Chủ nhật 08/02/2026 05:27
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ quan hiến định độc lập theo Hiến pháp năm 2013 và những vấn đề đặt ra

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước trong thời gian vừa qua

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước trong thời gian vừa qua, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các cơ quan hiến định độc lập trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước ở Việt Nam.

Abstract: Based on the analysis and evaluation of the advantages and limitations in institutionalizing the provisions of the 2013 Constitution on the National Election Council and State Audit in recent years, the author offers a number of recommendations to better promote the role of independent constitutional agencies in the organization and operation of the state apparatus in Vietnam.

1. Ý nghĩa của việc ghi nhận Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là những cơ quan hiến định độc lập trong Hiến pháp năm 2013

Thứ nhất, việc ghi nhận các cơ quan Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là cơ quan hiến định độc lập trong Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam

Thuật ngữ “kiểm soát” quyền lực đã được ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Từ sự phát triển trong đường lối của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực nói chung và cơ chế kiểm soát quyền lực nói riêng hình thành tư tưởng nền tảng để Nhà nước kiểm soát quyền lực nhà nước một cách quy mô hơn, toàn diện hơn. Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 2013 đã có những bước đi lớn trong việc đẩy mạnh và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó đã bổ sung hai cơ quan hiến định độc lập (CQHĐĐL) là Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) và Kiểm toán nhà nước (KTNN) ở Chương X Hiến pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, chúng ta có loại CQHĐĐL trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, điều đó cho thấy xu hướng ý thức về việc đa dạng hóa cơ chế kiểm soát quyền lực, không chỉ là những cơ quan truyền thống thực hiện việc kiểm soát quyền lực trong quá trình thực hiện chức năng của mình mà còn cần có những cơ quan có chức năng kiểm soát quyền lực mang tính độc lập, chuyên nghiệp.

Thứ hai, việc ghi nhận các cơ quan Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là cơ quan hiến định độc lập trong Hiến pháp năm 2013 đáp ứng nhu cầu tăng cường, bảo đảm tính hiệu quả trong kiểm soát quyền lực

Sự ra đời của các CQHĐĐL không chỉ thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước mà còn là nhu cầu từ thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam đang gặp nhiều hạn chế. Sự hạn chế này một phần xuất phát từ đặc thù trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Nguyên tắc thống nhất quyền lực khiến cho các cơ quan giữa các nhánh quyền lực có mối quan hệ chặt chẽ về tổ chức và hoạt động, thiếu tính độc lập, đối trọng cho nên việc kiểm soát lẫn nhau chưa thực sự bảo đảm. Bên cạnh đó, kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thực hiện từ phía nhân dân thông qua các quyền như quyền giám sát, quyền phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của Nhà nước; quyền khiếu nại, tố cáo của công dân… Tuy nhiên, việc vận dụng các quyền trên cũng còn gặp nhiều khó khăn trên thực tế. Vì vậy, chúng ta cần phải bổ sung những thiết chế kiểm soát quyền lực với những đặc tính độc lập hơn, chuyên nghiệp hơn và có sự gắn bó với xã hội hơn để bổ trợ cho những cơ chế kiểm soát quyền lực đã có. Theo đó, CQHĐĐL sẽ là sự lựa chọn hiệu quả để bù đắp vào những phần thiếu đó.

Một vấn đề đặt ra là, Hiến pháp năm 2013 đã lựa chọn HĐBCQG và KTNN trong số những loại CQHĐĐL để bổ sung vào bộ máy nhà nước Việt Nam. Hai cơ quan này kiểm soát hai vấn đề lớn của một Nhà nước dân chủ: (i) Kiểm soát bầu cử: Chúng ta đều nhận thức rằng, bầu cử “là trái tim” của dân chủ. Kiểm soát bầu cử chính là làm thế nào để hoạt động bầu cử được khách quan, trung thực, kết quả bầu cử phải phản ánh đúng sự lựa chọn của người dân, từ đó có được những đại biểu thực sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân và trong suốt nhiệm kỳ hoạt động của mình không “sao nhãng” khỏi sứ mệnh cao quý đó. (ii) Kiểm soát quản lý, sử dụng, chi tiêu tài sản công, tài chính công: Lợi ích vật chất là nguyên nhân chính dẫn đến sự tha hóa quyền lực. Do vậy, kiểm soát tài chính công chính là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự lạm quyền. Có như thế, bộ máy nhà nước mới được trong sạch, hạn chế tham ô, tham nhũng, không lãng phí tiền bạc, tài sản của nhân dân. Như vậy, kiểm soát hai lĩnh vực bầu cử và tài chính công có thể coi là mấu chốt của kiểm soát quyền lực nhà nước.

2. Quá trình thể chế hóa các quy định Hiến pháp năm 2013 về cơ quan hiến định độc lập và hiệu quả hoạt động thực tiễn của các cơ quan này

Thứ nhất, về Hội đồng bầu cử quốc gia

Hiến pháp năm 2013 quy định HĐBCQG tại Điều 117. Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn về việc thi hành Hiến pháp năm 2013 về HĐBCQG trong thời gian qua, tác giả có thể rút ra một số đánh giá sau:

(i) Về tiến độ xây dựng luật và hình thức quy định HĐBCQG: Sau hơn một năm rưỡi kể từ khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua thì HĐBCQG được thể chế hóa thành luật. Cụ thể là, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được thông qua ngày 25/6/2015 đã dành một mục riêng từ Điều 12 đến Điều 20 để quy định chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của cơ quan này. Việc HĐBCQG được quy định là một phần nội dung trong Luật cũng có những bình luận khác nhau, trong đó, có quan điểm cho rằng, đây là CQHĐĐL do vậy mà cần phải có văn bản luật riêng để quy định cụ thể cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động, nếu nằm trong một chương mục của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ không đáp ứng được yêu cầu về quy mô và không phản ánh được vai trò kiểm soát của HĐBCQG đối với hoạt động bầu cử.

(ii) Về nội dung của luật quy định về HĐBCQG: Do chỉ nằm trong một mục của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 nên nội dung luật quy định về HĐBCQG cũng tương đối ngắn gọn. Mặc dù Luật đã tạo khuôn khổ pháp lý để HĐBCQG có thể được thành lập và hoạt động, tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa thực sự đáp ứng được vị trí là CQHĐĐL mà Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận cho cơ quan này. Cụ thể:

- Cơ cấu tổ chức của HĐBCQG chưa bảo đảm tính độc lập với các chủ thể tham gia bầu cử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, thành viên của Hội đồng bầu cử gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan. Không những vậy, Luật cũng không quy định điều kiện làm thành viên HĐBCQG là không được đồng thời là các ứng cử viên trong cuộc bầu cử tới. Như vậy, Luật đã cho phép chủ thể đóng vai trò tổ chức bầu cử cũng là chủ thể có quyền tham gia ứng cử hoặc được giới thiệu ứng cử làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Quy định này rõ ràng chưa đảm bảo tính khách quan trong hoạt động bầu cử.

- Cơ chế hoạt động của HĐBCQG chưa đảm bảo được vai trò kiểm soát các đại biểu dân cử trong suốt nhiệm kỳ hoạt động. Cần phải nhận thức rằng, sứ mệnh của HĐBCQG không chỉ dừng lại khi cuộc bầu cử kết thúc mà sau đó nhiệm vụ của HĐBCQG còn bảo đảm rằng, các ứng cử viên được lựa chọn phải thực hiện đúng tinh thần, trách nhiệm với những gì đã hứa với nhân dân khi họ trở thành đại biểu dân cử. Bên cạnh đó, với chức năng tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và hướng dẫn bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, HĐBCQG phải có thẩm quyền quyết định về việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong suốt nhiệm kỳ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, ví dụ như quyết định bầu bổ sung khi khuyết lượng đại biểu theo luật định, xem xét và trình Quốc hội những trường hợp tiến hành thủ tục bãi nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội… Thế nhưng, theo quy định hiện hành, HĐBCQG là cơ quan hoạt động lâm thời[1], như vậy thì HĐBCQG sẽ không thể thực hiện được một cách trọn vẹn những nhiệm vụ đề ra, hình ảnh của cơ quan này vẫn tương đối “mờ nhạt” trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ hai, về Kiểm toán nhà nước

Nhận thức về tính độc lập của cơ quan kiểm toán trong tổ chức hoạt động của Nhà nước được phản ánh thông qua việc Quốc hội ban hành Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005, theo đó KTNN không còn nằm trong cơ cấu của Chính phủ mà có vị trí độc lập do Quốc hội thành lập. Đến Hiến pháp năm 2013 thì vị trí độc lập của KTNN không chỉ được luật định mà đã được hiến định tại Điều 118. Kể từ khi được hiến định, thông qua thực tiễn hoạt động của KTNN có thể đúc rút một số đánh giá sau:

(i) Về tiến độ ban hành luật để quy định chi tiết các nội dung của Hiến pháp năm 2013 về KTNN: Cũng cùng thời điểm với việc thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân mới bổ sung quy định về HĐBCQG, Luật Kiểm toán nhà nước mới được thông qua vào ngày 24/6/2015, Luật này thay thế cho Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005. Như vậy, kế thừa cách thức quy định của Luật Kiểm toán nhà nước trước đó, quy chế pháp lý dành cho KTNN tiếp tục được quy định ở một văn bản luật riêng nhằm bảo đảm quy mô, vai trò của một CQHĐĐL.

(ii) Về nội dung: Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 có nhiều điểm mới so với Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005. Luật năm 2015 xác định rõ và toàn diện hơn phạm vi, đối tượng kiểm toán; nâng cao vị thế, vai trò của Tổng KTNN khi quy định rõ hơn thẩm quyền bầu Tổng KTNN và tăng một số nhiệm vụ, quyền hạn cho chức danh này; bổ sung trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đối với hoạt động của KTNN[2]...

Bên cạnh những thành quả đã đạt được thì Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 vẫn còn một số quy định cần phải được hoàn thiện để phát huy tối đa vai trò của cơ quan này trong kiểm soát việc quản lý và sử dụng tài sản công, tài chính công, chẳng hạn: Luật cần xác định rõ hơn đối tượng chịu sự kiểm toán theo đúng tinh thần của Hiến pháp là bất kỳ hoạt động sử dụng, quản lý tài sản công, tài chính công đều phải được kiểm toán, đồng thời Luật cũng cần phải xác định rõ thẩm quyền của cơ quan kiểm toán trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác cũng có vai trò nhất định trong việc kiểm soát hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công để tránh chồng chéo thầm quyền.

Bên cạnh đó, cần sửa lại quy định về nhiệm kỳ của Tổng KTNN. Theo khoản 3 Điều 12 Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, Tổng KTNN có “nhiệm kỳ là 05 năm theo nhiệm kỳ Quốc hội”. Theo tác giả, quy định này có phần không phù hợp cả về mặt kỹ thuật lập pháp lẫn nội dung. Trước hết, về kỹ thuật lập pháp, quy định này cần phải bỏ một trong hai vế hoặc là bỏ cụm từ “05 năm” hoặc là bỏ cụm từ “theo nhiệm kỳ Quốc hội” bởi vì nhiệm kỳ Quốc hội có thể được kéo dài hoặc rút ngắn[3] do đó, nếu nhiệm kỳ của Tổng KTNN đã theo nhiệm kỳ Quốc hội thì chưa chắc nhiệm kỳ đó sẽ là 05 năm, còn nếu nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm thì chỉ đúng với thời điểm hiện tại, khi Quốc hội có nhiệm kỳ khác thì nhiệm kỳ của Tổng KTNN không còn theo nhiệm kỳ Quốc hội nữa. Tiếp đến, xét về nội dung, để đảm bảo tính độc lập cho KTNN, thiết nghĩ Luật nên quy định nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm mà không phụ thuộc vào nhiệm kỳ Quốc hội.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về cơ quan hiến định độc lập theo Hiến pháp năm 2013

Thứ nhất, đối với Hội đồng bầu cử quốc gia: Trước hết, cần phải quy định rõ điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành thành viên của HĐBCQG trong văn bản luật, đáp ứng tiêu chí cả về trình độ chuyên môn - am hiểu pháp luật và hoạt động bầu cử cũng như tiêu chuẩn về tính khách quan khi tham gia tổ chức bầu cử. Tiếp đến, cần phải xác định HĐBCQG là cơ quan hoạt động chuyên trách, có nhiệm kỳ độc lập, đồng thời bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội, đánh giá mức độ tín nhiệm của cử tri với các đại biểu, kiến nghị các vấn đề liên quan đến bãi nhiệm, thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội… Ngoài ra, cũng cần quy định rõ cơ chế tài chính trên cơ sở đảm bảo sự độc lập cho sự tồn tại và hoạt động của cơ quan này.

Thứ hai, đối với Kiểm toán nhà nước: Luật quy định về KTNN cần tiếp tục làm rõ đối tượng sử dụng, quản lý tài sản công, tài chính công trên cơ sở bổ sung một số thuật ngữ pháp lý cần phải giải thích như: “Quản lý”, “sử dụng” để bảo đảm rằng bất kỳ nguồn lực tài chính, tài sản công nào cũng phải chịu sự kiểm toán của KTNN; Luật Kiểm toán nhà nước cũng cần quy định rõ hơn cách thức phối hợp và phân định thẩm quyền giữa KTNN với các cơ quan nhà nước có liên quan như cơ quan thanh tra để tránh chồng theo thẩm quyền; cần có thêm những quy định về chế tài để xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng tài chính nhà nước, tài sản nhà nước và vi phạm trong hoạt động kiểm toán. Ngoài ra, cần quy định lại nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm để đảm bảo tính độc lập của KTNN.

Thứ ba, ngoài hai cơ quan Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước, pháp luật cần phải quy định thêm về cơ quan bảo vệ Hiến pháp: Mặc dù cơ quan bảo vệ Hiến pháp chưa được xác định rõ ràng là CQHĐĐL như hai cơ quan trên nhưng đã có nguyên tắc hiến định: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” (khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013) thì sớm muộn vẫn phải có một văn bản luật làm cơ sở pháp lý cho việc thành lập cơ quan này. Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ra đời sẽ đóng góp vai trò tích cực trong việc bảo vệ Hiến pháp, trong đó có thể đánh giá được quy định của luật đã thực sự phản ánh đúng bản chất các vấn đề được hiến định hay chưa và như vậy cũng là cơ sở để HĐBCQG và KTNN phát huy tốt hơn vai trò của mình với tư cách là CQHĐĐL.

Thái Thị Thu Trang

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Đại học Luật Hà Nội



[1]. Điều 20 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.

[2]. Xem thêm: Những điểm mới của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 tại: https://www.nhandan.org.vn/kinhte/item/28125002-nhung-diem-moi-cua-luat-kiem-toan-nha-nuoc-nam-2015.html, truy cập ngày 03/9/2019.

[3]. Khoản 3 Điều 71 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: