Thứ sáu 16/01/2026 01:29
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử

Hiện nay, ở Việt Nam, thương mại điện tử phát triển, các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính cũng được gia tăng, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như BIDV MetLife, Prudential, Cathay, Manulife, FWD… đều tiến hành giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử.

Hiện nay, ở Việt Nam, thương mại điện tử phát triển, các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính cũng được gia tăng, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như BIDV MetLife, Prudential, Cathay, Manulife, FWD… đều tiến hành giao kết, thực hiện hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Đặc biệt, các doanh nghiệp bảo hiểm đang hướng tới mục tiêu phát hành hợp đồng bảo hiểm điện tử và ngừng phát hành hợp đồng giấy để hiện thực hóa mục tiêu “paperless” (không giấy tờ). Trên thị trường, có thể điểm danh các doanh nghiệp bảo hiểm lớn đang xây dựng mục tiêu 100% “không giấy” như Prudential, Manulife hay Chubb Life[1].
Cho thấy, việc chuyển đổi số hóa của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đang ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường bảo hiểm nhân thọ khi nhu cầu bảo vệ gia đình, con cái, vợ chồng… tránh những tổn thất, rủi ro bất ngờ xảy ra ngày càng nhiều.
1. Quy định về chữ ký điện tử, chữ ký số
Đối với hợp đồng truyền thống, dưới dạng vật chất nhất định như hợp đồng giấy người ta thường sử dụng chữ ký hoặc điểm chỉ nhằm thể hiện đúng chủ thể của việc giao kết hợp đồng, thì đối với các giao dịch điện tử, hiện nay, các cá nhân, cơ quan, tổ chức thường sử dụng chữ ký điện tử với nhiều cách thức khác nhau như chữ ký số, chữ ký hình ảnh, chữ ký âm thanh, chữ ký scan,… nhằm bảo đảm tính toàn vẹn của hợp đồng.
Theo Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì: “Chữ ký điện tử được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký” (khoản 1 Điều 21). Trong đó, “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (khoản 2 Điều 4).
Các giao dịch điện tử đòi hỏi tính bảo mật cao, giá trị lớn hoặc theo sự thống nhất của các bên tham gia thì thường sử dụng một dạng chữ ký điện tử đặc thù đó chính là chữ ký số. Chữ ký số thường nhầm lẫn với chữ ký điện tử và nhầm lẫn có thể thay thế cho nhau.
“Chữ ký số” là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó, người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác: (i) Việc biến đổi nêu trên được tạo ra bằng đúng khóa bí mật tương ứng với khóa công khai trong cùng một cặp khóa; (ii) Sự toàn vẹn nội dung của thông điệp dữ liệu kể từ khi thực hiện việc biến đổi nêu trên[2]. Như vậy, chữ ký số là một dạng của chữ ký điện tử dựa trên sự biến đối một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, là hệ thống mật mã có khả năng tạo được cặp khóa bí mật và khóa công khai. Khóa bí mật, khóa công khai đều là một khóa thuộc hệ thống mật mã không đối xứng, khóa bí mật được dùng để tạo chữ ký số, khóa công khai được sử dụng để kiểm tra chữ ký số được tạo bởi khóa bí mật tương ứng trong cặp khóa[3].
Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong trường hợp pháp luật quy định bằng văn bản tại Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số (Nghị định số 130/2018/NĐ-CP) quy định: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này”. Điều này có nghĩa là, để văn bản điện tử có giá trị pháp lý thì cần được ký bởi chữ ký số.
2. Khái niệm hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử
Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.[4] Một trong những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng là chủ thể tham gia phải đảm bảo điều kiện về năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của mình. Bộ luật Dân sự năm 2015 lần đầu tiên ghi nhận hình thức giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản” (khoản 1 Điều 119). Như vậy, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã thừa nhận một cách rõ ràng hợp đồng điện tử có giá trị như văn bản.
Khoản 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, sửa đổi, bổ sung năm 2011, 2019 (Luật Kinh doanh bảo hiểm) định nghĩa như sau: “Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Bảo hiểm nhân thọ là “loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” (khoản 12 Điều 3) cho nên thuộc hợp đồng bảo hiểm con người. Điều 33 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 định nghĩa: “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu”.
Từ những quy định trên, tác giả đưa ra khái niệm về hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử là: “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hay toàn bộ về việc thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử sẽ được lưu trữ dưới dạng các dữ liệu điện tử.
3. Chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử
Giao dịch điện tử giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân trong các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm là giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được ký kết thông qua việc trao đổi các thông điệp dữ liệu bằng các phương tiện điện tử là chứng từ điện tử trong hoạt động tài chính (hay còn gọi là chứng từ điện tử). Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản”. Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì cần có một công cụ hỗ trợ cơ bản là chữ ký điện tử, bảo đảm đúng chủ thể tham gia hợp đồng.
Việc sử dụng chữ ký điện tử có mối liên hệ mật thiết với quy định bản gốc của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, từ đó, xác định được việc sử dụng chữ ký điện tử nào có giá trị pháp lý cho hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Tại khoản 2 Điều 5 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP ngày 24/12/2018 của Chính phủ về giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (Nghị định số 165/2018/NĐ-CP) quy định như sau: “2. Chứng từ điện tử có giá trị là bản gốc khi được thực hiện một trong các biện pháp sau: a) Chứng từ điện tử được ký số bởi cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khỏi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan theo quy định của pháp luật chuyên ngành. b) Hệ thống thông tin có biện pháp bảo đảm toàn vẹn chứng từ điện tử trong quá trình truyền gửi, nhận, lưu trữ trên hệ thống; ghi nhận cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã khởi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan đã tham gia xử lý chứng từ điện tử và áp dụng một trong các biện pháp sau để xác thực cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi tạo chứng từ điện tử và cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có trách nhiệm liên quan tham gia xử lý chứng từ điện tử: Xác thực bằng chứng thư số, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên”.
Như vậy, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử ngoài “ký số” thì có thể thực hiện việc giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử bằng việc “xác thực bằng sinh trắc học”, “xác thực từ hai yếu tố trở lên”.
4. Một số vấn đề đặt ra và kiến nghị hoàn thiện
Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 165/2018/NĐ-CP không đề cập về hình thức chữ ký scan, chữ ký hình ảnh, chữ ký âm thanh… bằng việc gắn với tên, địa chỉ vào một thông điệp dữ liệu cần truyền tải... Bên cạnh đó, tại khoản 4 Điều 400 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản”. Như vậy, chỉ cần “ký vào văn bản” (ký trực tiếp trên văn bản giấy hoặc chữ ký số trong các thông điệp dữ liệu) hoặc “hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” nếu hiểu trong ngữ cảnh về giao dịch điện tử là sử dụng chữ ký scan, chữ ký hình ảnh… Điều 15 Dự thảo Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định về hình thức hợp đồng bảo hiểm: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Hình thức văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật” là hoàn toàn phù hợp với Bộ luật Dân sự năm 2015. Tại Điều 5 Nghị định số 165/2018/NĐ-CP công nhận hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được coi là chứng từ điện tử trong hoạt động tài chính có giá trị là bản gốc khi được ký số, bằng chứng thư số, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên hoặc biện pháp khác đảm bảo được tính toàn vẹn của dữ liệu, tính xác thực, tính chống chối bỏ.
Trong khi đó, khoản 1 Điều 8 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP (hướng dẫn Điều 24 Luật Giao dịch điện tử năm 2005) về giá trị pháp lý của chữ ký điện tử trong trường hợp pháp luật quy định bằng văn bản) thì: “Trong trường hợp pháp luật quy định văn bản cần có chữ ký thì yêu cầu đối với một thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng nếu thông điệp dữ liệu đó được ký bằng chữ ký số và chữ ký số đó được đảm bảo an toàn theo quy định tại Điều 9 Nghị định này”. Có nghĩa rằng, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử cần phải giao kết bằng chữ ký số mới được coi là có giá trị pháp lý.
Hoặc, quy định tại Nghị định số 30/2020/NĐ-CP ngày 05/3/2020 của Chính phủ về công tác văn thư (Nghị định số 30/2020/NĐ-CP) lại có quy định: 8. Bản gốc văn bản là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản, được người có thẩm quyền ký trực tiếp trên văn bản giấy hoặc ký số trên văn bản điện tử. 9. Bản chính văn bản giấy là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản, được tạo từ bản có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền” (khoản 8, 9 Điều 3)” giá trị pháp lý của văn bản điện tử được quy định như sau: “1. Văn bản điện tử được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có giá trị pháp lý như bản gốc văn bản giấy. 2. Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật” (Điều 5). Do đó, tác giả hiểu rằng, chữ ký được thừa nhận trong các văn bản để đảm bảo cho tính toàn vẹn, chính xác của văn bản cần phải được “ký trực tiếp”, “ký số” mà không có hình thức ký khác được thừa nhận. Vậy phải chăng, quy định này có sự khác biệt xuất phát từ việc điều chỉnh đặc thù?
Về khái niệm chữ ký trong hoạt động ngân hàng tại khoản 8 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 thì: “Chữ ký là chữ ký bằng tay trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng của người có quyền và nghĩa vụ đối với công cụ chuyển nhượng hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật. Chữ ký của người đại diện của tổ chức trên công cụ chuyển nhượng phải kèm theo việc đóng dấu” thì phải ký trực tiếp trên công cụ chuyển nhượng, mà đây cũng chính là hoạt động tài chính. Với những quy định này, tác giả cho rằng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020 và Nghị định số 165/2018/NĐ-CP chưa thực sự đồng bộ, chưa bao quát hết các quan hệ xã hội đã phát sinh và chưa thống nhất với Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể là, nếu căn cứ vào Luật Giao dịch điện tử năm 2015, Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP thì giá trị hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được công nhận nếu ký bằng chữ ký số. Nhưng nếu căn cứ vào Nghị định số 165/2018/NĐ-CP là hướng dẫn các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính (Nghị định này cũng căn cứ vào Luật Giao dịch điện tử năm 2015) thì giá trị hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử lại được công nhận không chỉ nếu khi ký số mà còn bằng các phương thức khác như xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên.
Hơn nữa, hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm, quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, ngoài chữ ký số thì còn sử dụng thường xuyên các chữ ký điện tử là các chữ ký scan, chữ ký hình ảnh, ký trực tiếp lên ipad, điện thoại thông minh. Có doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng chữ ký sống trên “Văn bản xác nhận yêu cầu bảo hiểm qua EPOS”, sau đó thì sử dụng chữ ký hình ảnh cho cả quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Cũng có doanh nghiệp bảo hiểm thì trước đây cũng yêu cầu ký sống trên “Giấy xác nhận đồng ý tham gia bảo hiểm thông qua giao dịch điện tử nhưng một thời gian sau đó thì không còn yêu cầu ký sống trên văn bản xác nhận này, mà sử dụng mã OTP gửi về điện thoại và email và chỉ cần ký tên trên các “đường link” được doanh nghiệp bảo hiểm gửi đến. Hoặc như, đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử có thời gian bảo vệ ngắn, thường dưới một năm thì chỉ cần sử dụng mã xác nhận OTP điện thoại. Các doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng tin nhắn, email gửi thông báo chấp nhận yêu cầu bảo hiểm bằng việc gửi các thông điệp dữ liệu (qua emai, tin nhắn) mà không cần “ký”.
Về vấn đề gửi OTP về điện thoại, tác giả cho rằng, đây là phương thức xác nhận của doanh nghiệp bảo hiểm phù hợp. Bởi, “Sim chính chủ” hiện đang được quy định tại Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông, Điều 1 Nghị định số 49/2017/NĐ-CP ngày 24/4/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 15 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Viễn thông. Tác giả cho rằng, cần có phương thức để doanh nghiệp bảo hiểm xác nhận, sim này là của chủ thể nào đó, để có thể đối chiếu với thông tin mà bên mua bảo hiểm cung cấp trong quá trình giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Tránh việc cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề này để tự ý giao kết cho các đối tượng không có quyền lợi bảo hiểm và “tự mình” chỉ định người thụ hưởng là mình để hưởng lợi. Đây cũng là rủi ro khi thực hiện phương thức xác nhận chủ thể giao kết hợp đồng bằng OTP điện thoại.
Mặt khác, việc giải quyết các tranh chấp của Tòa án về các vấn đề liên quan đến chữ ký cũng còn có những quan điểm giải quyết đối lập. Có trường hợp giải quyết tranh chấp về hợp đồng bảo hiểm đối với trường hợp giao dịch được thực hiện nhưng không có chữ ký vẫn được công nhận giao dịch đã được thực hiện. Cũng có trường hợp Tòa án khi xem xét các thỏa thuận được lập ra mà không có chữ ký hoặc chỉ có một bên ký, thì cho rằng những trường hợp như vậy không được coi là có sự thỏa thuận giữa các bên. Trong một vụ việc hủy phán quyết trọng tài, Tòa án đã trích dẫn Điều 385 Bộ luật Dân sự quy định: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự” và cho rằng, việc một giấy nhận nợ chỉ có các con nợ ký xác nhận nhưng không có xác nhận của chủ nợ (mặc dù chủ nợ chính là người đưa ra giấy nhận nợ này) thì không thể coi là có sự thỏa thuận giữa các bên và như vậy cũng không có thỏa thuận trọng tài[5].
Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử được giao kết qua môi trường internet, mạng viễn thông hoặc mạng mở khác luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Các bên giao kết nếu không tìm hiểu kỹ về chữ ký điện tử trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử có khả năng gánh chịu rủi ro.
Chính vì vậy, để khắc phục những bất cập còn tồn tại về chữ ký trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử như đã nêu tác giả kiến nghị cần có sự sửa đổi, bổ sung Luật Giao dịch điện tử năm 2015 và các văn bản hướng dẫn khác theo hướng chấp nhận “chữ ký hình ảnh, chữ ký scan, đoạn đánh máy tên và địa chỉ vào trong thông điệp dữ liệu gắn với thông điệp dữ liệu, xác thực bằng sinh trắc học, xác thực từ hai yếu tố trở lên trong đó có yếu tố là mã xác thực dùng một lần hoặc mã xác thực ngẫu nhiên hoặc biện pháp khác đảm bảo được tính toàn vẹn của dự liễu, tính xác thực, tính chống chối bỏ, mã OTP điện thoại” để tránh phát sinh các tranh chấp về sau, giảm nguy cơ các giao dịch điện tử trong hoạt động tài chính nói chung, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử nói riêng vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức, cũng như đảm bảo việc thống nhất về kỹ thuật lập pháp của các văn bản pháp luật.
Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất, cần có văn bản hướng dẫn cho phép doanh nghiệp bảo hiểm liên hệ với các doanh nghiệp viễn thông trong việc xác nhận thông tin chủ thể “sim chính chủ”, để xác định chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, loại trừ khả năng bên mua bảo hiểm là “một các nhân khác” với bên mua bảo hiểm trên hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử, góp phần đảm bảo quyền lợi cho các bên trong giao kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ điện tử. Điều này, cũng góp phần nâng cao việc bảo vệ quyền lợi cho những người có khiếm khuyết về tay chân (không có tay để ký văn bản).

Nguyễn Thị Mến
Đoàn Luật sư TP. Hồ Chí Minh


[1] Diễm Ngọc, Bảo hiểm nhân thọ “không giấy” có khả thi?, https://tapchitaichinh.vn/bao-hiem/bao-hiem-nhan-tho-khong-giay-co-kha-thi-331797.html, truy cập ngày 26/7/2021.
[2] Khoản 6 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
[3] Khoản 4, 5 Điều 3 Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27/9/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.
[4] Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Nguyễn Trung Nam, Trọng tài thương mại và CMCN 4.0: Thỏa thuận trọng tài được xác lập bằng truy cập website (browse-wrap) và nhấp chuột (click-wrap) - Giá trị pháp lý và thực tiễn áp dụng, https://www.viac.vn/goc-nhin-trong-tai-vien/trong-tai-thuong-mai-va-cmcn-40-thoa-thuan-trong-tai-duoc-xac-lap-bang-truy-cap-website-browsewrap-va-nhap-chuot-clickwrap-gia-tri-phap-ly-va-thuc-tien-ap-dung-a1023.html, truy cập ngày 22/8/2021.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: