Thứ năm 22/01/2026 11:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chủ thể xác minh điều kiện thi hành án

Vấn đề xác minh điều kiện thi hành án nói chung và chủ thể xác minh nói riêng, trải qua các thời kỳ, pháp luật đã có những sửa đổi, bổ sung nhằm khắc phục hạn chế phát sinh trong thực tiễn thi hành. Chẳng hạn như, để giảm tải gánh nặng cho chấp hành viên, pháp luật đã bổ sung người được thi hành án và tiếp đó là thừa phát lại được tiến hành hoạt động xác minh điều kiện thi hành án; sửa đổi để tạo sự chủ động cho chấp hành viên trong thực hiện hoạt động này; gỡ “khó” cho người được thi hành án khi sửa đổi từ việc quy định xác minh là “nghĩa vụ” được chuyển thành “quyền” của họ…

Cho đến nay, đối với chủ thể xác minh điều kiện thi hành án, pháp luật hiện hành ghi nhận sự tồn tại song song của ba chủ thể là chấp hành viên, thừa phát lại và người được thi hành án. Mặc dù vậy, những bất cập, vướng mắc trong thi hành các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn tồn tại, ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác thi hành án nói chung và xác minh điều kiện thi hành án nói riêng. Điều này đòi hỏi pháp luật cần tiếp tục được nghiên cứu chỉnh sửa để đáp ứng, phù hợp hơn với yêu cầu của thực tiễn. Trong phạm vi bài viết, tác giả phân tích những ưu điểm cũng như hạn chế, vướng mắc của quy định pháp luật về từng chủ thể xác minh điều kiện thi hành án, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện về vấn đề này.


1. Chấp hành viên

Kể từ thời điểm hoạt động tổ chức thi hành án dân sự được chuyển giao cho Bộ Tư pháp quản lý và với sự ra đời của Pháp lệnh về Thi hành án dân sự năm 1989, nhiệm vụ xác minh điều kiện thi hành án được giao cho chấp hành viên. Đến năm 2008, để giảm gánh nặng cho chấp hành viên trong hoàn cảnh ngày càng có nhiều vụ việc thi hành án cũng như để nâng cao trách nhiệm của người được thi hành án trong việc tìm kiếm, xác định điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định chủ thể tiến hành hoạt động xác minh gồm hai chủ thể là người được thi hành án và chấp hành viên. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì chấp hành viên chỉ chủ động tiến hành xác minh điều kiện thi hành án trong trường hợp chủ động ra quyết định thi hành án, còn trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu thì chấp hành viên chỉ tiến hành xác minh khi người được thi hành án có đơn yêu cầu với tài liệu chứng minh đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Tuy nhiên, quy định này gặp phải những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng như các cơ quan, tổ chức không cung cấp thông tin về điều kiện thi hành án cho người được thi hành án[1], kết quả xác minh của người được thi hành án không đủ độ tin cậy[2]. Đồng thời, khi người được thi hành án quay trở lại đề nghị chấp hành viên tiến hành xác minh thì vướng phải thủ tục pháp lý phức tạp, gây khó khăn cho cả người được thi hành án khi tiến hành yêu cầu cũng như chấp hành viên tiến hành xác minh, khiến cho việc thi hành án bị hủy do cách hiểu khác nhau khi áp dụng quy định này[3]. Trước những khó khăn, vướng mắc đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 (Luật sửa đổi năm 2014) đã thay đổi cách tiếp cận về vấn đề chủ thể xác minh, theo đó, chấp hành viên lại trở về là chủ thể chủ yếu tiến hành hoạt động xác minh điều kiện thi hành án. Cụ thể: Luật sửa đổi năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung Điều 44, theo đó, sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay”; bổ sung khoản 6, khoản 7 quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc xác minh điều kiện thi hành án.

Quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân như trên không phải là một quy định hoàn toàn mới, bởi vì ngay trong Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự đã có quy định về nghĩa vụ phải cung cấp thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong xác minh điều kiện thi hành án (khoản 1 Điều 6). Tuy nhiên, thực tế triển khai quy định này cho thấy, mặc dù tình trạng không cung cấp thông tin hoặc trì hoãn việc cung cấp thông tin vẫn còn tồn tại nhưng chưa có bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào bị xử lý hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại về hành vi này. Việc các cơ quan thi hành án dân sự hầu như không áp dụng quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi nêu trên xuất phát từ những lý do sau: (i) Mức xử phạt thấp, chưa đủ sức “răn đe” người có hành vi vi phạm[4]; (ii) Thủ tục để xử phạt và thu tiền phạt theo quyết định xử phạt thì phức tạp, “nhiêu khê”. Cụ thể như: Theo quy định của pháp luật, chấp hành viên chỉ có quyền phạt tiền với mức tối đa là 500.000 đồng[5], do vậy, người có quyền xử phạt thường lại không phải là chấp hành viên, bên cạnh đó, sau khi ra quyết định xử phạt, người đã ra quyết định xử phạt có trách nhiệm theo dõi việc thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính và phải áp dụng biện pháp cưỡng chế trong trường hợp người vi phạm không tự nguyện thi hành, nên rất dễ xảy ra tình trạng người có thẩm quyền “né tránh” rắc rối bằng cách không xử phạt; (iii) Hoạt động xác minh điều kiện thi hành án cần có sự phối hợp của nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức, tuy nhiên, pháp luật lại chưa có quy định cụ thể về cách thức xử lý những vi phạm của các cán bộ, công chức, cơ quan này trong việc không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ cho chấp hành viên.

Như vậy, mặc dù pháp luật thi hành án dân sự đã trao cho chấp hành viên quyền được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh tài sản của người phải thi hành án nhưng hành lang pháp lý để đảm bảo cho quyền đó được thực thi trên thực tế còn quá “sơ sài” nên tình trạng vi phạm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân về vấn đề cung cấp thông tin vẫn còn phổ biến, đặc biệt là đối với ngân hàng, các tổ chức tín dụng với các “thủ đoạn” hết sức tinh vi. Vì vậy, tác giả cho rằng, pháp luật cần phải có quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc phối hợp với chấp hành viên xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.

2. Thừa phát lại

Thừa phát lại là người có đủ tiêu chuẩn được Nhà nước bổ nhiệm để thực hiện tống đạt, lập vi bằng, xác minh điều kiện thi hành án dân sự, tổ chức thi hành án dân sự[6]. Thừa phát lại thực hiện công việc được giao trong tổ chức hành nghề là Văn phòng Thừa phát lại và Văn phòng Thừa phát lại có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính[7]. Một trong những căn cứ cho sự ra đời và tồn tại của thừa phát lại là chủ trương xã hội hóa một số hoạt động bổ trợ tư pháp được đề cập trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020[8]. Vì vậy, tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (Nghị định số 61/2009/NĐ-CP) đã xác định xác minh điều kiện thi hành án là một nhiệm vụ của thừa phát lại (khoản 3 Điều 3). Ngoài ra, một công việc khác mà thừa phát lại cũng được thực hiện đó là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Trong trình tự tổ chức thi hành án, thừa phát lại phải tiến hành xác minh điều kiện thi hành án. Ngày 08/01/2020, Nghị định số 08/2020/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP) được ban hành đã thay thế Nghị định số 61/2009/NĐ-CP. Nghị định số 08/2020/NĐ-CP tiếp tục quy định xác minh điều kiện thi hành án và tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự là công việc của thừa phát lại. Theo đó, thừa phát lại được “xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”[9] và “tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự”[10].

Như vậy, có thể thấy, nhiệm vụ xác minh của thừa phát lại sẽ phát sinh trong những trường hợp sau:

(i) Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

Trong trường hợp này, nhiệm vụ xác minh của thừa phát lại chỉ bắt đầu khi đáp ứng được điều kiện là có yêu cầu của đương sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Khác với chấp hành viên, là người có nhiệm vụ xác minh điều kiện thi hành án như là một thủ tục buộc phải thực hiện trong trình tự, thủ tục thi hành án, thừa phát lại là người xác minh điều kiện thi hành án trên cơ sở hợp đồng được ký với người được thi hành án, thực hiện theo yêu cầu của người được thi hành án, do đó, nghĩa vụ của thừa phát lại phụ thuộc vào hợp đồng mà họ đã ký kết với đương sự. Nếu nhìn dưới góc độ xác minh theo yêu cầu của đương sự thì rõ ràng, việc quy định nghĩa vụ cho thừa phát lại là không cần thiết vì họ sẽ tiến hành xác minh trên cơ sở hợp đồng, nếu họ vi phạm thì sẽ xử lý bằng những cam kết được xây dựng, soạn thảo trong hợp đồng đã ký. Vì vậy, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP và Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đều không đề cập đến nghĩa vụ của thừa phát lại khi xác minh điều kiện thi hành án mà để các bên ký kết hợp đồng chủ động quy định và thảo luận quyền, nghĩa vụ cụ thể trong hợp đồng.

Giống như chức danh công chứng viên, khi thực hiện quyền xác minh điều kiện thi hành án, thừa phát lại cũng bị hạn chế bởi thẩm quyền theo địa hạt[11].

Để đảm bảo cho công việc xác minh của thừa phát lại, Điều 50 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan khi nhận được đề nghị của thừa phát lại.

Đồng thời, trước đó, giữa Bộ Tư pháp và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ký kết Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-BTP-NHNNVN ngày 17/01/2014 hướng dẫn việc xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại tại các tổ chức tín dụng, trong đó nêu rõ trách nhiệm của các ngân hàng, tổ chức tín dụng trong việc cung cấp thông tin về tài khoản khi thừa phát lại có yêu cầu.

Mặc dù vậy, thực tế triển khai hoạt động xác minh điều kiện thi hành án, thừa phát lại vẫn gặp những trở ngại do nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động xác minh chưa biết đến sự xuất hiện và tồn tại của chế định thừa phát lại. Bên cạnh đó, pháp luật chỉ quy định trách nhiệm trong trường hợp cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án mà không quy định trách nhiệm trong trường hợp không cung cấp thông tin. Đồng thời, những quy định chung chung về trách nhiệm mà không có chế tài đi kèm với nó khiến cho việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp thông tin sai sự thật cũng không thể xử lý được sai phạm của họ[12].

(ii) Xác minh điều kiện thi hành án khi tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự

Đây là trường hợp thừa phát lại được giao nhiệm vụ tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự. Trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án, thừa phát lại phải tiến hành các trình tự, thủ tục như thông báo các quyết định, các văn bản khác về thi hành án cho các bên đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; xác minh điều kiện thi hành án của đương sự; thuyết phục các bên tự nguyện thi hành án và ghi nhận sự tự nguyện của các bên đương sự. Như vậy, xác minh điều kiện thi hành án là một trong những công việc thuộc trình tự, thủ tục tổ chức thi hành bản án, quyết định. Do đó, khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn tổ chức thi hành án của thừa phát lại, Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP đã quy định thừa phát lại có nhiệm vụ, quyền hạn “Xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án”. Rõ ràng, quy định này đã giao cho thừa phát lại nhiệm vụ xác minh giống với chấp hành viên khi tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, khác với chấp hành viên, khoản 2 Điều 52 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP quy định, khi tổ chức thi hành án, thừa phát lại không được xử phạt vi phạm hành chính.

Do vậy, để tiếp tục thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa công tác thi hành án, pháp luật cần quy định cụ thể hơn về quyền của thừa phát lại cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình xác minh điều kiện thi hành án của thừa phát lại.

3. Người được thi hành án

Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho nhiệm vụ xác minh của người được thi hành án. Khoản 1 Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 quy định: “… Trường hợp thi hành án theo đơn yêu cầu, nếu người được thi hành án đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì có thể yêu cầu chấp hành viên tiến hành xác minh. Việc yêu cầu này phải lập thành văn bản và phải ghi rõ các biện pháp cần thiết đã được áp dụng nhưng không có kết quả, kèm theo tài liệu chứng minh”.

Có thể thấy, theo quy định này, các nhà lập pháp đã giao cho người được thi hành án sự chủ động trong việc xác minh điều kiện thi hành án. Đồng thời, để giải quyết trường hợp người được thi hành án không thể tự xác minh được điều kiện thi hành án, điều luật cũng đã quy định cho phép người được thi hành án yêu cầu chấp hành viên tiến hành xác minh. Quy định như vậy là hợp lý, nhưng lại tương đối “cực đoan”, bởi lẽ, cơ quan thi hành án chỉ tiến hành xác minh khi người được thi hành án phải chứng minh được mình đã xác minh mà không có kết quả, trong khi đó, hành lang pháp lý để người được thi hành án thực hiện việc xác minh cũng như thu thập chứng cứ để chứng minh mình xác minh không có kết quả lại chưa được xây dựng và hoàn thiện, nên quy định này đã “vấp” phải sự phản đối của người được thi hành án và được xem như là sự “nhiêu khê” của các cơ quan công quyền. Quy định này không tạo điều kiện mà là “làm khó” người được thi hành án, đồng thời “làm khó” chính các chấp hành viên cơ quan thi hành án[13]. Ngoài ra, vướng mắc, khó khăn của điều luật này trong thực tiễn áp dụng còn ở các khía cạnh như thiếu sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan; kết quả xác minh của người được thi hành án không đáng tin cậy…

Trước thực tế đó, Luật sửa đổi năm 2014 đã quy định nhiệm vụ xác minh thuộc về chấp hành viên, còn người được thi hành án, thay vì có “nghĩa vụ” xác minh được chuyển thành “quyền” xác minh. Khoản 5 Điều 44 Luật sửa đổi năm 2014 quy định: “Người được thi hành án có quyền tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh điều kiện thi hành án, cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án cho cơ quan thi hành án dân sự”. Như vậy, người được thi hành án không còn phải tự mình xác minh và phải chứng minh về việc không thể thực hiện được việc xác minh để yêu cầu chấp hành viên xác minh mà việc xác minh là nhiệm vụ của chấp hành viên, người được thi hành án có thể tự xác minh nếu thấy cần thiết và có khả năng thực hiện công việc đó.

Thực tế công tác thi hành án dân sự thời gian qua cho thấy, đối với những vụ việc mà đương sự có mối quan hệ mật thiết với nhau hoặc quen biết nhau như khi thi hành án hôn nhân và gia đình, thi hành án thừa kế, thi hành án đòi nợ... thì người được thi hành án thường hiểu rõ tình hình tài sản, điều kiện của người phải thi hành án. Hơn nữa, nếu xét dưới khía cạnh tâm lý, người được thi hành án sẽ là người có quyền lợi “thiết thân” đối với quá trình thi hành án, do đó, họ sẽ bằng mọi cách để có được thông tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Đồng thời, trong thời điểm kinh tế phát triển như hiện nay, một người có thể mua tài sản ở các địa phương khác nhau, thậm chí có thể mua tài sản ở quốc gia khác, nên nếu muốn việc xác minh hiệu quả thì giao quyền này cho người được thi hành án cũng là một hướng đi đúng đắn. Rõ ràng, việc duy trì quyền xác minh cho người được thi hành án sẽ tạo hiệu quả cho công tác thi hành án nếu người được thi hành án có điều kiện thực hiện việc xác minh thi hành án. Tuy nhiên, cũng giống như quy định tại Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi năm 2014 chỉ ghi nhận quyền mà chưa có hành lang pháp lý để thực thi quyền nên hầu hết các vụ việc thi hành án hiện nay, để tổ chức thi hành án chủ yếu vẫn dựa trên kết quả xác minh của chấp hành viên mà không phải là của người được thi hành án.

Vì vậy, để đảm bảo quyền xác minh của người được thi hành án, luật pháp cũng phải tạo hành lang pháp lý cho người được thi hành án để họ thực hiện quyền của mình, chẳng hạn như mở ra các dịch vụ cung cấp thông tin.

Ngoài ra, người được thi hành án thực hiện quyền cung cấp thông tin thì cũng chỉ đơn thuần là hành vi cung cấp thông tin, còn để biến nó thành điều kiện thi hành án về tài sản, sẽ phải có nghĩa vụ xác minh của chấp hành viên. Trong khi đó, luật lại không đề cập đến nghĩa vụ của chấp hành viên khi tiếp nhận cung cấp thông tin của người được thi hành án. Điều này dẫn đến bất cập là nếu người được thi hành án cung cấp thông tin nhưng chấp hành viên lại không kịp thời tiến hành xác minh dẫn đến đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, gây khó khăn, kéo dài cho quá trình tổ chức thi hành án thì trách nhiệm của chấp hành viên được xử lý như thế nào? Vì vậy, luật cần phải có quy định về nghĩa vụ của chấp hành viên khi tiếp nhận cung cấp thông tin của người được thi hành án, trong đó, cần quy định rõ thời hạn mà chấp hành viên phải tiến hành xác minh khi nhận được yêu cầu của người được thi hành án.

Bên cạnh đó, khoản 7 Điều 44 Luật sửa đổi năm 2014 có quy định, trường hợp người được thi hành án cung cấp thông tin sai sự thật về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, thanh toán các chi phí phát sinh, trường hợp gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Thực ra, đây là một quy định để ràng buộc trách nhiệm của người được thi hành án khi thực hiện quyền cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự thì chi phí xác minh hiện nay thuộc về ngân sách nhà nước, nếu không ràng buộc trách nhiệm của người được thi hành án, thì dễ xảy ra tình trạng cung cấp thông tin một cách bừa bãi, gây khó khăn và lãng phí sức lực, tiền của của chấp hành viên và các cơ quan thi hành án dân sự. Dù vậy, để thực thi quy định này trên thực tế là một điều không dễ dàng.

Nguyễn Thị Hương Giang

Học viện Tư pháp, NCS. Học viện Khoa học xã hội



[1]. Thanh Hương, Một số ý kiến về xác minh điều kiện thi hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 2 (263) năm 2014, tr. 53.

[2]. Lê Võ Hồng Hạnh, Xác minh điều kiện thi hành án và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 5 (242) năm 2012, tr. 46.

[3]. Phạm Công Ý, Về một quyết định hủy kết quả thi hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 6 (255) năm 2013, tr. 53 - 58.

[4]. Xem Điều 52 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015 của Chính phủ (Nghị định số 110/2013/NĐ-CP).

[5]. Điều 68 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP.

[6]. Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại (Nghị định số 08/2020/NĐ-CP).

[7]. Điều 17 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

[8]. Nguyễn Tiến Pháp, Tập bài giảng Kỹ năng hành nghề thừa phát lại, Học viện Tư pháp, Chủ biên TS. Nguyễn Xuân Thu, ThS. Cao Thị Kim Trinh, năm 2016, tr. 18.

[9]. Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

[10]. Khoản 4 Điều 3 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

[11]. Điều 43 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

[12]. Khoản 3 Điều 50 Nghị định số 08/2020/NĐ-CP.

[13]. Tham khảo thêm: Phạm Công Ý, Về một quyết định hủy kết quả thi hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số tháng 6 (255) năm 2013, tr. 53 - 59; Bùi Nguyễn Phương Lê, Xác minh điều kiện thi hành án, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề 200 trang Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, năm 2015.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: