Thứ ba 03/03/2026 17:14
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp là đất trồng lúa - Thực trạng và kiến nghị

Về nguyên tắc chung, người được Nhà nước công nhận, trao cho quyền sử dụng đất sẽ có các quyền của người sử dụng đất, trong đó có quyền chuyển nhượng. Tuy nhiên, do đất đai là một loại tài sản đặc biệt, do Nhà nước thống nhất quản lý, người sử dụng đất chỉ được quyền sử dụng và chịu sự quản lý của Nhà nước, nên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tuân theo những điều kiện nhất định. Pháp luật hiện hành quy định điều kiện chung để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp và đối với đất trồng lúa thì sẽ phải tuân thủ thêm những điều kiện nhất định.


1. Điều kiện chung để chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp

Một là, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Khi chủ thể sử dụng đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nghĩa là đã được Nhà nước công nhận và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nên được chuyển nhượng quyền sử dụng đất của mình cho người khác. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định như người nhận thừa kế quyền sử dụng đất là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì vẫn có thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất khi chưa có giấy chứng nhận. Trường hợp này, người nhận thừa kế được chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho người khác với tư cách là bên chuyển nhượng sau khi hoàn tất thủ tục khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế[1]. Văn bản khai nhận hoặc thỏa thuận phân chia di sản thừa kế sẽ có giá trị chứng minh quyền sử dụng hợp pháp đối với quyền sử dụng đất được chuyển nhượng.

Hai là, đất không có tranh chấp

Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Tranh chấp đất đai có thể là những tranh chấp đất đai trực tiếp như tranh chấp người có quyền sử dụng đất, tranh chấp ranh giới đất, tranh chấp lối đi… và tranh chấp gián tiếp có liên quan đến đất đai như tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng là quyền sử dụng đất trong thời kỳ hôn nhân hoặc khi ly hôn, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng, giao dịch về quyền sử dụng đất (chuyển nhượng, thế chấp, thuê quyền sử dụng đất…).

Xét trên phương diện điều kiện giao dịch tài sản, nếu tài sản đang bị tranh chấp cho dù bởi bất kỳ nguyên nhân nào thì tài sản đó hiện đang được đặt trong bối cảnh bị hạn chế quyền sở hữu. Nghĩa là chủ sở hữu tạm thời không được quyền định đoạt tài sản bởi tài sản đó đang bị tranh chấp về quyền sở hữu với chủ thể khác. Trong tranh chấp đất đai, cho dù được xác định là dưới dạng tranh chấp nào (trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến đất đai) thì quyền sử dụng đất đó vẫn tạm thời không thể thực hiện giao dịch được. Điều kiện đất đai không tranh chấp để thực hiện việc chuyển nhượng là đảm bảo tính toàn diện về quyền của người sử dụng đất khi thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ba là, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án

Quyền sử dụng đất tuy là một loại tài sản và có thể được dùng để thực hiện các giao dịch dân sự, nhưng khi quyền sử dụng đất này bị các quyết định ngăn chặn, tạm ngưng thực hiện các quyền về tài sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (như cơ quan thi hành án dân sự) thì quyền sử dụng đất này cũng không được thực hiện giao dịch chuyển nhượng. Pháp luật thi hành án dân sự hiện hành quy định kê biên quyền sử dụng đất là một trong những biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự. Quyết định kê biên tài sản là một hình thức cơ quan nhà nước có thẩm quyền hạn chế quyền tài sản của chủ sở hữu. Do đó, khi đất đai bị kê biên quyền sử dụng đất thì thửa đất đó không được chuyển nhượng.

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay xuất hiện một hình thức ngăn chặn mới được các cơ quan thi hành án dân sự áp dụng là công văn phối hợp thi hành án. Theo hình thức này, các cơ quan thi hành án liệt kê tài sản của người phải thi hành án hoặc chỉ ghi chung chung là “tất cả các tài sản liên quan” và yêu cầu các tổ chức hành nghề công chứng, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất, cơ quan đăng ký đất đai không thực hiện việc công chứng, chứng thực và thực hiện việc điều chỉnh biến động đất đai. Hình thức gửi văn bản yêu cầu không thực hiện, tạm dừng thực hiện việc chứng nhận các hợp đồng, giao dịch về quyền tài sản không nằm trong các quyết định mà cơ quan thi hành án dân sự được ban hành[2]. Tuy nhiên, do cơ quan thi hành án dân sự đang thực hiện thi hành bản án của Tòa án nên những văn bản này vẫn mang tính chất nhằm giải quyết vụ án đang được thi hành. Do đó, trên thực tiễn, các tổ chức hành nghề công chứng, Ủy ban nhân dân nơi có tài sản, cơ quan đăng ký đất đai vẫn không thực hiện việc công chứng, chứng nhận, thực hiện đăng ký, biến động tài sản theo thông báo của cơ quan thi hành án dân sự.

Bốn là, trong thời hạn sử dụng đất

Căn cứ pháp lý của việc Nhà nước công nhận, trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, mỗi loại đất khác nhau, Nhà nước sẽ trao, công nhận cho chủ thể sử dụng đất được sử dụng trong một thời hạn nhất định. Đối với đất nông nghiệp, thời hạn sử dụng đất là 50 năm, khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất với thời hạn là 50 năm. Khi hết thời hạn, Nhà nước sẽ xem xét tiếp tục cho thuê đất[3]. Thời hạn sử dụng đất được thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Người sử dụng đất chỉ được thực hiện các quyền của mình trong thời hạn sử dụng đất. Nếu đất đã vượt quá thời hạn được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất mà người sử dụng đất không thực hiện việc gia hạn hoặc không được Nhà nước gia hạn quyền sử dụng đất thì không được chuyển nhượng.

2. Điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa đối với hộ gia đình, cá nhân

Pháp luật đất đai xác định đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa là loại đất đặc thù, chuyên phục vụ hoạt động sản xuất nông nghiệp nên cần có những chính sách bảo vệ loại đất này. Nếu người nhận chuyển nhượng không phải là người canh tác nông nghiệp sẽ dẫn đến việc không thể tiếp tục duy trì hoạt động sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa, có thể sẽ dẫn đến khủng hoảng an ninh lương thực. Do đó, Luật Đất đai giới hạn điều kiện của người nhận chuyển nhượng đất trồng lúa. Chỉ khi nào người nhận chuyển nhượng là người trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì mới được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, cụ thể là đất trồng lúa.

Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013 đã phát sinh thêm một thủ tục hành chính tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người nhận chuyển nhượng đất trồng lúa thường trú, đó là thủ tục xác nhận người nhận chuyển nhượng có trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại địa phương. Để xác định hộ gia đình hoặc cá nhân nhận chuyển nhượng có trực tiếp sản xuất nông nghiệp hay không, hiện nay, khoản 2, khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai (Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT) đã hướng dẫn như sau:

- Đối với cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, được xác định có trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi đáp ứng các điều kiện: (i) Đang sử dụng đất nông nghiệp; (ii) Không thuộc đối tượng có thu nhập ổn định, thường xuyên khác; (iii) Có thu nhập từ việc sản xuất nông nghiệp trên đất đang sử dụng.

- Đối với hộ gia đình, được xác định có trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi đáp ứng các điều kiện: (i) Đang sử dụng đất nông nghiệp; (ii) Có thành viên hộ gia đình không có thu nhập ổn định, thường xuyên khác; (iii) Có thu nhập thường xuyên từ việc sản xuất trên đất nông nghiệp.

Quy định này của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT hiện nay đã bộc lộ những hạn chế, bất cập sau đây:

Thứ nhất, việc xác nhận hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp hiện nay mang tính hình thức, chưa phù hợp thực tế

Quy định điều kiện đối với chủ thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa là nhằm mục đích hạn chế đất nông nghiệp được chuyển nhượng cho những chủ thể không trực tiếp canh tác, từ đó có thể dẫn đến suy giảm diện tích đất nông nghiệp, làm giảm sản lượng lúa, gây ảnh hưởng đến nguồn lương thực quốc gia. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, phần lớn đất trồng lúa được giao dịch chuyển nhượng trên thị trường là đất có vị trí thuận lợi (tiếp giáp đường giao thông, sông, trong khu dân cư…) nên dễ dàng chuyển đổi thành đất thổ cư; hoặc có thể là các thửa đất này nằm trong khu vực kinh tế phát triển, hạ tầng giao thông, quy hoạch xã hội đã được phê duyệt nên lượng giao dịch chuyển nhượng cũng tăng theo.

Có thể thừa nhận một thực tế là đối tượng nhận chuyển nhượng đất phần lớn là người có tiền, có thu nhập ổn định mà không phải là người sản xuất nông nghiệp. Họ nhận chuyển nhượng đất theo nhu cầu thị trường, xem đất như một loại tài sản giao dịch nhằm thu lại lợi nhuận. Đa phần những chủ thể này cư trú ở các thành phố, khu đô thị, khu dân cư và có công việc ổn định như công chức, viên chức, người lao động trong các doanh nghiệp hoặc kinh doanh tự do... Khi có nhu cầu xác nhận trực tiếp sản xuất nông nghiệp để nhận chuyển nhượng, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể vì quen biết, có thể vì vị nể lẫn nhau… nên Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú đã xác nhận nội dung “có trực tiếp sản xuất nông nghiệp”. Xác nhận này rất bất hợp lý bởi người được xác nhận là người có công việc ổn định, địa phương cư trú thuộc khu vực đô thị, không có sản xuất nông nghiệp nhưng nhiều địa phương vẫn xác nhận. Xác nhận này hiện nay chỉ là tính hình thức, không mang giá trị thực chất nhằm bổ sung, hoàn thiện thủ tục nhận chuyển nhượng[4].

Thứ hai, cơ sở để xác định “có thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp” chưa được hướng dẫn

Thực tiễn việc xác nhận nội dung “có thu nhập thường xuyên từ sản xuất nông nghiệp” hiện nay rất cảm tính, chủ quan tùy theo từng địa phương. Nếu xét trên phương diện quản lý nhà nước về hộ tịch, đất đai thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú có thể xác nhận hộ gia đình, cá nhân nào đó có đất nông nghiệp, nhưng việc xác nhận có thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp thì không có cơ sở để xác nhận bởi có thể có trường hợp hộ gia đình, cá nhân trước đó có đất nông nghiệp nhưng không sản xuất nông nghiệp. Thực tế nhiều địa phương đã phản ánh, các giao dịch chuyển nhượng ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân, nếu không xác nhận sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi các bên. Do đó, nhiều nơi vận dụng theo cách suy đoán là hộ gia đình, cá nhân nào đó nếu có đất nông nghiệp thì sẽ có thu nhập từ đất nông nghiệp nên có thể xác nhận nội dung này.

Thực tiễn giao dịch chuyển nhượng đất trồng lúa hiện nay là nhu cầu xã hội, là một hiện tượng tất yếu khách quan. Với rất nhiều thửa đất, tuy mục đích sử dụng đất được ghi nhận trên giấy chứng nhận là đất trồng lúa nhưng trên thực tế thì là đất thuộc khu vực đô thị, vùng ven thành phố, vùng kinh tế - xã hội phát triển, ven quốc lộ, khu dân cư... và trên thực tế thì không còn là đất nông nghiệp, đất trồng lúa mà đã chuyển đổi mục đích sử dụng (trái phép) khi trên đất đã có nhà xưởng, công trình hoặc đang kinh doanh… Có thể nhận thấy, đối tượng nhận chuyển nhượng hiện nay phần lớn là những người có điều kiện kinh tế, có năng lực tài chính mà không phải là những người nông dân. Do đó, việc xác nhận “có trực tiếp sản xuất nông nghiệp” để làm điều kiện nhận chuyển nhượng đất lúa hiện nay đã trở nên mang tính hình thức, đối phó. Chính vì thực trạng như vậy, Nhà nước và pháp luật cần có những công cụ điều chỉnh hữu hiệu hơn thay vì đặt ra quy định “cứng” là có trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì mới được nhận chuyển nhượng đất lúa như hiện nay.

3. Một số kiến nghị

Luật Đất đai năm 2013 và Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ban hành các điều kiện để xác định bên nhận chuyển nhượng đất trồng lúa có “trực tiếp sản xuất nông nghiệp”. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Việc bảo tồn quỹ đất canh tác lúa là nhu cầu rất cấp bách và cần thiết nhưng các giao dịch chuyển nhượng đất trồng lúa hiện nay cũng là sự phù hợp với nhu cầu thị trường. Việc xác định khu vực, đối tượng được nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp, đất trồng lúa để phù hợp với quy hoạch sử dụng đất ở từng địa phương nên thuộc thẩm quyền của địa phương đó. Pháp luật không nên quy định “khung cứng” về điều kiện nhận chuyển nhượng bởi thực tiễn vẫn ghi nhận những đối tượng không được nhận chuyển nhượng thửa đất trồng lúa đó vẫn có thể được nhận chuyển nhượng bằng hình thức này hay hình thức khác (chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất qua nhiều lần). Khi địa phương có quy hoạch sử dụng đất cụ thể thì việc chuyển nhượng đất trồng lúa vẫn được phép thực hiện nếu mục đích nhận chuyển nhượng là phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt. Nghĩa là việc nhận chuyển nhượng đất trồng lúa sẽ phải thực hiện cùng lúc với việc chuyển mục đích sử dụng đất.

Tác giả kiến nghị nên giao quyền quy định điều kiện nhận chuyển nhượng đất trồng lúa về cho địa phương vì điều này sẽ đảm bảo tính khả thi của các quy định pháp luật bởi thực trạng xã hội tại mỗi địa phương là khác nhau. Thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong đó có đất trồng lúa khi được sự điều chỉnh trực tiếp ở địa phương sẽ đảm bảo tính khả thi, kịp thời và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương đó. Có như thế mới phát huy được hiệu quả quản lý nhà nước đối với đất đai.

ThS. Nguyễn Huy Cường
Văn phòng Công chứng Nguyễn Huy Cường, tỉnh Trà Vinh

[1] Khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013.

[2] Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[3] Điều 126 Luật Đất đai năm 2013.

[4] Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh, Trần ai mua đất trồng lúa: Ba văn bản

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: