Thứ sáu 16/01/2026 10:49
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế tài hình sự đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn

Trong bài viết này, tác giả phân tích về các hành vi cấu thành tội phạm đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn và chế tài xử lý, từ đó, đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Hành vi cấu thành tội phạm và chế tài xử lý

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự), một người thực hiện một hành vi cấu thành tội phạm khi về mặt chủ quan họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là họ phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12). Tại Điều 21, Bộ luật cũng quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy vậy, Bộ luật Hình sự cũng quy định “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 13). Đặc biệt, trong cấu thành tội phạm của một số tội phạm cụ thể, nhất là trong các nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Bộ luật Hình sự cũng quy định phạm tội trong tình trạng “có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức” là định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại 03 tội phạm, bao gồm: (i) Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260)[1]; (ii) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267)[2]; (iii) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272)[3] và hành vi này cũng được xác định là yếu tố cấu thành tội phạm của 07 tội, bao gồm: Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 263); Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264)[4]; Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 270); Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 271)[5]; Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 275); Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 276)[6]; Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280)[7].

Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260): Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (điểm b khoản 2). Về nội dung này, tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông (Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC) đã giải thích: Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở”.

Như vậy, hành vi của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ mà trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thì chưa thỏa mãn yếu tố cấu thành định khung tăng nặng của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260).

Đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267): Người nào chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (điểm b khoản 2). Về nội dung này, tại khoản 4 và 5, Điều 8 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC đã làm rõ: “4. Trong tình trạng dùng rượu bia quá nồng độ quy định quy định tại điểm b khoản 2 Điều 208 Bộ luật Hình sự là trường hợp người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở. 5. Say do dùng các chất kích thích mạnh khác quy định tại điểm b khoản 2 Điều 208 Bộ luật Hình sự là trường hợp người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, trường hợp người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà trong máu có nồng độ cồn chưa vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 40 miligam/1lít khí thở hoặc tuy có nồng độ cồn trong máu hoặc khí thở nhưng họ lại không ở trong tình trạng say do sử dụng rượu bia mà sau khi sử dụng có biểu hiện say thì không thỏa mãn cấu thành định khung tăng nặng của tội phạm này.

Đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272): Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường thủy mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (điểm b khoản 2 Điều 272). Khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định: “Trong tình trạng dùng rượu, bia quá nồng độ quy định quy định tại điểm b khoản 2 Điều 212 Bộ luật Hình sự là trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đường thủy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở”. Như vậy, trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đường thủy mà trong máu có nồng độ cồn chưa vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 40 miligam/1lít khí thở thì không thỏa mãn cấu thành định khung tăng nặng của tội phạm này.

Đối với tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264): Người nào giao cho người mà biết rõ người đó đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 205 Bộ luật Hình sự là người không am hiểu các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; người không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện; người do tình trạng sức khỏe không thể tự chủ điều khiển được tốc độ; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi giao phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 264 mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 270): Người nào điều động người không có giấy phép lái tàu hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều này hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 211 Bộ luật Hình sự là người không đủ sức khỏe (do ốm đau, làm việc quá sức) để chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi điều động người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 270 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 271): Người nào giao cho người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d Điều 271 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Về nội dung này, tại khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 211 Bộ luật Hình sự là người không đủ sức khỏe (do ốm đau, làm việc quá sức) để chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi giao phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 271 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 275): Người nào điều động người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 275 hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 215 Bộ luật hình sự là người không thông hiểu các quy định về trật tự an toàn giao thông đường thủy; người không đủ sức khỏe, tuổi để điều khiển phương tiện; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi điều động phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 275 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 276): Người nào giao cho người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 276 hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Về nội dung này, tại khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 215 Bộ luật Hình sự là người không thông hiểu các quy định về trật tự an toàn giao thông đường thủy; người không đủ sức khỏe, tuổi để điều khiển phương tiện; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi giao phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 276 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280): Người nào điều động hoặc giao cho người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển tàu bay, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Với nội dung này, tại Điều 14 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường không quy định tại khoản 1 Điều 219 Bộ luật hình sự được hiểu là không đủ các điều kiện về sức khỏe, trình độ chuyên môn như người lái tàu bay không đủ điều kiện về sức khỏe (do ốm đau, làm việc quá sức), người sử dụng các trang thiết bị phụ trợ giao thông đường không không đủ điều kiện về trình độ chuyên môn, khả năng; người đang trong tình trạng sử dụng ma túy hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện như người sử dụng ma túy, rượu, bia”.

2. Một số nhận định, đánh giá

Qua nghiên cứu các quy định trên đây của Bộ luật Hình sự, Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC tác giả có một số nhận định, đánh giá sau:

Một là, Bộ luật Hình sự và Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC chưa phản ánh đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, chưa tương thích và đồng bộ với quy định của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật Đường sắt. Theo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019, điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm (khoản 6 Điều 5). Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 cũng quy định “điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm (khoản 8 Điều 8). Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2014/QH13, Luật số 97/2015/QH13 và Luật số 35/2018/QH14) quy định hành vi bị nghiêm cấm: “Thuyền viên, người lái phương tiện đang làm việc trên phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn hoặc có các chất kích thích khác mà luật cấm sử dụng” (khoản 8 Điều 8). Luật Đường sắt năm 2017 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018) khi xác định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đường sắt cũng nghiêm cấm hành vi: “Nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu trong khi làm nhiệm vụ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn hoặc có chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng” (khoản 17 Điều 9) và các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt (đã được sửa đổi, bổ sung) khi quy định “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là một hành vi vi phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt rất nghiêm khắc với mức tiền phạt cao hơn, thời hạn tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe cũng dài hơn[8].

Hai là, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014 của Quốc hội) chưa quy định: “Điều khiển tàu bay mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng không dân dụng nên chưa tương thích với quy định của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và có sự chưa nhất quán đối với hành vi “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy với đường hàng không trong khi đó điều khiển phương tiện giao thông đường hàng không có tính nguy hiểm rất cao độ. Cũng từ bất cập này của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam nên Bộ luật Hình sự chưa có quy định về tình tiết định khung tăng nặng liên quan đến hành vi “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” đối với người điều khiển tàu bay trong tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay (Điều 277) và là tình tiết cấu thành tội phạm tại tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280), trong khi đó đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có khả năng gây ra những hậu quả rất lớn cho xã hội so với điều khiển giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy.

3. Đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh và chống các tội phạm liên quan đến người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn và bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật cần sớm tổng kết, đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với các tội phạm có liên quan đến hành vi sử dụng rượu bia, nhất là hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt mà “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” với tính chất là cấu thành định khung tăng nặng tại điểm b, khoản 2 các điều 260, 267 và Điều 272 và với tính chất là cấu thành tội phạm tại khoản 1 các điều 263, 264, 270, 271, 275, 276 và Điều 280 Bộ luật Hình sự gắn với tổng kết việc thực hiện Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC, trên cơ sở đó, rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự, cụ thể:

Một là, thay thế cụm từ “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” tại điểm b, khoản 2 các điều 260, 267 và Điều 272 bằng cụm từ “điều khiển phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự; bổ sung tình tiết “điều khiển phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” vào khoản 2 Điều 277 với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng của Tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay.

Hai là, thay thế cụm từ “người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật” tại các điều 263, 264, 270, 271, 275, 276 và cụm từ “người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia” tại các điều 270, 271, 275, 276 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn cụ thể tại các điều tương ứng của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC thành cụm từ “người điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” để bảo đảm tất cả những hành vi điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nếu gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp do Bộ luật quy định hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì đều bị xử lý về các tội phạm tương ứng với hành vi vi phạm. Đồng thời, bổ sung tình tiết cấu thành tội phạm tại khoản 1 Điều 280 (Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay) đối với người thực hiện hành vi điều động hoặc giao cho người mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn điều khiển tàu bay).

Ba là, sớm rà soát, bãi bỏ các nội dung tương ứng liên quan đến nồng độ cồn vượt quá mức quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 4 Điều 8, khoản 3 Điều 10, Điều 14 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC theo hướng không quy định “nồng độ cồn vượt quá mức quy định” để nâng cao trách nhiệm của người tham gia giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt và điều khiển tàu bay khi đã sử dụng rượu bia trên nguyên tắc đã uống rượu bia thì không điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, không điều khiển tàu bay; nếu đã uống rượu bia mà còn điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy hoặc điều khiển tàu bay thì phải chịu trách nhiệm hình sự, bị xử phạt vi phạm hành chính cao hơn so với người không sử dụng rượu bia tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy thực hiện hành vi vi phạm tương ứng.

Bốn là, bổ sung hành vi “điều khiển tàu bay mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng không dân dụng trong Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014 của Quốc hội) để bảo đảm sự tương thích với Luật Phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019 và tương đồng giữa giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy với đường hàng không.

Năm là, tăng cường các biện pháp phòng ngừa xã hội, khuyến khích các gia đình, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông sử dụng các dụng cụ để kiểm tra nồng độ cồn trong máu và trong hơi thở trước khi tham gia giao thông; chú trọng hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của người tham gia giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, nhất là thông qua các vụ việc vi phạm đã bị xử lý để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe trên tinh thần “đã uống rượu bia thì không điều khiển phương tiện giao thông”./.

TS. Đỗ Xuân Lân

Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam


[1] Trước đó là Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[2] Trước đó là Điều 208 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[3] Trước đó là Điều 212 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[4] Điều 263 và Điều 264 trước đó là Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[5] Điều 270 và Điều 271 trước đó là Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[6] Điều 275 và Điều 276 trước đó là Điều 215 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[7] Trước đó là Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[8] Xem: Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: