Thứ hai 13/04/2026 06:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chống lệ thuộc công nghệ trong thương mại điện tử - Biện pháp bảo vệ an toàn hệ thống hữu hiệu nhất

Hiện nay trên thế giới, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật nói chung và công nghệ thông tin nói riêng đã làm thay đổi thương mại truyền thống khi ứng dụng các công nghệ điện tử để thực hiện hành vi quảng cáo, mua bán hàng hóa, thanh toán điện tử trong hoạt động thương mại. Thương mại điện tử ra đời đã mở ra một kỷ nguyên mới cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức trên bình diện toàn cầu.

1. Mối quan hệ giữa Thương mại điện tử và những nền tảng công nghệ

Thương mại điện tử là xu hướng tất yếu bởi tự thân nó đã chứa đựng hàm lượng tri thức cao trong hoạt động kinh tế, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như quốc tế. Phát triển thương mại điện tử thành công là động lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới cũng như quan hệ thương mại với các chủ thể quốc tế khác.

Thương mại điện tử là sự phát triển cao hơn của thương mại truyền thống, được cấu thành bởi nhiều thành tố, trong đó có ứng dụng các thành quả của khoa học - kỹ thuật phục vụ đời sống con người cũng như việc thỏa mãn các nhu cầu khác. Đây là xu hướng tất yếu của sự phát triển trên mọi phương diện về kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hóa.

2. Những vấn đề liên quan đến lệ thuộc công nghệ

Có nhiều quan điểm về lệ thuộc công nghệ, tùy từng mối quan hệ giữa bên cung cấp và người mua công nghệ giữa các doanh nghiệp, các quốc gia, và cũng tùy từng loại hàng hóa dịch vụ mà xem xét có hay không có việc lệ thuộc công nghệ. Nếu hàng hóa dịch vụ chỉ dùng một lần hoặc dịch vụ mang tính ngắn hạn thì vấn đề lệ thuộc công nghệ không được đặt ra. Đối với hàng hóa dịch vụ có chu kỳ khấu hao hay sử dụng trong thời gian dài hoặc cần có sự ổn định trong quá trình vận hành cũng như quy trình vận hành, sử dụng hàng hóa dịch vụ đòi hỏi có tính phức tạp cũng như gắn với công nghệ hay bí quyết hoặc giữ bản quyền của nhà sản xuất thì vấn đề lệ thuộc công nghệ mới được đặt ra. Trên thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về lệ thuộc công nghệ, tuy nhiên có thể khái quát theo nghĩa đơn giản nhất đó là: “Lệ thuộc công nghệ chính là việc không thể tự chủ trong quá trình nghiên cứu, thiết kế ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc tổ chức sản xuất các công nghệ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của tổ chức, doanh nghiệp hay quốc gia”.

Do thương mại điện tử vận hành trên nền tảng công nghệ thông tin viễn thông để thu phát, lưu giữ, truyền dẫn, hoặc là thiết bị đầu cuối như: Điện thoại hữu tuyến, điện thoại di động, máy Fax… Ngoài ra, còn có các thiết bị như máy tính cá nhân có kết nối Internet, có cài đặt những chương trình máy tính để vận hành tự động hoặc để sử dụng cho các hoạt động thương mại.

Do năng lực sản xuất hiện nay của Việt Nam rất yếu, không tự sản xuất được các thiết bị đồng bộ để vận hành hệ thống thông tin viễn thông. Tất cả các thiết bị phục vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin - viễn thông đều nhập khẩu từ nước ngoài. Về năng lực sản xuất các thiết bị đầu cuối, phần cứng máy tính cá nhân, phần mềm (hay còn gọi là Hệ điều hành) là phần không thể tách rời của các thiết bị điện tử có cài đặt các ứng dụng thì Việt Nam không tự sản xuất được. Thực tế, mặc dù có nhiều ưu đãi nhưng cho đến nay, công nghiệp điện tử mới chỉ dừng lại ở mức độ gia công, lắp ráp - một trong những công đoạn có ít giá trị gia tăng nhất trong quá trình sản xuất hàng điện tử. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu thì Việt Nam lại là công đoạn cuối, tức là thị trường tiêu dùng hàng điện tử xa xỉ bậc nhất thế giới. Điều này làm tốn kém ngoại tệ cũng như lãng phí tài sản xã hội rất lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất.

Thực tế cho thấy, tất cả các thiết bị quan trọng trong công nghệ thông tin - viễn thông của Việt Nam đều được nhập khẩu từ các nước khác hoặc nhượng quyền thương mại và tự sản xuất. Như vậy việc nâng cấp, thay thế cũng cập nhật các phiên bản nâng cấp đều lệ thuộc vào bên bán, tức các nhà cung cấp theo hợp đồng. Đối với các thiết bị máy tính, thiết bị đầu cuối cũng tương tự, Việt Nam lắp ráp hoặc nhập khẩu là chủ yếu, do vậy người tiêu dùng luôn lệ thuộc vào công nghệ của nước ngoài. Một vấn đề nữa là các Hệ điều hành các thiết bị điện tử hiện đại hay còn gọi chương trình phần mềm Việt Nam cũng không tự thiết kế mà đều sử dụng của các nhà sản xuất nước ngoài. Thương mại điện tử không sử dụng toàn bộ mà chỉ sử dụng một phần năng lực vận hành của các thiết bị hay hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông nhưng như vậy có thể thấy rằng, thương mại điện tử lệ thuộc hoàn toàn vào hạ tầng viễn thông - thông tin. Các nguyên tắc về bảo đảm an toàn thông tin chỉ giải quyết phần “ngọn” của vấn đề nếu không có các biện pháp chống lệ thuộc công nghệ từ gốc rễ, mà trong đó chống lệ thuộc công nghệ phải được xây dựng thành một nguyên tắc trong các ngành luật.

Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại dựa trên nền tảng điện tử không quy định nguyên tắc quan trọng này.

Khi hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực thương mại, Việt Nam chưa quan tâm sâu sắc đến vấn đề lệ thuộc công nghệ nên điều này sẽ khiến chúng ta bị động khi có các vấn đề cần thay đổi công nghệ. Sự lệ thuộc càng rõ nét hơn khi các công nghệ điện tử luôn hoạt động trên nguyên lý tương thích giữa phần cứng và phần mềm, ví dụ có những phần mềm được xây dựng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và chỉ chạy được trên các thiết bị phần cứng tương thích với nó. Do những đặc điểm đó, mỗi khi cần thay đổi các thiết bị công nghệ đã cũ thì lập tức chúng ta phải thay mới toàn bộ mặc dù nếu nâng cấp có thể tiết kiệm nhiều chi phí.

Hiện nay, chưa có các Công ước ràng buộc các chủ thể quốc tế có trách nhiệm chia sẻ hay ít nhất là thực hiện các cam kết về chống lệ thuộc công nghệ trong thương mại điện tử. Ngay trong khối ASEAN cũng chưa có các thỏa thuận đối với các thành viên nội khối. Như vậy, các nội dung về chống lệ thuộc công nghệ chỉ là sự thỏa thuận theo các Hợp đồng thương mại quốc tế mà theo đó các bên tự chịu trách nhiệm theo hợp đồng nên tiềm ẩn rất nhiều vấn đề rủi ro đối với các yếu tố kỹ thuật.

3. Những nguy cơ và rủi ro khi lệ thuộc công nghệ

Trên thực tế đã chứng minh rằng, kể cả các quốc gia phát triển cũng gặp phải vấn đề lệ thuộc công nghệ, cả trong lĩnh vực dân dụng cũng như an ninh quốc phòng. Vấn đề lệ thuộc công nghệ không phải chỉ thuần túy về kỹ thuật hay thiết bị mà còn gắn với yếu tố con người. Vì trên thực tế có những công nghệ quan trọng như lĩnh vực hàng không, an ninh quốc phòng thì việc vận hành, sử dụng các công nghệ đều cần quá trình dào tạo lâu dài, sự thay đổi hay chuyển loại công nghệ cần rất nhiều sự hỗ trợ của nhà cung cấp.

Đối với các hoạt động thương mại liên quan đến an ninh quốc phòng, hệ thống thanh toán của các ngân hàng hay tổ chức tài chính hoặc các công trình quan trọng đến an ninh quốc gia luôn rất cần sự độc lập, tự chủ về công nghệ nhưng hiện nay nước ta chưa đáp ứng được. Đây là nguy cơ hiện hữu trong tương lai gần hoặc xảy ra bất ngờ đối với hệ thống thông tin của Việt Nam.

Như vậy, nếu vấn đề lệ thuộc công nghệ không được quan tâm đúng mức sẽ dẫn đến toàn bộ hệ thống bị sập hay không bảo đảm sự vận hành ổn định, an toàn trong hoạt động thương mại điện tử. Thời gian vừa qua, một số sự cố đứt cáp quang viễn thông kết nối giữa Việt Nam và quốc tế bị gián đoạn đã gây nhiều khó khăn cho việc trao đổi thông tin trong đó có thông tin thương mại. Như vậy, khi không có các phương án dự phòng hay nâng cấp hệ thống lưu giữ, truyền tải bằng hệ thống riêng mà phải lệ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nước ngoài sẽ dẫn đến bị động khi có sự cố xảy ra. Ví dụ: Năm 2002, khi Internet Explorer 6.0 của Microsoft ra đời, việc tải (download) các tệp tin có dung lượng lớn như phim, ảnh đồ họa của các công ty sử dụng trình duyệt cũ hơn đã không tương thích với trình duyệt mới này và gây thiệt hại cho các công ty đã mua bản quyền của trình duyệt cũ hơn. Ngược lại, FireFox ra đời với chuẩn khác với Internet Explorer (IE) cũng là nguy cơ cho các website thương mại điện tử vốn chạy tốt trên IE nhưng chưa chắc đã chạy tốt trên Firefox và ngược lại.

Sự cố Y2K năm 2000 cũng là một bài học đắt giá đối với tất cả những ai sử dụng máy tính, điều này cho thấy việc đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật và chiến lược phát triển khoa học công nghệ tự chủ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thực tế, mặc dù số lượng máy tính cá nhân lên đến nhiều chục triệu máy tính nhưng số máy tính có bản quyền rất ít nên nếu xảy ra các vấn để về công nghệ hay có những sửa đổi thì chắc chắn sự cố sẽ xảy ra.

Thương mại điện tử có đặc điểm là tiếp cận thị trường nhanh chóng, do vậy luôn đòi hỏi hệ thống thông tin như truyền dẫn, máy chủ và các dịch vụ hỗ trợ tin học vận hành ổn định, liên tục. Việc gián đoạn do sự cố sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại của các chủ thể tham gia khi sử dụng các phương tiện điện tử. Khi có sự cố hệ thống, bị gián đoạn thì tính tương tác không thể thực hiện được và các bên đều có thể bị hại. Như vậy, có thể thấy nguy cơ mất an toàn hệ thống thông tin - viễn thông là rất nhiều và thường trực. Các rủi ro cũng tương tự khi vấn đề chống lệ thuộc công nghệ trong thương mại điện tử không được quan tâm đúng mức.

4. Các giải pháp chống lệ thuộc công nghệ

Ðể giải quyết tốt vấn đề tự chủ về khoa học ứng dụng, sẵn sàng đối phó với sự cố do sự lệ thuộc công nghệ cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như sau:

(i) Chính sách đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Mọi công nghệ đều do con người và vì con người, như vậy giải pháp đầu tiên cũng chính là nhân tố con người. Việc đào tạo đủ và chuyên sâu về nguồn nhân lực công nghệ thông tin sẽ không chỉ để có một đội ngũ kỹ sư hay công nhân lành nghề về sử dụng, thao tác hay vận hành công nghệ mà còn tự chủ trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và vận hành toàn bộ hạ tầng công nghệ thông tin thiết yếu cho quốc gia và nhu cầu của xã hội. Để phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin cần những chính sách về đào tạo, sử dụng, chế độ đãi ngộ cũng như sự tự chủ trong lĩnh vực này. Phải có chính sách ưu đãi đủ sức hấp dẫn để đáp ứng nhu cầu về nhân lực công nghệ thông tin; đồng thời Nhà nước cũng cần có chiến lược để xây dựng cho được nền công nghiệp điện tử và vật liệu ngang tầm với khu vực hoặc thế giới để tự chủ về nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thiết bị phục vụ cho hạ tầng thông tin - viễn thông.

(ii) Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử

Do tính đặc thù nên quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cá nhân tổ chức tham gia hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Do đó, cần rà soát, đánh giá và bổ sung quy định về chống lệ thuộc công nghệ ngay trong các đạo luật có liên quan như Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử và Nghị định về thương mại điện tử… Việc bổ sung sẽ có ý nghĩa quan trọng, tiên lượng được các yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với nền tảng công nghệ phục vụ hoạt động thương mại điện tử. Đồng thời với việc bổ sung quy định về chống lệ thuộc công nghệ, cần phải nâng cao các tiêu chuẩn về hợp chuẩn chất lượng đối với các thiết bị, sản phẩm điện tử có liên quan đến hoạt động thương mại điện tử.

(iii) Các giải pháp khác

Ngoài các giải pháp đã nêu, việc tăng cường hợp tác quốc tế để tìm hiểu, tiếp thu các kinh nghiệm quốc tế về chống lệ thuộc công nghệ sẽ rút ngắn được thời gian khi xây dựng pháp luật. Việc tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam tiếp thu các chuẩn mực quốc tế về vấn đề này.

Tóm lại, việc xem xét nghiêm túc, đánh giá đúng tính chất, mức độ các nguy cơ cũng như rủi ro từ lệ thuộc công nghệ trong hoạt động thương mại điện tử sẽ giúp cho hoạt động thương mại điện tử được an toàn, ổn định và ít rủi ro hơn. Chống lệ thuộc công nghệ để bảo đảm an toàn hệ thống thông tin - viễn thông sẽ có tác động rất lớn đến các hoạt động thương mại điện tử. Khi đã thực hiện tốt việc bảo đảm an toàn thông tin trong hoạt động này sẽ khuyến khích các chủ thể tích cực tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, tạo hiệu ứng tâm lý tích cực cho mọi chủ thể yên tâm rằng quyền được bảo vệ an toàn khi tham gia thương mại điện tử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia hoạt động thương mại điện tử.

LS. Lê Văn Thiệp

Văn phòng Luật sư Toàn cầu

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.

Theo dõi chúng tôi trên: