Thứ ba 25/08/2026 01:55
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chống lệ thuộc công nghệ trong thương mại điện tử - Biện pháp bảo vệ an toàn hệ thống hữu hiệu nhất

Hiện nay trên thế giới, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học - kỹ thuật nói chung và công nghệ thông tin nói riêng đã làm thay đổi thương mại truyền thống khi ứng dụng các công nghệ điện tử để thực hiện hành vi quảng cáo, mua bán hàng hóa, thanh toán điện tử trong hoạt động thương mại. Thương mại điện tử ra đời đã mở ra một kỷ nguyên mới cho trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các cá nhân, tổ chức trên bình diện toàn cầu.

1. Mối quan hệ giữa Thương mại điện tử và những nền tảng công nghệ

Thương mại điện tử là xu hướng tất yếu bởi tự thân nó đã chứa đựng hàm lượng tri thức cao trong hoạt động kinh tế, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế mỗi quốc gia cũng như quốc tế. Phát triển thương mại điện tử thành công là động lực phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới cũng như quan hệ thương mại với các chủ thể quốc tế khác.

Thương mại điện tử là sự phát triển cao hơn của thương mại truyền thống, được cấu thành bởi nhiều thành tố, trong đó có ứng dụng các thành quả của khoa học - kỹ thuật phục vụ đời sống con người cũng như việc thỏa mãn các nhu cầu khác. Đây là xu hướng tất yếu của sự phát triển trên mọi phương diện về kinh tế - xã hội ở mọi quốc gia trong thời kỳ toàn cầu hóa.

2. Những vấn đề liên quan đến lệ thuộc công nghệ

Có nhiều quan điểm về lệ thuộc công nghệ, tùy từng mối quan hệ giữa bên cung cấp và người mua công nghệ giữa các doanh nghiệp, các quốc gia, và cũng tùy từng loại hàng hóa dịch vụ mà xem xét có hay không có việc lệ thuộc công nghệ. Nếu hàng hóa dịch vụ chỉ dùng một lần hoặc dịch vụ mang tính ngắn hạn thì vấn đề lệ thuộc công nghệ không được đặt ra. Đối với hàng hóa dịch vụ có chu kỳ khấu hao hay sử dụng trong thời gian dài hoặc cần có sự ổn định trong quá trình vận hành cũng như quy trình vận hành, sử dụng hàng hóa dịch vụ đòi hỏi có tính phức tạp cũng như gắn với công nghệ hay bí quyết hoặc giữ bản quyền của nhà sản xuất thì vấn đề lệ thuộc công nghệ mới được đặt ra. Trên thực tế có nhiều khái niệm khác nhau về lệ thuộc công nghệ, tuy nhiên có thể khái quát theo nghĩa đơn giản nhất đó là: “Lệ thuộc công nghệ chính là việc không thể tự chủ trong quá trình nghiên cứu, thiết kế ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc tổ chức sản xuất các công nghệ phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của tổ chức, doanh nghiệp hay quốc gia”.

Do thương mại điện tử vận hành trên nền tảng công nghệ thông tin viễn thông để thu phát, lưu giữ, truyền dẫn, hoặc là thiết bị đầu cuối như: Điện thoại hữu tuyến, điện thoại di động, máy Fax… Ngoài ra, còn có các thiết bị như máy tính cá nhân có kết nối Internet, có cài đặt những chương trình máy tính để vận hành tự động hoặc để sử dụng cho các hoạt động thương mại.

Do năng lực sản xuất hiện nay của Việt Nam rất yếu, không tự sản xuất được các thiết bị đồng bộ để vận hành hệ thống thông tin viễn thông. Tất cả các thiết bị phục vụ trong lĩnh vực công nghệ thông tin - viễn thông đều nhập khẩu từ nước ngoài. Về năng lực sản xuất các thiết bị đầu cuối, phần cứng máy tính cá nhân, phần mềm (hay còn gọi là Hệ điều hành) là phần không thể tách rời của các thiết bị điện tử có cài đặt các ứng dụng thì Việt Nam không tự sản xuất được. Thực tế, mặc dù có nhiều ưu đãi nhưng cho đến nay, công nghiệp điện tử mới chỉ dừng lại ở mức độ gia công, lắp ráp - một trong những công đoạn có ít giá trị gia tăng nhất trong quá trình sản xuất hàng điện tử. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu thì Việt Nam lại là công đoạn cuối, tức là thị trường tiêu dùng hàng điện tử xa xỉ bậc nhất thế giới. Điều này làm tốn kém ngoại tệ cũng như lãng phí tài sản xã hội rất lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất.

Thực tế cho thấy, tất cả các thiết bị quan trọng trong công nghệ thông tin - viễn thông của Việt Nam đều được nhập khẩu từ các nước khác hoặc nhượng quyền thương mại và tự sản xuất. Như vậy việc nâng cấp, thay thế cũng cập nhật các phiên bản nâng cấp đều lệ thuộc vào bên bán, tức các nhà cung cấp theo hợp đồng. Đối với các thiết bị máy tính, thiết bị đầu cuối cũng tương tự, Việt Nam lắp ráp hoặc nhập khẩu là chủ yếu, do vậy người tiêu dùng luôn lệ thuộc vào công nghệ của nước ngoài. Một vấn đề nữa là các Hệ điều hành các thiết bị điện tử hiện đại hay còn gọi chương trình phần mềm Việt Nam cũng không tự thiết kế mà đều sử dụng của các nhà sản xuất nước ngoài. Thương mại điện tử không sử dụng toàn bộ mà chỉ sử dụng một phần năng lực vận hành của các thiết bị hay hạ tầng công nghệ thông tin - viễn thông nhưng như vậy có thể thấy rằng, thương mại điện tử lệ thuộc hoàn toàn vào hạ tầng viễn thông - thông tin. Các nguyên tắc về bảo đảm an toàn thông tin chỉ giải quyết phần “ngọn” của vấn đề nếu không có các biện pháp chống lệ thuộc công nghệ từ gốc rễ, mà trong đó chống lệ thuộc công nghệ phải được xây dựng thành một nguyên tắc trong các ngành luật.

Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động thương mại dựa trên nền tảng điện tử không quy định nguyên tắc quan trọng này.

Khi hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực thương mại, Việt Nam chưa quan tâm sâu sắc đến vấn đề lệ thuộc công nghệ nên điều này sẽ khiến chúng ta bị động khi có các vấn đề cần thay đổi công nghệ. Sự lệ thuộc càng rõ nét hơn khi các công nghệ điện tử luôn hoạt động trên nguyên lý tương thích giữa phần cứng và phần mềm, ví dụ có những phần mềm được xây dựng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật và chỉ chạy được trên các thiết bị phần cứng tương thích với nó. Do những đặc điểm đó, mỗi khi cần thay đổi các thiết bị công nghệ đã cũ thì lập tức chúng ta phải thay mới toàn bộ mặc dù nếu nâng cấp có thể tiết kiệm nhiều chi phí.

Hiện nay, chưa có các Công ước ràng buộc các chủ thể quốc tế có trách nhiệm chia sẻ hay ít nhất là thực hiện các cam kết về chống lệ thuộc công nghệ trong thương mại điện tử. Ngay trong khối ASEAN cũng chưa có các thỏa thuận đối với các thành viên nội khối. Như vậy, các nội dung về chống lệ thuộc công nghệ chỉ là sự thỏa thuận theo các Hợp đồng thương mại quốc tế mà theo đó các bên tự chịu trách nhiệm theo hợp đồng nên tiềm ẩn rất nhiều vấn đề rủi ro đối với các yếu tố kỹ thuật.

3. Những nguy cơ và rủi ro khi lệ thuộc công nghệ

Trên thực tế đã chứng minh rằng, kể cả các quốc gia phát triển cũng gặp phải vấn đề lệ thuộc công nghệ, cả trong lĩnh vực dân dụng cũng như an ninh quốc phòng. Vấn đề lệ thuộc công nghệ không phải chỉ thuần túy về kỹ thuật hay thiết bị mà còn gắn với yếu tố con người. Vì trên thực tế có những công nghệ quan trọng như lĩnh vực hàng không, an ninh quốc phòng thì việc vận hành, sử dụng các công nghệ đều cần quá trình dào tạo lâu dài, sự thay đổi hay chuyển loại công nghệ cần rất nhiều sự hỗ trợ của nhà cung cấp.

Đối với các hoạt động thương mại liên quan đến an ninh quốc phòng, hệ thống thanh toán của các ngân hàng hay tổ chức tài chính hoặc các công trình quan trọng đến an ninh quốc gia luôn rất cần sự độc lập, tự chủ về công nghệ nhưng hiện nay nước ta chưa đáp ứng được. Đây là nguy cơ hiện hữu trong tương lai gần hoặc xảy ra bất ngờ đối với hệ thống thông tin của Việt Nam.

Như vậy, nếu vấn đề lệ thuộc công nghệ không được quan tâm đúng mức sẽ dẫn đến toàn bộ hệ thống bị sập hay không bảo đảm sự vận hành ổn định, an toàn trong hoạt động thương mại điện tử. Thời gian vừa qua, một số sự cố đứt cáp quang viễn thông kết nối giữa Việt Nam và quốc tế bị gián đoạn đã gây nhiều khó khăn cho việc trao đổi thông tin trong đó có thông tin thương mại. Như vậy, khi không có các phương án dự phòng hay nâng cấp hệ thống lưu giữ, truyền tải bằng hệ thống riêng mà phải lệ thuộc vào các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông nước ngoài sẽ dẫn đến bị động khi có sự cố xảy ra. Ví dụ: Năm 2002, khi Internet Explorer 6.0 của Microsoft ra đời, việc tải (download) các tệp tin có dung lượng lớn như phim, ảnh đồ họa của các công ty sử dụng trình duyệt cũ hơn đã không tương thích với trình duyệt mới này và gây thiệt hại cho các công ty đã mua bản quyền của trình duyệt cũ hơn. Ngược lại, FireFox ra đời với chuẩn khác với Internet Explorer (IE) cũng là nguy cơ cho các website thương mại điện tử vốn chạy tốt trên IE nhưng chưa chắc đã chạy tốt trên Firefox và ngược lại.

Sự cố Y2K năm 2000 cũng là một bài học đắt giá đối với tất cả những ai sử dụng máy tính, điều này cho thấy việc đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật và chiến lược phát triển khoa học công nghệ tự chủ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thực tế, mặc dù số lượng máy tính cá nhân lên đến nhiều chục triệu máy tính nhưng số máy tính có bản quyền rất ít nên nếu xảy ra các vấn để về công nghệ hay có những sửa đổi thì chắc chắn sự cố sẽ xảy ra.

Thương mại điện tử có đặc điểm là tiếp cận thị trường nhanh chóng, do vậy luôn đòi hỏi hệ thống thông tin như truyền dẫn, máy chủ và các dịch vụ hỗ trợ tin học vận hành ổn định, liên tục. Việc gián đoạn do sự cố sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động thương mại của các chủ thể tham gia khi sử dụng các phương tiện điện tử. Khi có sự cố hệ thống, bị gián đoạn thì tính tương tác không thể thực hiện được và các bên đều có thể bị hại. Như vậy, có thể thấy nguy cơ mất an toàn hệ thống thông tin - viễn thông là rất nhiều và thường trực. Các rủi ro cũng tương tự khi vấn đề chống lệ thuộc công nghệ trong thương mại điện tử không được quan tâm đúng mức.

4. Các giải pháp chống lệ thuộc công nghệ

Ðể giải quyết tốt vấn đề tự chủ về khoa học ứng dụng, sẵn sàng đối phó với sự cố do sự lệ thuộc công nghệ cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp như sau:

(i) Chính sách đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Mọi công nghệ đều do con người và vì con người, như vậy giải pháp đầu tiên cũng chính là nhân tố con người. Việc đào tạo đủ và chuyên sâu về nguồn nhân lực công nghệ thông tin sẽ không chỉ để có một đội ngũ kỹ sư hay công nhân lành nghề về sử dụng, thao tác hay vận hành công nghệ mà còn tự chủ trong nghiên cứu, thiết kế, sản xuất và vận hành toàn bộ hạ tầng công nghệ thông tin thiết yếu cho quốc gia và nhu cầu của xã hội. Để phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin cần những chính sách về đào tạo, sử dụng, chế độ đãi ngộ cũng như sự tự chủ trong lĩnh vực này. Phải có chính sách ưu đãi đủ sức hấp dẫn để đáp ứng nhu cầu về nhân lực công nghệ thông tin; đồng thời Nhà nước cũng cần có chiến lược để xây dựng cho được nền công nghiệp điện tử và vật liệu ngang tầm với khu vực hoặc thế giới để tự chủ về nghiên cứu, thiết kế, sản xuất thiết bị phục vụ cho hạ tầng thông tin - viễn thông.

(ii) Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử

Do tính đặc thù nên quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình các cá nhân tổ chức tham gia hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Do đó, cần rà soát, đánh giá và bổ sung quy định về chống lệ thuộc công nghệ ngay trong các đạo luật có liên quan như Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử và Nghị định về thương mại điện tử… Việc bổ sung sẽ có ý nghĩa quan trọng, tiên lượng được các yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với nền tảng công nghệ phục vụ hoạt động thương mại điện tử. Đồng thời với việc bổ sung quy định về chống lệ thuộc công nghệ, cần phải nâng cao các tiêu chuẩn về hợp chuẩn chất lượng đối với các thiết bị, sản phẩm điện tử có liên quan đến hoạt động thương mại điện tử.

(iii) Các giải pháp khác

Ngoài các giải pháp đã nêu, việc tăng cường hợp tác quốc tế để tìm hiểu, tiếp thu các kinh nghiệm quốc tế về chống lệ thuộc công nghệ sẽ rút ngắn được thời gian khi xây dựng pháp luật. Việc tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp Việt Nam tiếp thu các chuẩn mực quốc tế về vấn đề này.

Tóm lại, việc xem xét nghiêm túc, đánh giá đúng tính chất, mức độ các nguy cơ cũng như rủi ro từ lệ thuộc công nghệ trong hoạt động thương mại điện tử sẽ giúp cho hoạt động thương mại điện tử được an toàn, ổn định và ít rủi ro hơn. Chống lệ thuộc công nghệ để bảo đảm an toàn hệ thống thông tin - viễn thông sẽ có tác động rất lớn đến các hoạt động thương mại điện tử. Khi đã thực hiện tốt việc bảo đảm an toàn thông tin trong hoạt động này sẽ khuyến khích các chủ thể tích cực tham gia vào hoạt động thương mại điện tử, tạo hiệu ứng tâm lý tích cực cho mọi chủ thể yên tâm rằng quyền được bảo vệ an toàn khi tham gia thương mại điện tử, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia hoạt động thương mại điện tử.

LS. Lê Văn Thiệp

Văn phòng Luật sư Toàn cầu

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: