Thứ bảy 14/03/2026 11:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ quan hiến định độc lập theo Hiến pháp năm 2013 và những vấn đề đặt ra

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước trong thời gian vừa qua

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước trong thời gian vừa qua, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm phát huy tốt hơn vai trò của các cơ quan hiến định độc lập trong tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước ở Việt Nam.

Abstract: Based on the analysis and evaluation of the advantages and limitations in institutionalizing the provisions of the 2013 Constitution on the National Election Council and State Audit in recent years, the author offers a number of recommendations to better promote the role of independent constitutional agencies in the organization and operation of the state apparatus in Vietnam.

1. Ý nghĩa của việc ghi nhận Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là những cơ quan hiến định độc lập trong Hiến pháp năm 2013

Thứ nhất, việc ghi nhận các cơ quan Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là cơ quan hiến định độc lập trong Hiến pháp năm 2013 thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam

Thuật ngữ “kiểm soát” quyền lực đã được ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Từ sự phát triển trong đường lối của Đảng về vấn đề kiểm soát quyền lực nói chung và cơ chế kiểm soát quyền lực nói riêng hình thành tư tưởng nền tảng để Nhà nước kiểm soát quyền lực nhà nước một cách quy mô hơn, toàn diện hơn. Trên cơ sở đó, Hiến pháp năm 2013 đã có những bước đi lớn trong việc đẩy mạnh và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, trong đó đã bổ sung hai cơ quan hiến định độc lập (CQHĐĐL) là Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) và Kiểm toán nhà nước (KTNN) ở Chương X Hiến pháp. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, chúng ta có loại CQHĐĐL trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, điều đó cho thấy xu hướng ý thức về việc đa dạng hóa cơ chế kiểm soát quyền lực, không chỉ là những cơ quan truyền thống thực hiện việc kiểm soát quyền lực trong quá trình thực hiện chức năng của mình mà còn cần có những cơ quan có chức năng kiểm soát quyền lực mang tính độc lập, chuyên nghiệp.

Thứ hai, việc ghi nhận các cơ quan Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là cơ quan hiến định độc lập trong Hiến pháp năm 2013 đáp ứng nhu cầu tăng cường, bảo đảm tính hiệu quả trong kiểm soát quyền lực

Sự ra đời của các CQHĐĐL không chỉ thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước mà còn là nhu cầu từ thực tiễn kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam đang gặp nhiều hạn chế. Sự hạn chế này một phần xuất phát từ đặc thù trong nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước. Nguyên tắc thống nhất quyền lực khiến cho các cơ quan giữa các nhánh quyền lực có mối quan hệ chặt chẽ về tổ chức và hoạt động, thiếu tính độc lập, đối trọng cho nên việc kiểm soát lẫn nhau chưa thực sự bảo đảm. Bên cạnh đó, kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thực hiện từ phía nhân dân thông qua các quyền như quyền giám sát, quyền phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của Nhà nước; quyền khiếu nại, tố cáo của công dân… Tuy nhiên, việc vận dụng các quyền trên cũng còn gặp nhiều khó khăn trên thực tế. Vì vậy, chúng ta cần phải bổ sung những thiết chế kiểm soát quyền lực với những đặc tính độc lập hơn, chuyên nghiệp hơn và có sự gắn bó với xã hội hơn để bổ trợ cho những cơ chế kiểm soát quyền lực đã có. Theo đó, CQHĐĐL sẽ là sự lựa chọn hiệu quả để bù đắp vào những phần thiếu đó.

Một vấn đề đặt ra là, Hiến pháp năm 2013 đã lựa chọn HĐBCQG và KTNN trong số những loại CQHĐĐL để bổ sung vào bộ máy nhà nước Việt Nam. Hai cơ quan này kiểm soát hai vấn đề lớn của một Nhà nước dân chủ: (i) Kiểm soát bầu cử: Chúng ta đều nhận thức rằng, bầu cử “là trái tim” của dân chủ. Kiểm soát bầu cử chính là làm thế nào để hoạt động bầu cử được khách quan, trung thực, kết quả bầu cử phải phản ánh đúng sự lựa chọn của người dân, từ đó có được những đại biểu thực sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân và trong suốt nhiệm kỳ hoạt động của mình không “sao nhãng” khỏi sứ mệnh cao quý đó. (ii) Kiểm soát quản lý, sử dụng, chi tiêu tài sản công, tài chính công: Lợi ích vật chất là nguyên nhân chính dẫn đến sự tha hóa quyền lực. Do vậy, kiểm soát tài chính công chính là yếu tố quan trọng để ngăn chặn sự lạm quyền. Có như thế, bộ máy nhà nước mới được trong sạch, hạn chế tham ô, tham nhũng, không lãng phí tiền bạc, tài sản của nhân dân. Như vậy, kiểm soát hai lĩnh vực bầu cử và tài chính công có thể coi là mấu chốt của kiểm soát quyền lực nhà nước.

2. Quá trình thể chế hóa các quy định Hiến pháp năm 2013 về cơ quan hiến định độc lập và hiệu quả hoạt động thực tiễn của các cơ quan này

Thứ nhất, về Hội đồng bầu cử quốc gia

Hiến pháp năm 2013 quy định HĐBCQG tại Điều 117. Trên cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu thực tiễn về việc thi hành Hiến pháp năm 2013 về HĐBCQG trong thời gian qua, tác giả có thể rút ra một số đánh giá sau:

(i) Về tiến độ xây dựng luật và hình thức quy định HĐBCQG: Sau hơn một năm rưỡi kể từ khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua thì HĐBCQG được thể chế hóa thành luật. Cụ thể là, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được thông qua ngày 25/6/2015 đã dành một mục riêng từ Điều 12 đến Điều 20 để quy định chi tiết về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và hình thức hoạt động của cơ quan này. Việc HĐBCQG được quy định là một phần nội dung trong Luật cũng có những bình luận khác nhau, trong đó, có quan điểm cho rằng, đây là CQHĐĐL do vậy mà cần phải có văn bản luật riêng để quy định cụ thể cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và hình thức hoạt động, nếu nằm trong một chương mục của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân sẽ không đáp ứng được yêu cầu về quy mô và không phản ánh được vai trò kiểm soát của HĐBCQG đối với hoạt động bầu cử.

(ii) Về nội dung của luật quy định về HĐBCQG: Do chỉ nằm trong một mục của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 nên nội dung luật quy định về HĐBCQG cũng tương đối ngắn gọn. Mặc dù Luật đã tạo khuôn khổ pháp lý để HĐBCQG có thể được thành lập và hoạt động, tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa thực sự đáp ứng được vị trí là CQHĐĐL mà Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận cho cơ quan này. Cụ thể:

- Cơ cấu tổ chức của HĐBCQG chưa bảo đảm tính độc lập với các chủ thể tham gia bầu cử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, thành viên của Hội đồng bầu cử gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan. Không những vậy, Luật cũng không quy định điều kiện làm thành viên HĐBCQG là không được đồng thời là các ứng cử viên trong cuộc bầu cử tới. Như vậy, Luật đã cho phép chủ thể đóng vai trò tổ chức bầu cử cũng là chủ thể có quyền tham gia ứng cử hoặc được giới thiệu ứng cử làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Quy định này rõ ràng chưa đảm bảo tính khách quan trong hoạt động bầu cử.

- Cơ chế hoạt động của HĐBCQG chưa đảm bảo được vai trò kiểm soát các đại biểu dân cử trong suốt nhiệm kỳ hoạt động. Cần phải nhận thức rằng, sứ mệnh của HĐBCQG không chỉ dừng lại khi cuộc bầu cử kết thúc mà sau đó nhiệm vụ của HĐBCQG còn bảo đảm rằng, các ứng cử viên được lựa chọn phải thực hiện đúng tinh thần, trách nhiệm với những gì đã hứa với nhân dân khi họ trở thành đại biểu dân cử. Bên cạnh đó, với chức năng tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và hướng dẫn bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, HĐBCQG phải có thẩm quyền quyết định về việc giải quyết các vấn đề phát sinh trong suốt nhiệm kỳ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, ví dụ như quyết định bầu bổ sung khi khuyết lượng đại biểu theo luật định, xem xét và trình Quốc hội những trường hợp tiến hành thủ tục bãi nhiệm, cho thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội… Thế nhưng, theo quy định hiện hành, HĐBCQG là cơ quan hoạt động lâm thời[1], như vậy thì HĐBCQG sẽ không thể thực hiện được một cách trọn vẹn những nhiệm vụ đề ra, hình ảnh của cơ quan này vẫn tương đối “mờ nhạt” trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước.

Thứ hai, về Kiểm toán nhà nước

Nhận thức về tính độc lập của cơ quan kiểm toán trong tổ chức hoạt động của Nhà nước được phản ánh thông qua việc Quốc hội ban hành Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005, theo đó KTNN không còn nằm trong cơ cấu của Chính phủ mà có vị trí độc lập do Quốc hội thành lập. Đến Hiến pháp năm 2013 thì vị trí độc lập của KTNN không chỉ được luật định mà đã được hiến định tại Điều 118. Kể từ khi được hiến định, thông qua thực tiễn hoạt động của KTNN có thể đúc rút một số đánh giá sau:

(i) Về tiến độ ban hành luật để quy định chi tiết các nội dung của Hiến pháp năm 2013 về KTNN: Cũng cùng thời điểm với việc thông qua Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân mới bổ sung quy định về HĐBCQG, Luật Kiểm toán nhà nước mới được thông qua vào ngày 24/6/2015, Luật này thay thế cho Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005. Như vậy, kế thừa cách thức quy định của Luật Kiểm toán nhà nước trước đó, quy chế pháp lý dành cho KTNN tiếp tục được quy định ở một văn bản luật riêng nhằm bảo đảm quy mô, vai trò của một CQHĐĐL.

(ii) Về nội dung: Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 có nhiều điểm mới so với Luật Kiểm toán nhà nước năm 2005. Luật năm 2015 xác định rõ và toàn diện hơn phạm vi, đối tượng kiểm toán; nâng cao vị thế, vai trò của Tổng KTNN khi quy định rõ hơn thẩm quyền bầu Tổng KTNN và tăng một số nhiệm vụ, quyền hạn cho chức danh này; bổ sung trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đối với hoạt động của KTNN[2]...

Bên cạnh những thành quả đã đạt được thì Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 vẫn còn một số quy định cần phải được hoàn thiện để phát huy tối đa vai trò của cơ quan này trong kiểm soát việc quản lý và sử dụng tài sản công, tài chính công, chẳng hạn: Luật cần xác định rõ hơn đối tượng chịu sự kiểm toán theo đúng tinh thần của Hiến pháp là bất kỳ hoạt động sử dụng, quản lý tài sản công, tài chính công đều phải được kiểm toán, đồng thời Luật cũng cần phải xác định rõ thẩm quyền của cơ quan kiểm toán trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác cũng có vai trò nhất định trong việc kiểm soát hoạt động quản lý, sử dụng tài sản công, tài chính công để tránh chồng chéo thầm quyền.

Bên cạnh đó, cần sửa lại quy định về nhiệm kỳ của Tổng KTNN. Theo khoản 3 Điều 12 Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, Tổng KTNN có “nhiệm kỳ là 05 năm theo nhiệm kỳ Quốc hội”. Theo tác giả, quy định này có phần không phù hợp cả về mặt kỹ thuật lập pháp lẫn nội dung. Trước hết, về kỹ thuật lập pháp, quy định này cần phải bỏ một trong hai vế hoặc là bỏ cụm từ “05 năm” hoặc là bỏ cụm từ “theo nhiệm kỳ Quốc hội” bởi vì nhiệm kỳ Quốc hội có thể được kéo dài hoặc rút ngắn[3] do đó, nếu nhiệm kỳ của Tổng KTNN đã theo nhiệm kỳ Quốc hội thì chưa chắc nhiệm kỳ đó sẽ là 05 năm, còn nếu nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm thì chỉ đúng với thời điểm hiện tại, khi Quốc hội có nhiệm kỳ khác thì nhiệm kỳ của Tổng KTNN không còn theo nhiệm kỳ Quốc hội nữa. Tiếp đến, xét về nội dung, để đảm bảo tính độc lập cho KTNN, thiết nghĩ Luật nên quy định nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm kể từ ngày được bổ nhiệm mà không phụ thuộc vào nhiệm kỳ Quốc hội.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về cơ quan hiến định độc lập theo Hiến pháp năm 2013

Thứ nhất, đối với Hội đồng bầu cử quốc gia: Trước hết, cần phải quy định rõ điều kiện, tiêu chuẩn để trở thành thành viên của HĐBCQG trong văn bản luật, đáp ứng tiêu chí cả về trình độ chuyên môn - am hiểu pháp luật và hoạt động bầu cử cũng như tiêu chuẩn về tính khách quan khi tham gia tổ chức bầu cử. Tiếp đến, cần phải xác định HĐBCQG là cơ quan hoạt động chuyên trách, có nhiệm kỳ độc lập, đồng thời bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn liên quan đến giám sát hoạt động của đại biểu Quốc hội, đánh giá mức độ tín nhiệm của cử tri với các đại biểu, kiến nghị các vấn đề liên quan đến bãi nhiệm, thôi làm nhiệm vụ đại biểu Quốc hội… Ngoài ra, cũng cần quy định rõ cơ chế tài chính trên cơ sở đảm bảo sự độc lập cho sự tồn tại và hoạt động của cơ quan này.

Thứ hai, đối với Kiểm toán nhà nước: Luật quy định về KTNN cần tiếp tục làm rõ đối tượng sử dụng, quản lý tài sản công, tài chính công trên cơ sở bổ sung một số thuật ngữ pháp lý cần phải giải thích như: “Quản lý”, “sử dụng” để bảo đảm rằng bất kỳ nguồn lực tài chính, tài sản công nào cũng phải chịu sự kiểm toán của KTNN; Luật Kiểm toán nhà nước cũng cần quy định rõ hơn cách thức phối hợp và phân định thẩm quyền giữa KTNN với các cơ quan nhà nước có liên quan như cơ quan thanh tra để tránh chồng theo thẩm quyền; cần có thêm những quy định về chế tài để xử lý trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng tài chính nhà nước, tài sản nhà nước và vi phạm trong hoạt động kiểm toán. Ngoài ra, cần quy định lại nhiệm kỳ của Tổng KTNN là 05 năm để đảm bảo tính độc lập của KTNN.

Thứ ba, ngoài hai cơ quan Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước, pháp luật cần phải quy định thêm về cơ quan bảo vệ Hiến pháp: Mặc dù cơ quan bảo vệ Hiến pháp chưa được xác định rõ ràng là CQHĐĐL như hai cơ quan trên nhưng đã có nguyên tắc hiến định: “Cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” (khoản 2 Điều 119 Hiến pháp năm 2013) thì sớm muộn vẫn phải có một văn bản luật làm cơ sở pháp lý cho việc thành lập cơ quan này. Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ra đời sẽ đóng góp vai trò tích cực trong việc bảo vệ Hiến pháp, trong đó có thể đánh giá được quy định của luật đã thực sự phản ánh đúng bản chất các vấn đề được hiến định hay chưa và như vậy cũng là cơ sở để HĐBCQG và KTNN phát huy tốt hơn vai trò của mình với tư cách là CQHĐĐL.

Thái Thị Thu Trang

Nguyễn Thị Quỳnh Trang

Đại học Luật Hà Nội



[1]. Điều 20 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015.

[2]. Xem thêm: Những điểm mới của Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015 tại: https://www.nhandan.org.vn/kinhte/item/28125002-nhung-diem-moi-cua-luat-kiem-toan-nha-nuoc-nam-2015.html, truy cập ngày 03/9/2019.

[3]. Khoản 3 Điều 71 Hiến pháp năm 2013.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: