảo vệ; biện pháp bảo vệ và thời gian bắt đầu thực hiện biện pháp bảo vệ.
- Cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết (Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Thứ sáu, chấm dứt việc bảo vệ:
Khi xét thấy căn cứ xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ không còn, Thủ trưởng Cơ quan điều tra đã quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ phải ra quyết định chấm dứt áp dụng biện pháp bảo vệ.
Quyết định chấm dứt áp dụng các biện pháp bảo vệ phải được gửi cho người được bảo vệ, cơ quan đã đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan đến việc bảo vệ (khoản 4 Điều 489 Bộ luật Tố tụng hình sự).
Thứ bảy, hồ sơ bảo vệ:
Khi cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ thì phải lập hồ sơ bảo vệ riêng thể hiện quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ. Hồ sơ bảo vệ gồm:
- Văn bản đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ; biên bản về việc đề nghị, yêu cầu áp dụng biện pháp bảo vệ;
- Kết quả xác minh về hành vi xâm hại hoặc đe dọa xâm hại tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ;
- Tài liệu về hậu quả thiệt hại đã xảy ra (nếu có) và việc xử lý của cơ quan có thẩm quyền;
- Văn bản yêu cầu, đề nghị thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
- Quyết định áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp bảo vệ;
- Tài liệu phản ánh diễn biến quá trình áp dụng biện pháp bảo vệ;
- Văn bản yêu cầu, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp bảo vệ;
- Báo cáo kết quả thực hiện biện pháp bảo vệ;
- Quyết định chấm dứt biện pháp bảo vệ;
- Các văn bản, tài liệu khác có liên quan đến việc bảo vệ (khoản 2 Điều 490 Bộ luật Tố tụng hình sự).
2. Một số khó khăn, vướng mắc
Một là, về kỹ thuật lập pháp: Theo quy định tại Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự thì chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác có chủ thể được bảo vệ là người tham gia tố tụng nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chủ thể được bảo vệ bao gồm cả người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại. Trong khi đó, theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Tố tụng hình sự thì người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại không phải là người tham gia tố tụng, chính điều này không bảo đảm sự đồng bộ giữa tên chương với đối tượng được bảo vệ theo quy định tại Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hai là, Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự giới hạn các chủ thể được áp dụng biện pháp bảo vệ bao gồm: Người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại, người thân thích của người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại… Nghiên cứu quy định này có một số khó khăn, vướng mắc sau:
- Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định: “Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”. Như vậy, bị hại không chỉ là cá nhân mà còn có cả pháp nhân, tuy nhiên, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân bị thiệt hại khi bị đe dọa xâm hại đến tính mạng yêu cầu được bảo vệ thì không áp dụng được vì căn cứ áp dụng biện pháp bảo vệ được quy định tại khoản 1 Điều 486 Bộ luật Tố tụng hình sự như sau: “Khi có căn cứ xác định tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người được bảo vệ bị xâm hại...”.
- Theo quy định tại khoản 3 Điều 67, khoản 2 Điều 70 Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền của người chứng kiến, người phiên dịch và người dịch thuật thì những chủ thể này cũng có quyền được đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa nhưng theo nội dung Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự thì họ lại không nằm trong nhóm chủ thể được áp dụng các biện pháp bảo vệ, trong khi đó tên Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự xác định phạm vi áp dụng bao gồm người tham gia tố tụng khác.
- Về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp bảo vệ, Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự mới chỉ quy định chung về thẩm quyền, biện pháp áp dụng biện pháp bảo vệ mà chưa có những hướng dẫn cụ thể về quy trình áp dụng như thế nào dẫn đến khó khăn khi áp dụng trên thực tiễn, cụ thể, Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định về thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, vậy vấn đề đặt ra là, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra sẽ huy động lực lượng nào để áp dụng các biện pháp bảo vệ, vì hiện nay ở một số địa phương điều tra viên và cán bộ điều tra còn chưa đủ để áp dụng biện pháp bảo vệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Ba là, về phạm vi chủ thể có quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ, theo quy định tại Điều 487 Bộ luật Tố tụng hình sự thì chỉ người được bảo vệ mới có quyền làm văn bản đề nghị, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ, vậy, trường hợp người dưới 18 tuổi thì người đại diện theo pháp luật của họ có quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ hay không? Trong khi đó, họ cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trong việc bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ trong quá trình tiến hành lấy lời khai hoặc đề nghị khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại.
Bốn là, một số nội dung khác trong Chương XXXIV Bộ luật Tố tụng hình sự còn vướng mắc khi áp dụng như một số từ ngữ chưa có giải thích như các biện pháp bảo vệ khác được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 486 là những biện pháp nào hoặc khoản 4 Điều 488 quy định cơ quan điều tra đã ra quyết định áp dụng có thể thay đổi, bổ sung biện pháp bảo vệ trong quá trình bảo vệ nếu xét thấy cần thiết hoặc thời hạn kiểm tra căn cứ, tính xác thực của đề nghị, yêu cầu bảo vệ trước khi ra quyết định bảo vệ là bao lâu hiện nay chưa có quy định cụ thể.
3. Kiến nghị, đề xuất
Thứ nhất, bổ sung diện những người cần được áp dụng biện pháp bảo vệ quy định tại khoản 1 Điều 484 Bộ luật Tố tụng hình sự để bảo đảm tính lôgíc chặt chẽ về hình thức và nội dung trong Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể như sau:
“Điều 484. Người được bảo vệ
1. Những người được bảo vệ gồm:
a) Người tố giác tội phạm;
b) Người làm chứng;
c) Bị hại;
d) Người thân thích của người tố giác, báo tin về tội phạm, người làm chứng, bị hại, người chứng kiến, người phiên dịch, người dịch thuật;
đ) Người chứng kiến;
e) Người phiên dịch, người dịch thuật.
2…”.
Thứ hai, liên ngành tư pháp trung ương cần nghiên cứu xây dựng thông tư hướng dẫn áp dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, thông tư cần tập trung hướng dẫn những vấn đề cụ thể về các biện pháp bảo vệ: Trình tự, thủ tục áp dụng, chủ thể có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ và mối quan hệ giữa các chủ thể này khi áp dụng các biện pháp bảo vệ như thế nào. Ngoài ra, trong thông tư cần có quy định thống nhất về thời hạn gửi quyết định áp dụng biện pháp bảo vệ cho người được bảo vệ và hướng dẫn cụ thể các cụm từ mang tính tùy nghi, trừu tượng như “cần thiết” tại Điều 488 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thứ ba, trước khi có văn bản hướng dẫn áp dụng chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra cần chủ động nghiên cứu và phối hợp với Viện kiểm sát trong việc áp dụng một số biện pháp bảo vệ cụ thể như: Hạn chế việc đi lại, tiếp xúc của người được bảo vệ để bảo đảm an toàn cho họ; giữ bí mật và yêu cầu người khác giữ bí mật các thông tin liên quan đến người được bảo vệ; răn đe, cảnh cáo, vô hiệu hóa các hành vi xâm hại người được bảo vệ; ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi xâm hại theo quy định của pháp luật.
Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác đã thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về bảo vệ quyền con người trong quá trình tham gia tố tụng, quy định này làm cho nhân dân tin tưởng, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm có hiệu quả hơn. Đồng thời, xác định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng là cần bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại và người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.

ThS. Nguyễn Tiến Nam
Khoa Luật, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân



Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài (2008), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
3. Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Tập bài giảng luật tố tụng hình sự Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, 2019.
4. Https://tapchitoaan.vn/Bai-Viet/Phap-Luat/Hoan-Thien-Quy-Dinh-Ve-Bao-Ve-Nguoi-To-Giac-Toi-Pham-Nguoi-Lam-Chung-Bi-Hai-Va-Nguoi-Tham-Gia-To-Tung-Khac, truy cập ngày 05/10/2022.
5. Https://luathinhsu.wordpress.com/2010/08/26/hoan-thien-co-so-phap-ly-ve-bao-ve-nguoi-to-giac-nguoi-lam-chung-nguoi-bi-hai-trong-vu-an-hinh-su/, truy cập ngày 05/10/2022.
6. Https://kiemsat.vn/bat-cap-trong-quy-dinh-ve-bao-ve-nguoi-to-giac-toi-pham-nguoi-lam-chung-bi-hai-50481.html, truy cập ngày 05/10/2022.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: