Thứ bảy 05/09/2026 20:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử

Hiện nay, ở Việt Nam, thương mại điện tử phát triển, các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính cũng được gia tăng, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như BIDV MetLife, Prudential, Cathay, Manulife, FWD… đều tiến hành giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử.

Hiện nay, ở Việt Nam, thương mại điện tử phát triển, các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính cũng được gia tăng, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như BIDV MetLife, Prudential, Cathay, Manulife, FWD… đều tiến hành giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Đặc biệt, các doanh nghiệp bảo hiểm đang hướng tới mục tiêu phát hành hợp đồng bảo hiểm điện tử và ngừng phát hành hợp đồng giấy để hiện thực hóa mục tiêu “paperless” (không giấy tờ). Trên thị trường, có thể điểm danh các doanh nghiệp bảo hiểm lớn đang xây dựng mục tiêu 100% “không giấy” như Prudential, Manulife hay Chubb Life[1].
Cho thấy, việc chuyển đổi số hóa của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ khi nhu cầu bảo vệ gia đình, con cái, vợ chồng… tránh những tổn thất, rủi ro bất ngờ xảy ra ngày càng nhiều.
1. Quy định về chữ ký điện tử, chữ ký số
Đối với hợp đồng truyền thống, dưới dạng vật chất nhất định như hợp đồng giấy người ta thường sử dụng chữ ký hoặc điểm chỉ nhằm thể hiện đúng chủ thể của việc giao kết hợp đồng, thì đối với các giao dịch điện tử, hiện nay, các cá nhân, cơ quan, tổ chức thường sử dụng chữ ký điện tử với nhiều cách thức khác nhau như chữ ký số, chữ ký hình ảnh, chữ ký âm thanh, chữ ký scan,… nhằm bảo đảm tính toàn vẹn của hợp đồng.
Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì: “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” (khoản 1 Điều 21). Trong đó, “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (khoản 2 Điều 4).
Các giao dịch điện tử đòi hỏi tính bảo mật cao, giá trị lớn hoặc theo sự thống nhất của các bên tham gia thì thường sử dụng một dạng chữ ký điện tử đặc thù đó chính là chữ ký số. Chữ ký số thường nhầm lẫn với chữ ký điện tử và nhầm lẫn có thể thay thế cho nhau.
“Chữ ký số” là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó, người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác: (i) Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trong cùng một cặp khóa; (ii) Sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên[2]. Như vậy, chữ ký số là một dạng của chữ ký điện tử dựa trên sự biến đối một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, là hệ thống mật mã có khả năng tạo được cặp khóa bí mật và khóa công khai. Khóa bí mật, khóa công khai đều là một khóa thuộc hệ thống mật mã không đối xứng, khóa bí mật được dùng để tạo chữ ký số, khóa công khai được sử dụng để kiểm tra chữ ký số được tạo bởi khóa bí mật tương ứng trong cặp khóa[3].
Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong trường hợp pháp luật quy định bằng văn bản tại Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (Nghị định số 130/2018/NĐ-CP) quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này”. Điều này có nghĩa là, để văn bản điện tử có giá trị pháp lý thì cần được ký bởi chữ ký số.
2. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.[4] Một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là chủ thể tham gia phải đảm bảo điều kiện về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của mình. Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận hình thức giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” (khoản 1 Điều 119). Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thừa nhận một cách rõ ràng hợp đồng điện tử có giá trị như văn bản.
Khoản 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2011, 2019 (Luật Kinh doanh bảo hiểm) định nghĩa như sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Bảo hiểm nhân thọ là “loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” (khoản 12 Điều 3) cho nên thuộc hợp đồng bảo hiểm con người. Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”.
Từ những quy định trên, tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử là: “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hay toàn bộ về việc thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử sẽ được lưu trữ dưới dạng các dữ liệu điện tử.
3. Chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử
Giao dịch điện tử giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm là giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết thông qua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu bằng các phương tiện điện tử là chứng từ điện tử trong hoạt động tài chính (hay còn gọi là chứng từ điện tử). Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản”. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì cần có một công cụ hỗ trợ cơ bản là chữ ký điện tử, bảo đảm đúng chủ thể tham gia hợp đồng.
Việc sử dụng chữ ký điện tử có mối liên hệ mật thiết với quy định bản gốc của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, từ đó, xác định được việc sử dụng chữ ký điện tử nào có giá trị pháp lý cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (Nghị định số 165/2018/NĐ-CP) quy định như sau: “2. Chứng từ điện tử có giá trị là bản gốc khi được thực hiện một trong các biện pháp sau: a) Chứng từ điện tử được ký số bởi cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khỏi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan theo quy định của pháp luật chuyên ngành. b) Hệ thống thông tin có biện pháp bảo đảm toàn vẹn chứng từ điện tử trong quá trình truyền gửi, nhận, lưu trữ trên hệ thống; ghi nhận cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã khởi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan đã tham gia xử lý chứng từ điện tử và áp dụng một trong các biện pháp sau để xác thực cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan tham gia xử lý chứng từ điện tử: Xác thực bằng chứng thư số, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên”.
Như vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử ngoài “ký số” thì có thể thực hiện việc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử bằng việc “xác thực bằng sinh trắc học”, “xác thực từ hai yếu tố trở lên”.
4. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị hoàn thiện
Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 165/2018/NĐ-CP không đề cập về hình thức chữ ký scan, chữ ký hình ảnh, chữ ký âm thanh… bằng việc gắn với tên, địa chỉ vào một thông điệp dữ liệu cần truyền tải... Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản”. Như vậy, chỉ cần “ký vào văn bản” (ký trực tiếp trên văn bản giấy hoặc chữ ký số trong các thông điệp dữ liệu) hoặc “hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” nếu hiểu trong ngữ cảnh về giao dịch điện tử là sử dụng chữ ký scan, chữ ký hình ảnh… Điều 15 Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về hình thức hợp đồng bảo hiểm: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Hình thức văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật” là hoàn toàn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại Điều 5 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP công nhận hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được coi là chứng từ điện tử trong hoạt động tài chính có giá trị là bản gốc khi được ký số, bằng chứng thư số, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên hoặc biện pháp khác đảm bảo được tính toàn vẹn của dữ liệu, tính xác thực, tính chống chối bỏ.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP (hướng dẫn Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005) về giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong trường hợp pháp luật quy định bằng văn bản) thì: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này”. Có nghĩa rằng, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử cần phải giao kết bằng chữ ký số mới được coi là có giá trị pháp lý.
Hoặc, quy định tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư (Nghị định số 30/2020/NĐ-CP) lại có quy định: 8. Bản gốc văn bản là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản, được người có thẩm quyền ký trực tiếp trên văn bản giấy hoặc ký số trên văn bản điện tử. 9. Bản chính văn bản giấy là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản, được tạo từ bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền” (khoản 8, 9 Điều 3)” giá trị pháp lý của văn bản điện tử được quy định như sau: “1. Văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. 2. Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật” (Điều 5). Do đó, tác giả hiểu rằng, chữ ký được thừa nhận trong các văn bản để đảm bảo cho tính toàn vẹn, chính xác của văn bản cần phải được “ký trực tiếp”, “ký số” mà không có hình thức ký khác được thừa nhận. Vậy phải chăng, quy định này có sự khác biệt xuất phát từ việc điều chỉnh đặc thù?
Về khái niệm chữ ký trong hoạt động ngân hàng tại khoản 8 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 thì: “Chữ ký là chữ ký bằng tay trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng của người có quyền và nghĩa vụ đối với công cụ chuyển nhượng hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật. Chữ ký của người đại diện của tổ chức trên công cụ chuyển nhượng phải kèm theo việc đóng dấu” thì phải ký trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng, mà đây cũng chính là hoạt động tài chính. Với những quy định này, tác giả cho rằng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020 và Nghị định số 165/2018/NĐ-CP chưa thực sự đồng bộ, chưa bao quát hết các quan hệ xã hội đã phát sinh và chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể là, nếu căn cứ vào Luật Giao dịch điện tử năm 2015, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP thì giá trị hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được công nhận nếu ký bằng chữ ký số. Nhưng nếu căn cứ vào Nghị định số 165/2018/NĐ-CP là hướng dẫn các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (Nghị định này cũng căn cứ vào Luật Giao dịch điện tử năm 2015) thì giá trị hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử lại được công nhận không chỉ nếu khi ký số mà còn bằng các phương thức khác như xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên.
Hơn nữa, hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm, quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, ngoài chữ ký số thì còn sử dụng thường xuyên các chữ ký điện tử là các chữ ký scan, chữ ký hình ảnh, ký trực tiếp lên ipad, điện thoại thông minh. Có doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng chữ ký sống trên “Văn bản xác nhận yêu cầu bảo hiểm qua EPOS”, sau đó thì sử dụng chữ ký hình ảnh cho cả quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Cũng có doanh nghiệp bảo hiểm thì trước đây cũng yêu cầu ký sống trên “Giấy xác nhận đồng ý tham gia bảo hiểm thông qua giao dịch điện tử nhưng một thời gian sau đó thì không còn yêu cầu ký sống trên văn bản xác nhận này, mà sử dụng mã OTP gửi về điện thoại và email và chỉ cần ký tên trên các “đường link” được doanh nghiệp bảo hiểm gửi đến. Hoặc như, đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử có thời gian bảo vệ ngắn, thường dưới một năm thì chỉ cần sử dụng mã xác nhận OTP điện thoại. Các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng tin nhắn, email gửi thông báo chấp nhận yêu cầu bảo hiểm bằng việc gửi các thông điệp dữ liệu (qua emai, tin nhắn) mà không cần “ký”.
Về vấn đề gửi OTP về điện thoại, tác giả cho rằng, đây là phương thức xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp. Bởi, “Sim chính chủ” hiện đang được quy định tại Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông, Điều 1 Nghị định số 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông. Tác giả cho rằng, cần có phương thức để doanh nghiệp bảo hiểm xác nhận, sim này là của chủ thể nào đó, để có thể đối chiếu với thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Tránh việc cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề này để tự ý giao kết cho các đối tượng không có quyền lợi bảo hiểm và “tự mình” chỉ định người thụ hưởng là mình để hưởng lợi. Đây cũng là rủi ro khi thực hiện phương thức xác nhận chủ thể giao kết hợp đồng bằng OTP điện thoại.
Mặt khác, việc giải quyết các tranh chấp của Tòa án về các vấn đề liên quan đến chữ ký cũng còn có những quan điểm giải quyết đối lập. Có trường hợp giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm đối với trường hợp giao dịch được thực hiện nhưng không có chữ ký vẫn được công nhận giao dịch đã được thực hiện. Cũng có trường hợp Tòa án khi xem xét các thỏa thuận được lập ra mà không có chữ ký hoặc chỉ có một bên ký, thì cho rằng những trường hợp như vậy không được coi là có sự thỏa thuận giữa các bên. Trong một vụ việc hủy phán quyết trọng tài, Tòa án đã trích dẫn Điều 385 Bộ luật Dân sự quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” và cho rằng, việc một giấy nhận nợ chỉ có các con nợ ký xác nhận nhưng không có xác nhận của chủ nợ (mặc dù chủ nợ chính là người đưa ra giấy nhận nợ này) thì không thể coi là có sự thỏa thuận giữa các bên và như vậy cũng không có thỏa thuận trọng tài[5].
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được giao kết qua môi trường internet, mạng viễn thông hoặc mạng mở khác luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các bên giao kết nếu không tìm hiểu kỹ về chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử có khả năng gánh chịu rủi ro.
Chính vì vậy, để khắc phục những bất cập còn tồn tại về chữ ký trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử như đã nêu tác giả kiến nghị cần có sự sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử năm 2015 và các văn bản hướng dẫn khác theo hướng chấp nhận “chữ ký hình ảnh, chữ ký scan, đoạn đánh máy tên và địa chỉ vào trong thông điệp dữ liệu gắn với thông điệp dữ liệu, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên hoặc biện pháp khác đảm bảo được tính toàn vẹn của dự liễu, tính xác thực, tính chống chối bỏ, mã OTP điện thoại” để tránh phát sinh các tranh chấp về sau, giảm nguy cơ các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử nói riêng vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, cũng như đảm bảo việc thống nhất về kỹ thuật lập pháp của các văn bản pháp luật.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất, cần có văn bản hướng dẫn cho phép doanh nghiệp bảo hiểm liên hệ với các doanh nghiệp viễn thông trong việc xác nhận thông tin chủ thể “sim chính chủ”, để xác định chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, loại trừ khả năng bên mua bảo hiểm là “một các nhân khác” với bên mua bảo hiểm trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, góp phần đảm bảo quyền lợi cho các bên trong giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Điều này, cũng góp phần nâng cao việc bảo vệ quyền lợi cho những người có khiếm khuyết về tay chân (không có tay để ký văn bản).

Nguyễn Thị Mến
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh


[1] Diễm Ngọc, Bảo hiểm nhân thọ “không giấy” có khả thi?, https://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/bao-hiem-nhan-tho-khong-giay-co-kha-thi-331797.html, truy cập ngày 26/7/2021.
[2] Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
[3] Khoản 4, 5 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
[4] Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Nguyễn Trung Nam, Trọng tài thương mại và CMCN 4.0: Thỏa thuận trọng tài được xác lập bằng truy cập website (browse-wrap) và nhấp chuột (click-wrap) - Giá trị pháp lý và thực tiễn áp dụng, https://www.viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/trong-tai-thuong-mai-va-cmcn-40-thoa-thuan-trong-tai-duoc-xac-lap-bang-truy-cap-website-browsewrap-va-nhap-chuot-clickwrap-gia-tri-phap-ly-va-thuc-tien-ap-dung-a1023.html, truy cập ngày 22/8/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: