Thứ năm 14/05/2026 01:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường

Trên cơ sở chuyên đề nghiên cứu về “Những vấn đề lý luận về rác thải khu dân cư và xử lý rác thải tại các khu dân cư” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật kỳ I - tháng 10/2023, bài viết này luận bàn một số yêu cầu cơ bản của việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong cuốn Từ điển Pháp luật Kinh tế.

1. Nhu cầu và vai trò của việc biên soạn nhóm từ mục Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

1.1. Nhu cầu của việc biên soạn nhóm từ mục Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, các từ điển pháp luật đã có những nhóm từ liên quan đến Luật Môi trường, Luật Môi trường trong kinh doanh nhưng số lượng các từ được giải nghĩa, giải thích không nhiều trong tổng số các thuật ngữ trong từ điển.

Thứ hai, việc giải thích, diễn giải nội dung thuật ngữ chủ yếu phụ thuộc vào pháp luật thực định. Hay nói cách khác, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường chưa thoát ly pháp luật thực định và từ đó giá trị khoa học không cao và nhanh trở thành lạc hậu, không chính xác khi các văn bản pháp luật có sửa đổi, bổ sung.

Thứ ba, tình trạng phụ thuộc vào pháp luật thực định tại thời điểm xuất bản cũng làm cho các từ điển nêu trên trở thành lạc hậu do không bao quát được những lĩnh vực mà có sự ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng những thuật ngữ mới, khái niệm mới. Lĩnh vực pháp luật kinh tế nói chung và lĩnh vực pháp luật môi trường nói riêng là những lĩnh vực pháp luật có nhiều thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng với sự vận động của nền kinh tế và những vấn đề môi trường đã phát sinh hoặc có thể sẽ phát sinh trong tương lai.

Luật Môi trường ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật quốc gia, là xu thế tất yếu, khách quan. Trong đó, pháp luật bảo vệ môi trường trong kinh doanh là một lĩnh vực của chuyên ngành trong pháp luật kinh tế. Do đó, việc biên soạn, xuất bản biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế không chỉ có tác dụng tạo công cụ tra cứu, tìm hiểu Luật Môi trường, Luật Môi trường trong hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng, tiện lợi và tin cậy đối với giới chuyên môn, học viên, sinh viên mà còn bảo tồn, ghi nhận những thành tựu của nền khoa học pháp lý cũng như của thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật môi trường ở Việt Nam.

1.2. Vai trò của việc biên soạn nhóm từ mục Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về môi trường. Việc chuẩn hóa các thuật ngữ dưới giác độ khoa học của từ điển là một kênh tham khảo cho các nhà làm làm luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực pháp luật môi trường. Việc tham khảo không chỉ dừng lại ở định nghĩa thuật ngữ, cách giải thích dưới giác độ pháp lý và các giác độ khác (nếu có), cách hiểu các thuật ngữ mà còn có thể tham khảo các ý tưởng khoa học pháp lý liên quan đến thuật ngữ, các nguồn tài liệu tham khảo liên quan đến thuật ngữ cũng như lĩnh vực áp dụng các thuật ngữ này. Bên cạnh đó, với điều kiện phù hợp, các nhà làm luật có thể sử dụng các thuật ngữ trong việc xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật môi trường. Nếu thuật ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật môi trường chưa chuẩn xác, chưa đầy đủ, chưa toàn diện, các nhà làm luật có thể xem xét, sử dụng cách định nghĩa của từ điển và đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật môi trường.

Thứ hai, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học pháp luật môi trường. Để có thể nghiên cứu khoa học thì nguồn tài liệu tham khảo là nguồn không thể thiếu, nhằm bảo đảm có được những thông tin cần thiết cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Từ điển Pháp luật Kinh tế là ấn phẩm học thuật cung cấp thông tin cần thiết, chuyên sâu dùng để tham khảo phục vụ cho quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học pháp lý về kinh tế, trong đó, có khoa học pháp lý về môi trường. Do đó, nhóm thuật ngữ Luật Môi trường có vai trò trong hoạt động nghiên cứu khoa học luật môi trường, biểu hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau đây:

- Nhóm thuật ngữ Luật Môi trường cung cấp kiến thức cần thiết cho quá trình nghiên cứu khoa học luật môi trường: Nhóm thuật ngữ Luật Môi trường sẽ cung cấp những kiến thức nền tảng và chuyên sâu, đa dạng thuộc các lĩnh vực của khoa học luật môi trường. Hiện nay, nguồn tài liệu nghiên cứu về pháp luật môi trường rất phong phú và dễ dàng tìm kiếm. Tuy nhiên, có những nguồn tài liệu tham khảo về các thuật ngữ liên quan đến pháp luật môi trường, đặc biệt là trên mạng internet, không hoặc có giá trị khoa học thấp hoặc có thể được hiểu dưới giác độ của khoa học môi trường, khoa học trái đất hoặc trong các lĩnh vực khác, dẫn đến sự không chính xác với lĩnh vực khoa học luật môi trường. Do đó, nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế có thể là một nguồn tham khảo uy tín cho các hoạt động nghiên cứu khoa học.

- Nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế có thể giúp người nghiên cứu có cái nhìn bao quát về khoa học luật môi trường, từ đó, có thể giúp các nhà nghiên cứu về pháp luật môi trường có cách nhìn tổng quan nhất về vấn đề, kết quả, hạn chế và khoảng trống nghiên cứu. Điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu có được hướng nghiên cứu phù hợp và có được những đóng góp mới cho vấn đề cần nghiên cứu.

Thứ ba, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạo, học tập Luật Môi trường. Luật Môi trường là một môn học bắt buộc trong một số cơ sở đào tạo đại học, sau đại học. Do đó, bên cạnh các nguồn tài liệu, giáo trình, các tri thức khoa học luật môi trường của thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế là nguồn tài liệu khoa học hữu ích trong quá trình đào tạo, thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp, tiến hành hoạt động thảo luận các nội dung môn học của giảng viên, học viên đại học và sau đại học. Bên cạnh đó, các tri thức khoa học luật môi trường của thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế cũng là nguồn tài liệu khoa học hữu ích cho quá trình nghiên cứu khoa học, quá trình tự học của giảng viên, học viên đại học và sau đại học.

2. Yêu cầu việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

Một là, việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế phải bảo đảm tính khoa học. Về mặt chuyên môn, việc tổ chức lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường này cần thực hiện bài bản, có phương pháp và cần bao quát được các vấn đề pháp lý của Luật Môi trường.

Hai là, cần phải quan tâm tới tính ứng dụng của nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế. Từ điển được biên soạn với mục đích chủ yếu, trước triên là để tra cứu. Muốn vậy, từ điển đó phải chứa đựng các thông tin cần thiết, đáp ứng nhu cầu thường xuyên và mới nảy sinh của khoa học luật môi trường. Việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường phải có hệ thống, dễ dàng, thuận tiện cho việc tra cứu, sử dụng.

Ba là, việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế phải mang tính hiện đại. Việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế phải cập nhật các tri thức mới, cần tham khảo pháp luật môi trường quốc tế, pháp luật môi trường các quốc gia phát triển trên thế giới. Các thuật ngữ được lựa chọn, biên soạn cần được thiết kế một cách hệ thống, khóa học, logic đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, hướng tới đáp ứng được yêu cầu chuẩn quốc tế…

3. Tiêu chí lựa chọn để đưa nhóm thuật ngữ Luật Môi trường vào Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, vai trò của thuật ngữ Luật Môi trường với khoa học luật môi trường.

Các thuật ngữ được sử dụng trong chuyên ngành khoa học luật môi trường có số lượng khá lớn do phạm vi điều chỉnh của Luật Môi trường rất rộng. Vì vậy, khó có thể đưa tất cả các thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học luật môi trường vào Từ điển Pháp luật Kinh tế này. Do đó, cần đánh giá vai trò, tầm quan trọng của thuật ngữ cụ thể với khoa học luật môi trường và trên cơ sở đó quyết định có đưa thuật ngữ này vào nhóm thuật ngữ biên soạn hay không. Trên cơ sở đó, cần phân loại những thuật ngữ khoa học luật môi trường thành: (i) Những thuật ngữ không cơ bản, không quan trọng; (ii) Những thuật ngữ cơ bản thể hiện tri thức thiết yếu, quan trọng của khoa học luật môi trường. Từ đây, ta sẽ lựa chọn những thuật ngữ cơ bản thể hiện tri thức thiết yếu, quan trọng của khoa học luật môi trường để đưa vào Từ điển Pháp luật Kinh tế.

Thứ hai, tính phổ biến của thuật ngữ.

Việc xem xét để đưa một thuật ngữ vào Từ điển Pháp luật Kinh tế nhằm xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật môi trường hoặc để giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học cần phải trả lời các câu hỏi, đó là: (i) Mức độ lặp lại của việc sử dụng thuật ngữ đó trong các văn bản quy phạm pháp luật môi trường/trong giảng dạy pháp luật môi trường ở thời điểm hiện tại và tương lai; (ii) Mức độ của việc sử dụng thuật ngữ đó nhiều lần, lặp lại trong một hay nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực pháp luật môi trường/trong học tập pháp luật môi trường của học viên; (iii) Mức độ của việc sử dụng thuật ngữ đó nhiều lần, lặp lại trong các chế định khác nhau của pháp luật môi trường/trong nghiên cứu khoa học pháp luật môi trường của giảng viên, học viên.

Thứ ba, nhu cầu của người tra cứu thuật ngữ Luật Môi trường.

Việc lựa chọn, biên soạn và xuất bản nhóm thuật ngữ Luật Môi trường không phải là nhu cầu tự thân mà nhằm đáp ứng nhu cầu của người tra cứu, bao gồm các cán bộ quản lý, thực thi, áp dụng pháp luật, các nhà làm luật nhưng trước hết là giảng viên và học viên các hệ đào tạo pháp luật, trong đó có Luật Môi trường. Nhu cầu này xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm thông tin, tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu của giảng viên và học viên các hệ đào tạo pháp luật. Bên cạnh các tài liệu khác như giáo trình, các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố thì Từ điển chuyên ngành là một trong những nguồn tài liệu quan trọng, đặc biệt khi cần tìm hiểu về nội dung khoa học của các thuật ngữ. Trên cơ sở đó, để phân loại và từ đó xem xét có nên đưa một thuật ngữ Luật Môi trường vào Từ điển Pháp luật Kinh tế hay không cần trả lời các câu hỏi: (i) Mức độ quan trọng và cần thiết của thuật ngữ đó trong giảng dạy pháp luật môi trường ở thời điểm hiện tại và tương lai; (ii) Mức độ quan trọng và cần thiết của thuật ngữ đó trong học tập pháp luật môi trường của học viên; (iii) Mức độ quan trọng và cần thiết của thuật ngữ đó trong nghiên cứu khoa học pháp luật môi trường của giảng viên, học viên.

Thứ tư, tính hệ thống trong lựa chọn thuật ngữ Luật Môi trường.

Tính hệ thống của các thuật ngữ Luật Môi trường xuất phát từ tính hệ thống của khoa học luật môi trường. Khoa học luật môi trường nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia sử dụng, khai thác, tác động hoặc có nguy cơ gây tác động xấu tới các yếu tố khác nhau của môi trường. Như vậy, Luật Môi trường có nhiều nhóm chế định khác nhau, từ các chế định mang tính phòng ngừa, giải quyết các tác động xấu tới môi trường đến các nhóm chế định nhằm kiểm soát hành vi khai thác, sử dụng các thành phần môi trường. Mặc dù là các chế định độc lập nhưng giữa các chế định này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động chi phối lẫn nhau. Do đó, để nhận biết, để hiểu một cách đầy đủ, toàn diện, chính xác khoa học luật môi trường trường thì không chỉ nhận biết, hiểu từng chế định của Luật Môi trường mà còn phải nắm bắt được mối quan hệ giữa các chế định này.

Bên cạnh đó, khoa học luật môi trường cũng có đối tượng nghiên cứu khác biệt với các lĩnh vực khoa học môi trường khác. Khoa học luật môi trường nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động sử dụng, khai thác và bảo vệ môi trường chính là tiêu chí quan trọng để phân biệt khoa học luật môi trường với các bộ môn khoa học khác như môi trường học, sinh thái học... Các bộ môn khoa học kể trên nghiên cứu các hiện tượng, các biến động tự nhiên của môi trường dưới những tác động khác nhau của thiên nhiên và con người. Khi nghiên cứu môi trường, các ngành khoa học này không chú trọng hoặc ít chú trọng đến các khía cạnh xã hội của các vấn đề môi trường. Con người trong các nghiên cứu này chỉ được đánh giá như những chủ thể tự nhiên trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường. Ngược lại, Luật Môi trường không chú trọng đến các khía cạnh tự nhiên của vấn đề môi trường mà chỉ chú trọng đến khía cạnh xã hội của chúng. Tuy nhiên, để hiểu một số chế định, thuật ngữ pháp lý luật môi trường thì cũng cần một số kiến thức về khoa học môi trường, đặc biệt là các biến động tự nhiên của môi trường dưới những tác động khác nhau của thiên nhiên và con người, các tác động qua lại giữa các thành phần môi trường.

Từ đây, khi lựa chọn, biên soạn thuật ngữ Luật Môi trường cần xem xét vị trí của thuật ngữ, mối quan hệ của thuật ngữ thuộc một chế định với các thuật ngữ khác thuộc các chế định khác của Luật Môi trường. Đồng thời, cần xem xét một số thuật ngữ quan trọng của khoa học môi trường có ảnh hưởng lớn tới giảng dạy, học tập, nghiên cứu Luật Môi trường...

TS. Nguyễn Văn Phương

Trường Đại học Luật Hà Nội

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: