Thứ tư 18/03/2026 10:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chế tài hình sự đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn

Trong bài viết này, tác giả phân tích về các hành vi cấu thành tội phạm đối với hành vi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường không mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn và chế tài xử lý, từ đó, đưa ra nhận xét, đánh giá và đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.

1. Hành vi cấu thành tội phạm và chế tài xử lý

Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự), một người thực hiện một hành vi cấu thành tội phạm khi về mặt chủ quan họ phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nghĩa là họ phải đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12). Tại Điều 21, Bộ luật cũng quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy vậy, Bộ luật Hình sự cũng quy định “Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự” (Điều 13). Đặc biệt, trong cấu thành tội phạm của một số tội phạm cụ thể, nhất là trong các nhóm tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, Bộ luật Hình sự cũng quy định phạm tội trong tình trạng “có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức” là định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự tại 03 tội phạm, bao gồm: (i) Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260)[1]; (ii) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267)[2]; (iii) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272)[3] và hành vi này cũng được xác định là yếu tố cấu thành tội phạm của 07 tội, bao gồm: Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 263); Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264)[4]; Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 270); Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 271)[5]; Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 275); Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 276)[6]; Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280)[7].

Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260): Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (điểm b khoản 2). Về nội dung này, tại khoản 2 Điều 3 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 28/8/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự về các tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông (Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC) đã giải thích: Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự được hiểu là một trong những trường hợp sau đây:

a) Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy hoặc đang trong tình trạng say do sử dụng các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn;

c) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở”.

Như vậy, hành vi của người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy tham gia giao thông đường bộ mà trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn chưa vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 0,25 miligam/1 lít khí thở mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thì chưa thỏa mãn yếu tố cấu thành định khung tăng nặng của tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Điều 260).

Đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 267): Người nào chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (điểm b khoản 2). Về nội dung này, tại khoản 4 và 5, Điều 8 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC đã làm rõ: “4. Trong tình trạng dùng rượu bia quá nồng độ quy định quy định tại điểm b khoản 2 Điều 208 Bộ luật Hình sự là trường hợp người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở. 5. Say do dùng các chất kích thích mạnh khác quy định tại điểm b khoản 2 Điều 208 Bộ luật Hình sự là trường hợp người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, trường hợp người chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt mà trong máu có nồng độ cồn chưa vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 40 miligam/1lít khí thở hoặc tuy có nồng độ cồn trong máu hoặc khí thở nhưng họ lại không ở trong tình trạng say do sử dụng rượu bia mà sau khi sử dụng có biểu hiện say thì không thỏa mãn cấu thành định khung tăng nặng của tội phạm này.

Đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272): Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường thủy mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (điểm b khoản 2 Điều 272). Khoản 3 Điều 10 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định: “Trong tình trạng dùng rượu, bia quá nồng độ quy định quy định tại điểm b khoản 2 Điều 212 Bộ luật Hình sự là trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đường thủy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở”. Như vậy, trường hợp điều khiển phương tiện giao thông đường thủy mà trong máu có nồng độ cồn chưa vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc chưa vượt quá 40 miligam/1lít khí thở thì không thỏa mãn cấu thành định khung tăng nặng của tội phạm này.

Đối với tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ (Điều 264): Người nào giao cho người mà biết rõ người đó đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 205 Bộ luật Hình sự là người không am hiểu các quy định về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; người không đủ sức khỏe, độ tuổi để điều khiển phương tiện; người do tình trạng sức khỏe không thể tự chủ điều khiển được tốc độ; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi giao phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 264 mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 270): Người nào điều động người không có giấy phép lái tàu hoặc người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy, chất kích thích mạnh khác hoặc không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều này hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 211 Bộ luật Hình sự là người không đủ sức khỏe (do ốm đau, làm việc quá sức) để chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi điều động người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 270 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường sắt (Điều 271): Người nào giao cho người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d Điều 271 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Về nội dung này, tại khoản 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 211 Bộ luật Hình sự là người không đủ sức khỏe (do ốm đau, làm việc quá sức) để chỉ huy, điều khiển phương tiện giao thông đường sắt; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi giao phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường sắt gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 271 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội điều động người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 275): Người nào điều động người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 275 hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 215 Bộ luật hình sự là người không thông hiểu các quy định về trật tự an toàn giao thông đường thủy; người không đủ sức khỏe, tuổi để điều khiển phương tiện; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi điều động phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 275 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 276): Người nào giao cho người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và đ khoản 1 Điều 276 hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Về nội dung này, tại khoản 1 Điều 11 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC quy định: “Người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 215 Bộ luật Hình sự là người không thông hiểu các quy định về trật tự an toàn giao thông đường thủy; người không đủ sức khỏe, tuổi để điều khiển phương tiện; người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia”. Như vậy, với quy định và hướng dẫn nêu trên, hành vi giao phương tiện cho người đang trong tình trạng say do sử dụng rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng rượu, bia điều khiển phương tiện giao thông đường thủy gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản a, b, c và d khoản 1 Điều 276 hoặc đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì mới thỏa mãn cấu thành tội phạm này, còn nếu chưa rơi vào trạng thái say thì không thỏa mãn cấu thành của tội phạm này.

Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280): Người nào điều động hoặc giao cho người không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển tàu bay, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Với nội dung này, tại Điều 14 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC làm rõ: “Không đủ các điều kiện khác theo quy định của pháp luật điều khiển phương tiện giao thông đường không quy định tại khoản 1 Điều 219 Bộ luật hình sự được hiểu là không đủ các điều kiện về sức khỏe, trình độ chuyên môn như người lái tàu bay không đủ điều kiện về sức khỏe (do ốm đau, làm việc quá sức), người sử dụng các trang thiết bị phụ trợ giao thông đường không không đủ điều kiện về trình độ chuyên môn, khả năng; người đang trong tình trạng sử dụng ma túy hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện như người sử dụng ma túy, rượu, bia”.

2. Một số nhận định, đánh giá

Qua nghiên cứu các quy định trên đây của Bộ luật Hình sự, Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC tác giả có một số nhận định, đánh giá sau:

Một là, Bộ luật Hình sự và Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC chưa phản ánh đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”, chưa tương thích và đồng bộ với quy định của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường thủy nội địa và Luật Đường sắt. Theo Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019, điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm (khoản 6 Điều 5). Luật Giao thông đường bộ số 23/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 cũng quy định “điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm (khoản 8 Điều 8). Luật Giao thông đường thủy nội địa số 23/2004/QH11 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 48/2014/QH13, Luật số 97/2015/QH13 và Luật số 35/2018/QH14) quy định hành vi bị nghiêm cấm: “Thuyền viên, người lái phương tiện đang làm việc trên phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn hoặc có các chất kích thích khác mà luật cấm sử dụng” (khoản 8 Điều 8). Luật Đường sắt năm 2017 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 35/2018/QH14 ngày 20/11/2018) khi xác định các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động đường sắt cũng nghiêm cấm hành vi: “Nhân viên đường sắt trực tiếp phục vụ chạy tàu trong khi làm nhiệm vụ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn hoặc có chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng” (khoản 17 Điều 9) và các nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt (đã được sửa đổi, bổ sung) khi quy định “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là một hành vi vi phạm và bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt rất nghiêm khắc với mức tiền phạt cao hơn, thời hạn tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe cũng dài hơn[8].

Hai là, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014 của Quốc hội) chưa quy định: “Điều khiển tàu bay mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng không dân dụng nên chưa tương thích với quy định của Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019 và có sự chưa nhất quán đối với hành vi “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy với đường hàng không trong khi đó điều khiển phương tiện giao thông đường hàng không có tính nguy hiểm rất cao độ. Cũng từ bất cập này của Luật Hàng không dân dụng Việt Nam nên Bộ luật Hình sự chưa có quy định về tình tiết định khung tăng nặng liên quan đến hành vi “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” đối với người điều khiển tàu bay trong tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay (Điều 277) và là tình tiết cấu thành tội phạm tại tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay (Điều 280), trong khi đó đây là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có khả năng gây ra những hậu quả rất lớn cho xã hội so với điều khiển giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy.

3. Đề xuất, kiến nghị

Để nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh và chống các tội phạm liên quan đến người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn và bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật cần sớm tổng kết, đánh giá thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử đối với các tội phạm có liên quan đến hành vi sử dụng rượu bia, nhất là hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt mà “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” với tính chất là cấu thành định khung tăng nặng tại điểm b, khoản 2 các điều 260, 267 và Điều 272 và với tính chất là cấu thành tội phạm tại khoản 1 các điều 263, 264, 270, 271, 275, 276 và Điều 280 Bộ luật Hình sự gắn với tổng kết việc thực hiện Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC, trên cơ sở đó, rà soát, đánh giá và đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật Hình sự, cụ thể:

Một là, thay thế cụm từ “trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” tại điểm b, khoản 2 các điều 260, 267 và Điều 272 bằng cụm từ “điều khiển phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự; bổ sung tình tiết “điều khiển phương tiện mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” vào khoản 2 Điều 277 với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng của Tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay.

Hai là, thay thế cụm từ “người đang trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định của pháp luật” tại các điều 263, 264, 270, 271, 275, 276 và cụm từ “người đang trong tình trạng say do sử dụng ma túy, rượu, bia hoặc các chất mà sau khi sử dụng có biểu hiện say như người sử dụng ma túy, rượu, bia” tại các điều 270, 271, 275, 276 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn cụ thể tại các điều tương ứng của Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC thành cụm từ “người điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” để bảo đảm tất cả những hành vi điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nếu gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp do Bộ luật quy định hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì đều bị xử lý về các tội phạm tương ứng với hành vi vi phạm. Đồng thời, bổ sung tình tiết cấu thành tội phạm tại khoản 1 Điều 280 (Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển tàu bay) đối với người thực hiện hành vi điều động hoặc giao cho người mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn điều khiển tàu bay).

Ba là, sớm rà soát, bãi bỏ các nội dung tương ứng liên quan đến nồng độ cồn vượt quá mức quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 4 Điều 8, khoản 3 Điều 10, Điều 14 Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA-BQP-BTP-VKSNDTC-TANDTC theo hướng không quy định “nồng độ cồn vượt quá mức quy định” để nâng cao trách nhiệm của người tham gia giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt và điều khiển tàu bay khi đã sử dụng rượu bia trên nguyên tắc đã uống rượu bia thì không điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, không điều khiển tàu bay; nếu đã uống rượu bia mà còn điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy hoặc điều khiển tàu bay thì phải chịu trách nhiệm hình sự, bị xử phạt vi phạm hành chính cao hơn so với người không sử dụng rượu bia tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy thực hiện hành vi vi phạm tương ứng.

Bốn là, bổ sung hành vi “điều khiển tàu bay mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” là hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động hàng không dân dụng trong Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 66/2006/QH11 ngày 29/6/2006 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 61/2014/QH13 ngày 21/11/2014 của Quốc hội) để bảo đảm sự tương thích với Luật Phòng chống tác hại của rượu bia năm 2019 và tương đồng giữa giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy với đường hàng không.

Năm là, tăng cường các biện pháp phòng ngừa xã hội, khuyến khích các gia đình, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông sử dụng các dụng cụ để kiểm tra nồng độ cồn trong máu và trong hơi thở trước khi tham gia giao thông; chú trọng hoạt động tuyên truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức của người tham gia giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, nhất là thông qua các vụ việc vi phạm đã bị xử lý để cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe trên tinh thần “đã uống rượu bia thì không điều khiển phương tiện giao thông”./.

TS. Đỗ Xuân Lân

Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam


[1] Trước đó là Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[2] Trước đó là Điều 208 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[3] Trước đó là Điều 212 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[4] Điều 263 và Điều 264 trước đó là Điều 205 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[5] Điều 270 và Điều 271 trước đó là Điều 211 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[6] Điều 275 và Điều 276 trước đó là Điều 215 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[7] Trước đó là Điều 219 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

[8] Xem: Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Theo dõi chúng tôi trên: