Thứ ba 26/05/2026 05:04
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế định ủy quyền trong thi hành án dân sự và một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện

Bài viết này đi sâu phân tích các nội dung liên quan đến ủy quyền trong thi hành án dân sự và một số vướng mắc trong thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề này.


Theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện. Phạm vi đại diện theo ủy quyền được xác lập theo sự ủy quyền và người đại diện chỉ được thực hiện việc đại diện trong phạm vi được ủy quyền.

Quan hệ ủy quyền thường được xác lập bằng văn bản bởi hai hình thức là giấy ủy quyền và hợp đồng ủy quyền. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định[1].

Thời hạn ủy quyền do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định; nếu không có thỏa thuận và pháp luật không có quy định thì hợp đồng ủy quyền có hiệu lực 01 năm, kể từ ngày xác lập việc ủy quyền[2]. Đại diện theo ủy quyền chấm dứt trong trường hợp sau: (i) Theo thỏa thuận; (ii) Thời hạn ủy quyền đã hết; (iii) Công việc được ủy quyền đã hoàn thành; (iv) Người được đại diện hoặc người đại diện đơn phương chấm dứt thực hiện việc ủy quyền; (v) Người được đại diện, người đại diện là cá nhân chết; người được đại diện, người đại diện là pháp nhân chấm dứt tồn tại; (vi) Người đại diện không còn đủ điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Dân sự; (vii) Căn cứ khác làm cho việc đại diện không thể thực hiện được[3].

Vấn đề ủy quyền trong thi hành án dân sự được quy định tại Điều 7, Điều 7a; Điều 44 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự); Điều 4, Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự (Nghị định số 62/2015/NĐ-CP). Ngoài ra, các quy định quan trọng khác liên quan đến đại diện, ủy quyền được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 như Điều 135 về căn cứ xác lập quyền đại diện, Điều 138 về đại diện theo ủy quyền, từ Điều 562 đến Điều 569 quy định về hợp đồng ủy quyền, từ Điều 116 đến Điều 133 quy định về giao dịch dân sự…

Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, ngoài việc áp dụng quy định của pháp luật chuyên ngành thi hành án dân sự, chấp hành viên còn phải áp dụng các quy định của pháp luật chung tại Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định của pháp luật khác có liên quan, trong trường hợp này là các quy định của pháp luật về ủy quyền. Tùy thuộc vào tính chất, đặc điểm các mối quan hệ giữa các đối tượng, chủ thể được tuyên trong bản án, quyết định mà chấp hành viên sẽ áp dụng tổng thể các quy định của pháp luật thi hành án dân sự cùng với các lĩnh vực pháp luật khác có liên quan nhằm bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các bên đương sự[4].

1. Ủy quyền của người được thi hành án

Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành[5]. Luật Thi hành án dân sự có quy định khá cụ thể về những trường hợp ủy quyền của người được thi hành án.

Một là, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình

Theo điểm h khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Trong quá trình tổ chức thi hành án, có những trường hợp vì nhiều lý do khác nhau như điều kiện sức khỏe không đảm bảo, đường xá xa xôi, việc đi lại gặp khó khăn… người được thi hành án có thể ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Người được ủy quyền có thể là luật sư, trợ giúp viên pháp lý, hoặc bất kỳ người khác có đủ năng lực và điều kiện để thực hiện việc ủy quyền. Phạm vi ủy quyền của người được thi hành án rất rộng, có thể ủy quyền cho người khác thực hiện một phần công việc, có thể thực hiện toàn bộ quyền và nghĩa vụ của mình. Việc xác lập văn bản ủy quyền, cũng như các vấn đề pháp lý có liên quan về ủy quyền của người được thi hành án sẽ thực hiện theo quy định tại Chương IX Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật khác có liên quan[6].

Hai là,y quyền cho người khác yêu cầu thi hành án

Khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự quy định, người được thi hành án tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan. Theo đó, bên cạnh cách thức quan trọng là tự mình thực hiện quyền yêu cầu thi hành án, người được thi hành án, người phải thi hành án còn có thể thực hiện quyền yêu cầu thi hành án thông qua việc ủy quyền. Như vậy, đương sự là người được thi hành án, người phải thi hành án có thể tự mình thực hiện quyền yêu cầu thi hành án hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện quyền yêu cầu thi hành án. Việc yêu cầu thi hành án bởi người được ủy quyền là hợp lệ.

Ba là, ủy quyền xác minh điều kiện thi hành án

Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án (điểm đ khoản 1 Điều 7 Luật Thi hành án dân sự). Theo quy định tại khoản 5 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự. Theo đó, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho luật sư, thừa phát lại hoặc người khác để thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

Bốn là, y quyền thực hiện quyền khiếu nại về thi hành án dân sự

Theo quy định tại Điều 140 Luật Thi hành án dân sự, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại đối với quyết định, hành vi của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên nếu có căn cứ cho rằng, quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Theo đó, người được thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác thực hiện quyền khiếu nại về thi hành án dân sự.

2. Ủy quyền của người phải thi hành án

Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành. Tương tự như người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án, ủy quyền cho người khác thực hiện việc khiếu nại về thi hành án dân sự… Tuy nhiên, do tính chất “phải thực hiện nghĩa vụ” của người phải thi hành án, phạm vi ủy quyền của người phải thi hành án có những điều kiện và hạn chế nhất định.

Một là, người phải thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự

Tương tự như quyền yêu cầu thi hành án của người được thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 31 Luật Thi hành án dân sự, đương sự (bao gồm cả người phải thi hành án) tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.

Trong trường hợp người phải thi hành án là phạm nhân có ủy quyền yêu cầu thi hành án khi hết thời hiệu yêu cầu thi hành án, khoản 6 Điều 4 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định: Trường hợp phạm nhân là người phải thi hành án, thân nhân của họ hoặc người được họ ủy quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện nộp tiền, tài sản thi hành án khi đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự không ra quyết định khôi phục thời hiệu yêu cầu thi hành án. Trường hợp này, cơ quan thi hành án dân sự chỉ ra quyết định thi hành án tương ứng với khoản tiền, tài sản họ tự nguyện nộp, đồng thời lập biên bản ghi rõ lý do, số tiền, tài sản do phạm nhân là người phải thi hành án, người được ủy quyền hoặc thân nhân của họ nộp và thông báo cho người được thi hành án đến nhận.

Hai là, trường hợp người phải thi hành án ủy quyền khi xuất cảnh

Điều 28 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam và Điều 21 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam thì người nước ngoài, người Việt Nam có thể bị tạm hoãn xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây: Đang là bị can, bị cáo, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc đang là bị đơn, người bị kiện, người có nghĩa vụ liên quan trong vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình; Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, quyết định của Hội đồng xử lý cạnh tranh;… Theo đó, trong trường hợp người phải thi hành án đang có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án, hội đồng xử lý cạnh tranh thì có thể sẽ bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh. Khoản 2 Điều 51 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định, đối với người phải thi hành án đang có nghĩa vụ thi hành bản án, quyết định về tiền, tài sản mà thuộc một trong các trường hợp sau thì có thể không bị xem xét tạm hoãn xuất cảnh:

(i) Có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ và đã ủy quyền cho người khác thay mặt họ giải quyết việc thi hành án liên quan đến tài sản đó; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang;

(ii) Đã ủy quyền cho người khác mà người được ủy quyền có đủ tài sản và cam kết thi hành thay nghĩa vụ của người ủy quyền; việc ủy quyền phải có công chứng và không được hủy ngang.

Trường hợp người phải thi hành án ủy quyền cho người thay mặt họ giải quyết việc thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự thông báo việc thi hành án cho người được ủy quyền. Trường hợp người phải thi hành án xuất cảnh ra nước ngoài thì việc thông báo được thực hiện bằng hình thức điện tín, fax, email hoặc hình thức khác nếu họ có yêu cầu và không gây trở ngại cho cơ quan thi hành án dân sự.

3. Một số vấn đề pháp lý cần hoàn thiện

Hiện nay, việc áp dụng các quy định pháp luật về ủy quyền trong thi hành án dân sự trong thực tiễn còn gặp những vướng mắc nhất định.

Một là, Luật Thi hành án dân sự chưa có quy định cụ thể về hình thức ủy quyền trong thi hành án dân sự nên việc thực hiện còn nhiều khó khăn. Khi tiếp nhận các văn bản về ủy quyền của các đương sự, mỗi cơ quan thi hành án dân sự, mỗi chấp hành viên, công chức thi hành án có những nhận thức và cách thực hiện khác nhau. Còn nhiều quan điểm chưa thống nhất về việc khi nào thì lập giấy ủy quyền và khi nào cần phải lập hợp đồng ủy quyền; thẩm quyền chứng thực giấy ủy quyền, công chứng hợp đồng ủy quyền… Thực tiễn cho thấy, những khó khăn phát sinh đối với hoạt động thi hành án liên quan đến các giao dịch về ủy quyền chủ yếu liên quan đến hình thức pháp lý của giao dịch ủy quyền; vấn đề công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền,…

Để có căn cứ giải quyết quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và có căn cứ lưu vào hồ sơ thi hành án, trước hết, cần quy định rõ trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành việc ủy quyền về thi hành án phải được thực hiện bằng hình thức văn bản. Đồng thời, cần quy định rõ văn bản ủy quyền được sử dụng trong thi hành án dân sự là loại văn bản nào (giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền), hình thức và cơ quan có thẩm quyền xác nhận văn bản ủy quyền để thống nhất thực hiện.

Hai là, về việc ủy quyền đối với đương sự là phạm nhân, theo Điều 129 Luật Thi hành án dân sự, trường hợp người được thi hành án là phạm nhân ủy quyền cho người khác nhận tiền, tài sản thì văn bản ủy quyền phải có xác nhận của giám thị trại giam, trại tạm giam. Chấp hành viên trả tiền, tài sản cho người được ủy quyền. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc thực hiện quy định này khá “nhiêu khê”. Phần lớn phạm nhân có trình độ văn hóa hạn chế, lại bị quản lý rất chặt chẽ, thụ hình tại các trại giam xa với nơi xử án, chưa kể đến việc bị chuyển trại qua nhiều trại giam khác nhau… dẫn đến việc xin xác nhận của trại giam vào đơn xin nhận tài sản hoặc giấy ủy quyền gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều thời gian tổ chức thi hành án và gây tồn đọng hồ sơ thi hành án…

Do đó, đa số quan điểm cho rằng, đối với việc ủy quyền xin nhận lại tài sản của phạm nhân cần có phương án đơn giản hơn. Việc xin giấy ủy quyền có xác nhận của trại giam (khoản 1 Điều 129 Luật Thi hành án dân sự) chỉ nên áp dụng đối với trường hợp tài sản có giá trị lớn, đối với các tài sản có giá trị nhỏ (ví dụ, dưới 2.000.000 đồng) hoặc các loại giấy tờ thì không nên áp dụng quy định này. Đối với các trường hợp tài sản có giá trị nhỏ, người thân của phạm nhân có thể xin xác nhận của chính quyền địa phương về nhân thân để thay mặt phạm nhân đến nhận tài sản tại cơ quan thi hành án, điều này cũng sẽ giản tiện bớt thủ tục và tạo thuận lợi cho chấp hành viên trong quá trình tác nghiệp.

Ba là, về vai trò của luật sư khi nhận ủy quyền thi hành án dân sự. Theo các quy định pháp luật thì luật sư có thể nhận ủy quyền của người được thi hành án, người phải thi hành án để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của đương sự với tư cách là người ủy quyền trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Việc tham gia bào chữa, bảo vệ quyền lợi cho các bên của luật sư trong quá trình tố tụng đã được quy định khá rõ ràng, đầy đủ trong Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính và các văn bản hướng dẫn khác có liên quan, tuy nhiên, pháp luật về thi hành án dân sự lại chưa có quy định, hướng dẫn cụ thể về việc tham gia của luật sư trong giai đoạn thi hành án. Vai trò của luật sư khi nhận ủy quyền thực hiện thay các công việc cụ thể của đương sự có những điểm khác với vai trò của luật sư khi tham gia vào quá trình thi hành án để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Vấn đề đặt ra là, đối với giai đoạn thi hành án, khi nhận ủy quyền của khách hàng thì luật sư được tham gia đến mức độ nào và việc tiếp cận hồ sơ của luật sư đến đâu thì pháp luật lại chưa quy định rõ ràng[7].

Do đó, đề nghị xem xét bổ sung các quy định về sự tham gia của luật sư vào quá trình thi hành án dân sự trong Luật Thi hành án dân sự và văn bản hướng dẫn thi hành để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động hiệu quả của luật sư khi nhận ủy quyền của khách hàng trong giai đoạn thi hành án.

Từ thực tiễn cho thấy, cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, tạo sự liên kết, dẫn chiếu chặt chẽ lẫn nhau giữa các quy định của pháp luật thi hành án dân sự và các lĩnh vực pháp luật chuyên ngành khác như pháp luật dân sự, pháp luật công chứng… để đương sự thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả quyền của mình trong việc ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ thi hành án.

ThS. Hoàng Thị Thanh Hoa

Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Hà Nội


[1] Điều 562 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2] Điều 563 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Khoản 3 Điều 140 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[4] Xem thêm: Hoàng Thị Thanh Hoa, Hồ Quân Chính & Nguyễn Văn Nghĩa, Sách “Bình luận Luật Thi hành án dân sự”, Nxb. Tư pháp, năm 2019, tr. 78.

[5] Điều 3 Luật Thi hành án dân sự.

[6] Điều 135, 138; từ Điều 562 đến Điều 569 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[7] Nguyễn Văn Nghĩa & Hoàng Thị Thanh Hoa, Bàn về vai trò của luật sư trong thi hành án dân sự, xem http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=199, truy cập ngày 14/02/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: