Thứ năm 21/05/2026 23:43
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử

Hiện nay, ở Việt Nam, thương mại điện tử phát triển, các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính cũng được gia tăng, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như BIDV MetLife, Prudential, Cathay, Manulife, FWD… đều tiến hành giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử.

Hiện nay, ở Việt Nam, thương mại điện tử phát triển, các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính cũng được gia tăng, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như BIDV MetLife, Prudential, Cathay, Manulife, FWD… đều tiến hành giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Đặc biệt, các doanh nghiệp bảo hiểm đang hướng tới mục tiêu phát hành hợp đồng bảo hiểm điện tử và ngừng phát hành hợp đồng giấy để hiện thực hóa mục tiêu “paperless” (không giấy tờ). Trên thị trường, có thể điểm danh các doanh nghiệp bảo hiểm lớn đang xây dựng mục tiêu 100% “không giấy” như Prudential, Manulife hay Chubb Life[1].
Cho thấy, việc chuyển đổi số hóa của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ khi nhu cầu bảo vệ gia đình, con cái, vợ chồng… tránh những tổn thất, rủi ro bất ngờ xảy ra ngày càng nhiều.
1. Quy định về chữ ký điện tử, chữ ký số
Đối với hợp đồng truyền thống, dưới dạng vật chất nhất định như hợp đồng giấy người ta thường sử dụng chữ ký hoặc điểm chỉ nhằm thể hiện đúng chủ thể của việc giao kết hợp đồng, thì đối với các giao dịch điện tử, hiện nay, các cá nhân, cơ quan, tổ chức thường sử dụng chữ ký điện tử với nhiều cách thức khác nhau như chữ ký số, chữ ký hình ảnh, chữ ký âm thanh, chữ ký scan,… nhằm bảo đảm tính toàn vẹn của hợp đồng.
Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì: “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” (khoản 1 Điều 21). Trong đó, “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (khoản 2 Điều 4).
Các giao dịch điện tử đòi hỏi tính bảo mật cao, giá trị lớn hoặc theo sự thống nhất của các bên tham gia thì thường sử dụng một dạng chữ ký điện tử đặc thù đó chính là chữ ký số. Chữ ký số thường nhầm lẫn với chữ ký điện tử và nhầm lẫn có thể thay thế cho nhau.
“Chữ ký số” là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó, người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác: (i) Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trong cùng một cặp khóa; (ii) Sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên[2]. Như vậy, chữ ký số là một dạng của chữ ký điện tử dựa trên sự biến đối một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, là hệ thống mật mã có khả năng tạo được cặp khóa bí mật và khóa công khai. Khóa bí mật, khóa công khai đều là một khóa thuộc hệ thống mật mã không đối xứng, khóa bí mật được dùng để tạo chữ ký số, khóa công khai được sử dụng để kiểm tra chữ ký số được tạo bởi khóa bí mật tương ứng trong cặp khóa[3].
Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong trường hợp pháp luật quy định bằng văn bản tại Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (Nghị định số 130/2018/NĐ-CP) quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này”. Điều này có nghĩa là, để văn bản điện tử có giá trị pháp lý thì cần được ký bởi chữ ký số.
2. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.[4] Một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là chủ thể tham gia phải đảm bảo điều kiện về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của mình. Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận hình thức giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” (khoản 1 Điều 119). Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thừa nhận một cách rõ ràng hợp đồng điện tử có giá trị như văn bản.
Khoản 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2011, 2019 (Luật Kinh doanh bảo hiểm) định nghĩa như sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Bảo hiểm nhân thọ là “loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” (khoản 12 Điều 3) cho nên thuộc hợp đồng bảo hiểm con người. Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”.
Từ những quy định trên, tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử là: “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hay toàn bộ về việc thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử sẽ được lưu trữ dưới dạng các dữ liệu điện tử.
3. Chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử
Giao dịch điện tử giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm là giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết thông qua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu bằng các phương tiện điện tử là chứng từ điện tử trong hoạt động tài chính (hay còn gọi là chứng từ điện tử). Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản”. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì cần có một công cụ hỗ trợ cơ bản là chữ ký điện tử, bảo đảm đúng chủ thể tham gia hợp đồng.
Việc sử dụng chữ ký điện tử có mối liên hệ mật thiết với quy định bản gốc của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, từ đó, xác định được việc sử dụng chữ ký điện tử nào có giá trị pháp lý cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (Nghị định số 165/2018/NĐ-CP) quy định như sau: “2. Chứng từ điện tử có giá trị là bản gốc khi được thực hiện một trong các biện pháp sau: a) Chứng từ điện tử được ký số bởi cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khỏi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan theo quy định của pháp luật chuyên ngành. b) Hệ thống thông tin có biện pháp bảo đảm toàn vẹn chứng từ điện tử trong quá trình truyền gửi, nhận, lưu trữ trên hệ thống; ghi nhận cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã khởi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan đã tham gia xử lý chứng từ điện tử và áp dụng một trong các biện pháp sau để xác thực cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan tham gia xử lý chứng từ điện tử: Xác thực bằng chứng thư số, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên”.
Như vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử ngoài “ký số” thì có thể thực hiện việc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử bằng việc “xác thực bằng sinh trắc học”, “xác thực từ hai yếu tố trở lên”.
4. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị hoàn thiện
Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 165/2018/NĐ-CP không đề cập về hình thức chữ ký scan, chữ ký hình ảnh, chữ ký âm thanh… bằng việc gắn với tên, địa chỉ vào một thông điệp dữ liệu cần truyền tải... Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản”. Như vậy, chỉ cần “ký vào văn bản” (ký trực tiếp trên văn bản giấy hoặc chữ ký số trong các thông điệp dữ liệu) hoặc “hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” nếu hiểu trong ngữ cảnh về giao dịch điện tử là sử dụng chữ ký scan, chữ ký hình ảnh… Điều 15 Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về hình thức hợp đồng bảo hiểm: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Hình thức văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật” là hoàn toàn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại Điều 5 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP công nhận hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được coi là chứng từ điện tử trong hoạt động tài chính có giá trị là bản gốc khi được ký số, bằng chứng thư số, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên hoặc biện pháp khác đảm bảo được tính toàn vẹn của dữ liệu, tính xác thực, tính chống chối bỏ.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP (hướng dẫn Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005) về giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong trường hợp pháp luật quy định bằng văn bản) thì: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này”. Có nghĩa rằng, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử cần phải giao kết bằng chữ ký số mới được coi là có giá trị pháp lý.
Hoặc, quy định tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư (Nghị định số 30/2020/NĐ-CP) lại có quy định: 8. Bản gốc văn bản là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản, được người có thẩm quyền ký trực tiếp trên văn bản giấy hoặc ký số trên văn bản điện tử. 9. Bản chính văn bản giấy là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản, được tạo từ bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền” (khoản 8, 9 Điều 3)” giá trị pháp lý của văn bản điện tử được quy định như sau: “1. Văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. 2. Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật” (Điều 5). Do đó, tác giả hiểu rằng, chữ ký được thừa nhận trong các văn bản để đảm bảo cho tính toàn vẹn, chính xác của văn bản cần phải được “ký trực tiếp”, “ký số” mà không có hình thức ký khác được thừa nhận. Vậy phải chăng, quy định này có sự khác biệt xuất phát từ việc điều chỉnh đặc thù?
Về khái niệm chữ ký trong hoạt động ngân hàng tại khoản 8 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 thì: “Chữ ký là chữ ký bằng tay trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng của người có quyền và nghĩa vụ đối với công cụ chuyển nhượng hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật. Chữ ký của người đại diện của tổ chức trên công cụ chuyển nhượng phải kèm theo việc đóng dấu” thì phải ký trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng, mà đây cũng chính là hoạt động tài chính. Với những quy định này, tác giả cho rằng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020 và Nghị định số 165/2018/NĐ-CP chưa thực sự đồng bộ, chưa bao quát hết các quan hệ xã hội đã phát sinh và chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể là, nếu căn cứ vào Luật Giao dịch điện tử năm 2015, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP thì giá trị hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được công nhận nếu ký bằng chữ ký số. Nhưng nếu căn cứ vào Nghị định số 165/2018/NĐ-CP là hướng dẫn các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (Nghị định này cũng căn cứ vào Luật Giao dịch điện tử năm 2015) thì giá trị hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử lại được công nhận không chỉ nếu khi ký số mà còn bằng các phương thức khác như xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên.
Hơn nữa, hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm, quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, ngoài chữ ký số thì còn sử dụng thường xuyên các chữ ký điện tử là các chữ ký scan, chữ ký hình ảnh, ký trực tiếp lên ipad, điện thoại thông minh. Có doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng chữ ký sống trên “Văn bản xác nhận yêu cầu bảo hiểm qua EPOS”, sau đó thì sử dụng chữ ký hình ảnh cho cả quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Cũng có doanh nghiệp bảo hiểm thì trước đây cũng yêu cầu ký sống trên “Giấy xác nhận đồng ý tham gia bảo hiểm thông qua giao dịch điện tử nhưng một thời gian sau đó thì không còn yêu cầu ký sống trên văn bản xác nhận này, mà sử dụng mã OTP gửi về điện thoại và email và chỉ cần ký tên trên các “đường link” được doanh nghiệp bảo hiểm gửi đến. Hoặc như, đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử có thời gian bảo vệ ngắn, thường dưới một năm thì chỉ cần sử dụng mã xác nhận OTP điện thoại. Các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng tin nhắn, email gửi thông báo chấp nhận yêu cầu bảo hiểm bằng việc gửi các thông điệp dữ liệu (qua emai, tin nhắn) mà không cần “ký”.
Về vấn đề gửi OTP về điện thoại, tác giả cho rằng, đây là phương thức xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp. Bởi, “Sim chính chủ” hiện đang được quy định tại Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông, Điều 1 Nghị định số 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông. Tác giả cho rằng, cần có phương thức để doanh nghiệp bảo hiểm xác nhận, sim này là của chủ thể nào đó, để có thể đối chiếu với thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Tránh việc cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề này để tự ý giao kết cho các đối tượng không có quyền lợi bảo hiểm và “tự mình” chỉ định người thụ hưởng là mình để hưởng lợi. Đây cũng là rủi ro khi thực hiện phương thức xác nhận chủ thể giao kết hợp đồng bằng OTP điện thoại.
Mặt khác, việc giải quyết các tranh chấp của Tòa án về các vấn đề liên quan đến chữ ký cũng còn có những quan điểm giải quyết đối lập. Có trường hợp giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm đối với trường hợp giao dịch được thực hiện nhưng không có chữ ký vẫn được công nhận giao dịch đã được thực hiện. Cũng có trường hợp Tòa án khi xem xét các thỏa thuận được lập ra mà không có chữ ký hoặc chỉ có một bên ký, thì cho rằng những trường hợp như vậy không được coi là có sự thỏa thuận giữa các bên. Trong một vụ việc hủy phán quyết trọng tài, Tòa án đã trích dẫn Điều 385 Bộ luật Dân sự quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” và cho rằng, việc một giấy nhận nợ chỉ có các con nợ ký xác nhận nhưng không có xác nhận của chủ nợ (mặc dù chủ nợ chính là người đưa ra giấy nhận nợ này) thì không thể coi là có sự thỏa thuận giữa các bên và như vậy cũng không có thỏa thuận trọng tài[5].
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được giao kết qua môi trường internet, mạng viễn thông hoặc mạng mở khác luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các bên giao kết nếu không tìm hiểu kỹ về chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử có khả năng gánh chịu rủi ro.
Chính vì vậy, để khắc phục những bất cập còn tồn tại về chữ ký trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử như đã nêu tác giả kiến nghị cần có sự sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử năm 2015 và các văn bản hướng dẫn khác theo hướng chấp nhận “chữ ký hình ảnh, chữ ký scan, đoạn đánh máy tên và địa chỉ vào trong thông điệp dữ liệu gắn với thông điệp dữ liệu, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên hoặc biện pháp khác đảm bảo được tính toàn vẹn của dự liễu, tính xác thực, tính chống chối bỏ, mã OTP điện thoại” để tránh phát sinh các tranh chấp về sau, giảm nguy cơ các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử nói riêng vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, cũng như đảm bảo việc thống nhất về kỹ thuật lập pháp của các văn bản pháp luật.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất, cần có văn bản hướng dẫn cho phép doanh nghiệp bảo hiểm liên hệ với các doanh nghiệp viễn thông trong việc xác nhận thông tin chủ thể “sim chính chủ”, để xác định chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, loại trừ khả năng bên mua bảo hiểm là “một các nhân khác” với bên mua bảo hiểm trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, góp phần đảm bảo quyền lợi cho các bên trong giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Điều này, cũng góp phần nâng cao việc bảo vệ quyền lợi cho những người có khiếm khuyết về tay chân (không có tay để ký văn bản).

Nguyễn Thị Mến
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh


[1] Diễm Ngọc, Bảo hiểm nhân thọ “không giấy” có khả thi?, https://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/bao-hiem-nhan-tho-khong-giay-co-kha-thi-331797.html, truy cập ngày 26/7/2021.
[2] Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
[3] Khoản 4, 5 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
[4] Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Nguyễn Trung Nam, Trọng tài thương mại và CMCN 4.0: Thỏa thuận trọng tài được xác lập bằng truy cập website (browse-wrap) và nhấp chuột (click-wrap) - Giá trị pháp lý và thực tiễn áp dụng, https://www.viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/trong-tai-thuong-mai-va-cmcn-40-thoa-thuan-trong-tai-duoc-xac-lap-bang-truy-cap-website-browsewrap-va-nhap-chuot-clickwrap-gia-tri-phap-ly-va-thuc-tien-ap-dung-a1023.html, truy cập ngày 22/8/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: