Thứ hai 14/09/2026 18:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định ủy quyền trong thi hành án dân sự và một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện

Bài viết này đi sâu phân tích các nội dung liên quan đến ủy quyền trong thi hành án dân sự và một số vướng mắc trong thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề này.


Theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền và người đại diện chỉ được thực hiện việc đại diện trong phạm vi được ủy quyền.

Quan hệ ủy quyền thường được xác lập bằng văn bản bởi hai hình thức là giấy ủy quyền và hợp đồng ủy quyền. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định[1].

Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền[2]. Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau: (i) Theo thỏa thuận; (ii) Thời hạn ủy quyền đã hết; (iii) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành; (iv) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền; (v) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại; (vi) Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Dân sự; (vii) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được[3].

Vấn đề ủy quyền trong thi hành án dân sự được quy định tại Điều 7, Điều 7a; Điều 44 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); Điều 4, Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP). Ngoài ra, các quy định quan trọng khác liên quan đến đại diện, ủy quyền được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 như Điều 135 về căn cứ xác lập quyền đại diện, Điều 138 về đại diện theo ủy quyền, từ Điều 562 đến Điều 569 quy định về hợp đồng ủy quyền, từ Điều 116 đến Điều 133 quy định về giao dịch dân sự…

Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, ngoài việc áp dụng quy định của pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự, chấp hành viên còn phải áp dụng các quy định của pháp luật chung tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định của pháp luật khác có liên quan, trong trường hợp này là các quy định của pháp luật về ủy quyền. Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm các mối quan hệ giữa các đối tượng, chủ thể được tuyên trong bản án, quyết định mà chấp hành viên sẽ áp dụng tổng thể các quy định của pháp luật thi hành án dân sự cùng với các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan nhằm bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các bên đương sự[4].

1. Ủy quyền của người được thi hành án

Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành[5]. Luật Thi hành án dân sự có quy định khá cụ thể về những trường hợp ủy quyền của người được thi hành án.

Một là, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

Theo điểm h khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Trong quá trình tổ chức thi hành án, có những trường hợp vì nhiều lý do khác nhau như điều kiện sức khỏe không đảm bảo, đường xá xa xôi, việc đi lại gặp khó khăn… người được thi hành án có thể ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Người được ủy quyền có thể là luật sư, trợ giúp viên pháp lý, hoặc bất kỳ người khác có đủ năng lực và điều kiện để thực hiện việc ủy quyền. Phạm vi ủy quyền của người được thi hành án rất rộng, có thể ủy quyền cho người khác thực hiện một phần công việc, có thể thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xác lập văn bản ủy quyền, cũng như các vấn đề pháp lý có liên quan về ủy quyền của người được thi hành án sẽ thực hiện theo quy định tại Chương IX Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan[6].

Hai là,y quyền cho người khác yêu cầu thi hành án

Khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự quy định, người được thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan. Theo đó, bên cạnh cách thức quan trọng là tự mình thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án còn có thể thực hiện quyền yêu cầu thi hành án thông qua việc ủy quyền. Như vậy, đương sự là người được thi hành án, người phải thi hành án có thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu thi hành án hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện quyền yêu cầu thi hành án. Việc yêu cầu thi hành án bởi người được ủy quyền là hợp lệ.

Ba là, ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án

Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (điểm đ khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự). Theo quy định tại khoản 5 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Theo đó, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho luật sư, thừa phát lại hoặc người khác để thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Bốn là, y quyền thực hiện quyền khiếu nại về thi hành án dân sự

Theo quy định tại Điều 140 Luật Thi hành án dân sự, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng, quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện quyền khiếu nại về thi hành án dân sự.

2. Ủy quyền của người phải thi hành án

Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Tương tự như người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án, ủy quyền cho người khác thực hiện việc khiếu nại về thi hành án dân sự… Tuy nhiên, do tính chất “phải thực hiện nghĩa vụ” của người phải thi hành án, phạm vi ủy quyền của người phải thi hành án có những điều kiện và hạn chế nhất định.

Một là, người phải thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự

Tương tự như quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự, đương sự (bao gồm cả người phải thi hành án) tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.

Trong trường hợp người phải thi hành án là phạm nhân có ủy quyền yêu cầu thi hành án khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, khoản 6 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án. Trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp, đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.

Hai là, trường hợp người phải thi hành án ủy quyền khi xuất cảnh

Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và Điều 21 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thì người nước ngoài, người Việt Nam có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây: Đang là bị can, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc đang là bị đơn, người bị kiện, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình; Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý cạnh tranh;… Theo đó, trong trường hợp người phải thi hành án đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, hội đồng xử lý cạnh tranh thì có thể sẽ bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh. Khoản 2 Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định, đối với người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản mà thuộc một trong các trường hợp sau thì có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh:

(i) Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang;

(ii) Đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.

Trường hợp người phải thi hành án ủy quyền cho người thay mặt họ giải quyết việc thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo việc thi hành án cho người được ủy quyền. Trường hợp người phải thi hành án xuất cảnh ra nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện bằng hình thức điện tín, fax, email hoặc hình thức khác nếu họ có yêu cầu và không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự.

3. Một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện

Hiện nay, việc áp dụng các quy định pháp luật về ủy quyền trong thi hành án dân sự trong thực tiễn còn gặp những vướng mắc nhất định.

Một là, Luật Thi hành án dân sự chưa có quy định cụ thể về hình thức ủy quyền trong thi hành án dân sự nên việc thực hiện còn nhiều khó khăn. Khi tiếp nhận các văn bản về ủy quyền của các đương sự, mỗi cơ quan thi hành án dân sự, mỗi chấp hành viên, công chức thi hành án có những nhận thức và cách thực hiện khác nhau. Còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về việc khi nào thì lập giấy ủy quyền và khi nào cần phải lập hợp đồng ủy quyền; thẩm quyền chứng thực giấy ủy quyền, công chứng hợp đồng ủy quyền… Thực tiễn cho thấy, những khó khăn phát sinh đối với hoạt động thi hành án liên quan đến các giao dịch về ủy quyền chủ yếu liên quan đến hình thức pháp lý của giao dịch ủy quyền; vấn đề công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền,…

Để có căn cứ giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và có căn cứ lưu vào hồ sơ thi hành án, trước hết, cần quy định rõ trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành việc ủy quyền về thi hành án phải được thực hiện bằng hình thức văn bản. Đồng thời, cần quy định rõ văn bản ủy quyền được sử dụng trong thi hành án dân sự là loại văn bản nào (giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền), hình thức và cơ quan có thẩm quyền xác nhận văn bản ủy quyền để thống nhất thực hiện.

Hai là, về việc ủy quyền đối với đương sự là phạm nhân, theo Điều 129 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp người được thi hành án là phạm nhân ủy quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của giám thị trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản cho người được ủy quyền. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc thực hiện quy định này khá “nhiêu khê”. Phần lớn phạm nhân có trình độ văn hóa hạn chế, lại bị quản lý rất chặt chẽ, thụ hình tại các trại giam xa với nơi xử án, chưa kể đến việc bị chuyển trại qua nhiều trại giam khác nhau… dẫn đến việc xin xác nhận của trại giam vào đơn xin nhận tài sản hoặc giấy ủy quyền gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian tổ chức thi hành án và gây tồn đọng hồ sơ thi hành án…

Do đó, đa số quan điểm cho rằng, đối với việc ủy quyền xin nhận lại tài sản của phạm nhân cần có phương án đơn giản hơn. Việc xin giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam (khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự) chỉ nên áp dụng đối với trường hợp tài sản có giá trị lớn, đối với các tài sản có giá trị nhỏ (ví dụ, dưới 2.000.000 đồng) hoặc các loại giấy tờ thì không nên áp dụng quy định này. Đối với các trường hợp tài sản có giá trị nhỏ, người thân của phạm nhân có thể xin xác nhận của chính quyền địa phương về nhân thân để thay mặt phạm nhân đến nhận tài sản tại cơ quan thi hành án, điều này cũng sẽ giản tiện bớt thủ tục và tạo thuận lợi cho chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp.

Ba là, về vai trò của luật sư khi nhận ủy quyền thi hành án dân sự. Theo các quy định pháp luật thì luật sư có thể nhận ủy quyền của người được thi hành án, người phải thi hành án để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của đương sự với tư cách là người ủy quyền trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Việc tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho các bên của luật sư trong quá trình tố tụng đã được quy định khá rõ ràng, đầy đủ trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn khác có liên quan, tuy nhiên, pháp luật về thi hành án dân sự lại chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về việc tham gia của luật sư trong giai đoạn thi hành án. Vai trò của luật sư khi nhận ủy quyền thực hiện thay các công việc cụ thể của đương sự có những điểm khác với vai trò của luật sư khi tham gia vào quá trình thi hành án để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Vấn đề đặt ra là, đối với giai đoạn thi hành án, khi nhận ủy quyền của khách hàng thì luật sư được tham gia đến mức độ nào và việc tiếp cận hồ sơ của luật sư đến đâu thì pháp luật lại chưa quy định rõ ràng[7].

Do đó, đề nghị xem xét bổ sung các quy định về sự tham gia của luật sư vào quá trình thi hành án dân sự trong Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động hiệu quả của luật sư khi nhận ủy quyền của khách hàng trong giai đoạn thi hành án.

Từ thực tiễn cho thấy, cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, tạo sự liên kết, dẫn chiếu chặt chẽ lẫn nhau giữa các quy định của pháp luật thi hành án dân sự và các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác như pháp luật dân sự, pháp luật công chứng… để đương sự thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả quyền của mình trong việc ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội


[1] Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Điều 563 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính & Nguyễn Văn Nghĩa, Sách “Bình luận Luật Thi hành án dân sự”, Nxb. Tư pháp, năm 2019, tr. 78.

[5] Điều 3 Luật Thi hành án dân sự.

[6] Điều 135, 138; từ Điều 562 đến Điều 569 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Nguyễn Văn Nghĩa & Hoàng Thị Thanh Hoa, Bàn về vai trò của luật sư trong thi hành án dân sự, xem http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=199, truy cập ngày 14/02/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: