Thứ ba 10/02/2026 06:12
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở khoa học và thực tiễn của việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường

Trên cơ sở chuyên đề nghiên cứu về “Những vấn đề lý luận về rác thải khu dân cư và xử lý rác thải tại các khu dân cư” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật kỳ I - tháng 10/2023, bài viết này luận bàn một số yêu cầu cơ bản của việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong cuốn Từ điển Pháp luật Kinh tế.

1. Nhu cầu và vai trò của việc biên soạn nhóm từ mục Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

1.1. Nhu cầu của việc biên soạn nhóm từ mục Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, các từ điển pháp luật đã có những nhóm từ liên quan đến Luật Môi trường, Luật Môi trường trong kinh doanh nhưng số lượng các từ được giải nghĩa, giải thích không nhiều trong tổng số các thuật ngữ trong từ điển.

Thứ hai, việc giải thích, diễn giải nội dung thuật ngữ chủ yếu phụ thuộc vào pháp luật thực định. Hay nói cách khác, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường chưa thoát ly pháp luật thực định và từ đó giá trị khoa học không cao và nhanh trở thành lạc hậu, không chính xác khi các văn bản pháp luật có sửa đổi, bổ sung.

Thứ ba, tình trạng phụ thuộc vào pháp luật thực định tại thời điểm xuất bản cũng làm cho các từ điển nêu trên trở thành lạc hậu do không bao quát được những lĩnh vực mà có sự ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật có chứa đựng những thuật ngữ mới, khái niệm mới. Lĩnh vực pháp luật kinh tế nói chung và lĩnh vực pháp luật môi trường nói riêng là những lĩnh vực pháp luật có nhiều thay đổi theo thời gian nhằm đáp ứng với sự vận động của nền kinh tế và những vấn đề môi trường đã phát sinh hoặc có thể sẽ phát sinh trong tương lai.

Luật Môi trường ngày càng có vai trò, vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc tế cũng như hệ thống pháp luật quốc gia, là xu thế tất yếu, khách quan. Trong đó, pháp luật bảo vệ môi trường trong kinh doanh là một lĩnh vực của chuyên ngành trong pháp luật kinh tế. Do đó, việc biên soạn, xuất bản biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế không chỉ có tác dụng tạo công cụ tra cứu, tìm hiểu Luật Môi trường, Luật Môi trường trong hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng, tiện lợi và tin cậy đối với giới chuyên môn, học viên, sinh viên mà còn bảo tồn, ghi nhận những thành tựu của nền khoa học pháp lý cũng như của thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật môi trường ở Việt Nam.

1.2. Vai trò của việc biên soạn nhóm từ mục Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về môi trường. Việc chuẩn hóa các thuật ngữ dưới giác độ khoa học của từ điển là một kênh tham khảo cho các nhà làm làm luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực pháp luật môi trường. Việc tham khảo không chỉ dừng lại ở định nghĩa thuật ngữ, cách giải thích dưới giác độ pháp lý và các giác độ khác (nếu có), cách hiểu các thuật ngữ mà còn có thể tham khảo các ý tưởng khoa học pháp lý liên quan đến thuật ngữ, các nguồn tài liệu tham khảo liên quan đến thuật ngữ cũng như lĩnh vực áp dụng các thuật ngữ này. Bên cạnh đó, với điều kiện phù hợp, các nhà làm luật có thể sử dụng các thuật ngữ trong việc xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật môi trường. Nếu thuật ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật môi trường chưa chuẩn xác, chưa đầy đủ, chưa toàn diện, các nhà làm luật có thể xem xét, sử dụng cách định nghĩa của từ điển và đưa vào các văn bản quy phạm pháp luật môi trường.

Thứ hai, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường đóng vai trò quan trọng trong nghiên cứu khoa học pháp luật môi trường. Để có thể nghiên cứu khoa học thì nguồn tài liệu tham khảo là nguồn không thể thiếu, nhằm bảo đảm có được những thông tin cần thiết cho hoạt động nghiên cứu khoa học. Từ điển Pháp luật Kinh tế là ấn phẩm học thuật cung cấp thông tin cần thiết, chuyên sâu dùng để tham khảo phục vụ cho quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học pháp lý về kinh tế, trong đó, có khoa học pháp lý về môi trường. Do đó, nhóm thuật ngữ Luật Môi trường có vai trò trong hoạt động nghiên cứu khoa học luật môi trường, biểu hiện ở một số khía cạnh cơ bản sau đây:

- Nhóm thuật ngữ Luật Môi trường cung cấp kiến thức cần thiết cho quá trình nghiên cứu khoa học luật môi trường: Nhóm thuật ngữ Luật Môi trường sẽ cung cấp những kiến thức nền tảng và chuyên sâu, đa dạng thuộc các lĩnh vực của khoa học luật môi trường. Hiện nay, nguồn tài liệu nghiên cứu về pháp luật môi trường rất phong phú và dễ dàng tìm kiếm. Tuy nhiên, có những nguồn tài liệu tham khảo về các thuật ngữ liên quan đến pháp luật môi trường, đặc biệt là trên mạng internet, không hoặc có giá trị khoa học thấp hoặc có thể được hiểu dưới giác độ của khoa học môi trường, khoa học trái đất hoặc trong các lĩnh vực khác, dẫn đến sự không chính xác với lĩnh vực khoa học luật môi trường. Do đó, nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế có thể là một nguồn tham khảo uy tín cho các hoạt động nghiên cứu khoa học.

- Nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế có thể giúp người nghiên cứu có cái nhìn bao quát về khoa học luật môi trường, từ đó, có thể giúp các nhà nghiên cứu về pháp luật môi trường có cách nhìn tổng quan nhất về vấn đề, kết quả, hạn chế và khoảng trống nghiên cứu. Điều này sẽ giúp các nhà nghiên cứu có được hướng nghiên cứu phù hợp và có được những đóng góp mới cho vấn đề cần nghiên cứu.

Thứ ba, việc biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đào tạo, học tập Luật Môi trường. Luật Môi trường là một môn học bắt buộc trong một số cơ sở đào tạo đại học, sau đại học. Do đó, bên cạnh các nguồn tài liệu, giáo trình, các tri thức khoa học luật môi trường của thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế là nguồn tài liệu khoa học hữu ích trong quá trình đào tạo, thông qua hoạt động giảng dạy trên lớp, tiến hành hoạt động thảo luận các nội dung môn học của giảng viên, học viên đại học và sau đại học. Bên cạnh đó, các tri thức khoa học luật môi trường của thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế cũng là nguồn tài liệu khoa học hữu ích cho quá trình nghiên cứu khoa học, quá trình tự học của giảng viên, học viên đại học và sau đại học.

2. Yêu cầu việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế

Một là, việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế phải bảo đảm tính khoa học. Về mặt chuyên môn, việc tổ chức lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường này cần thực hiện bài bản, có phương pháp và cần bao quát được các vấn đề pháp lý của Luật Môi trường.

Hai là, cần phải quan tâm tới tính ứng dụng của nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế. Từ điển được biên soạn với mục đích chủ yếu, trước triên là để tra cứu. Muốn vậy, từ điển đó phải chứa đựng các thông tin cần thiết, đáp ứng nhu cầu thường xuyên và mới nảy sinh của khoa học luật môi trường. Việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường phải có hệ thống, dễ dàng, thuận tiện cho việc tra cứu, sử dụng.

Ba là, việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế phải mang tính hiện đại. Việc lựa chọn, biên soạn nhóm thuật ngữ Luật Môi trường trong Từ điển Pháp luật Kinh tế phải cập nhật các tri thức mới, cần tham khảo pháp luật môi trường quốc tế, pháp luật môi trường các quốc gia phát triển trên thế giới. Các thuật ngữ được lựa chọn, biên soạn cần được thiết kế một cách hệ thống, khóa học, logic đáp ứng yêu cầu về chuẩn kiến thức, hướng tới đáp ứng được yêu cầu chuẩn quốc tế…

3. Tiêu chí lựa chọn để đưa nhóm thuật ngữ Luật Môi trường vào Từ điển Pháp luật Kinh tế

Thứ nhất, vai trò của thuật ngữ Luật Môi trường với khoa học luật môi trường.

Các thuật ngữ được sử dụng trong chuyên ngành khoa học luật môi trường có số lượng khá lớn do phạm vi điều chỉnh của Luật Môi trường rất rộng. Vì vậy, khó có thể đưa tất cả các thuật ngữ thuộc lĩnh vực khoa học luật môi trường vào Từ điển Pháp luật Kinh tế này. Do đó, cần đánh giá vai trò, tầm quan trọng của thuật ngữ cụ thể với khoa học luật môi trường và trên cơ sở đó quyết định có đưa thuật ngữ này vào nhóm thuật ngữ biên soạn hay không. Trên cơ sở đó, cần phân loại những thuật ngữ khoa học luật môi trường thành: (i) Những thuật ngữ không cơ bản, không quan trọng; (ii) Những thuật ngữ cơ bản thể hiện tri thức thiết yếu, quan trọng của khoa học luật môi trường. Từ đây, ta sẽ lựa chọn những thuật ngữ cơ bản thể hiện tri thức thiết yếu, quan trọng của khoa học luật môi trường để đưa vào Từ điển Pháp luật Kinh tế.

Thứ hai, tính phổ biến của thuật ngữ.

Việc xem xét để đưa một thuật ngữ vào Từ điển Pháp luật Kinh tế nhằm xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật môi trường hoặc để giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học cần phải trả lời các câu hỏi, đó là: (i) Mức độ lặp lại của việc sử dụng thuật ngữ đó trong các văn bản quy phạm pháp luật môi trường/trong giảng dạy pháp luật môi trường ở thời điểm hiện tại và tương lai; (ii) Mức độ của việc sử dụng thuật ngữ đó nhiều lần, lặp lại trong một hay nhiều văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực pháp luật môi trường/trong học tập pháp luật môi trường của học viên; (iii) Mức độ của việc sử dụng thuật ngữ đó nhiều lần, lặp lại trong các chế định khác nhau của pháp luật môi trường/trong nghiên cứu khoa học pháp luật môi trường của giảng viên, học viên.

Thứ ba, nhu cầu của người tra cứu thuật ngữ Luật Môi trường.

Việc lựa chọn, biên soạn và xuất bản nhóm thuật ngữ Luật Môi trường không phải là nhu cầu tự thân mà nhằm đáp ứng nhu cầu của người tra cứu, bao gồm các cán bộ quản lý, thực thi, áp dụng pháp luật, các nhà làm luật nhưng trước hết là giảng viên và học viên các hệ đào tạo pháp luật, trong đó có Luật Môi trường. Nhu cầu này xuất phát từ nhu cầu tìm kiếm thông tin, tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu của giảng viên và học viên các hệ đào tạo pháp luật. Bên cạnh các tài liệu khác như giáo trình, các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố thì Từ điển chuyên ngành là một trong những nguồn tài liệu quan trọng, đặc biệt khi cần tìm hiểu về nội dung khoa học của các thuật ngữ. Trên cơ sở đó, để phân loại và từ đó xem xét có nên đưa một thuật ngữ Luật Môi trường vào Từ điển Pháp luật Kinh tế hay không cần trả lời các câu hỏi: (i) Mức độ quan trọng và cần thiết của thuật ngữ đó trong giảng dạy pháp luật môi trường ở thời điểm hiện tại và tương lai; (ii) Mức độ quan trọng và cần thiết của thuật ngữ đó trong học tập pháp luật môi trường của học viên; (iii) Mức độ quan trọng và cần thiết của thuật ngữ đó trong nghiên cứu khoa học pháp luật môi trường của giảng viên, học viên.

Thứ tư, tính hệ thống trong lựa chọn thuật ngữ Luật Môi trường.

Tính hệ thống của các thuật ngữ Luật Môi trường xuất phát từ tính hệ thống của khoa học luật môi trường. Khoa học luật môi trường nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh giữa các chủ thể tham gia sử dụng, khai thác, tác động hoặc có nguy cơ gây tác động xấu tới các yếu tố khác nhau của môi trường. Như vậy, Luật Môi trường có nhiều nhóm chế định khác nhau, từ các chế định mang tính phòng ngừa, giải quyết các tác động xấu tới môi trường đến các nhóm chế định nhằm kiểm soát hành vi khai thác, sử dụng các thành phần môi trường. Mặc dù là các chế định độc lập nhưng giữa các chế định này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động chi phối lẫn nhau. Do đó, để nhận biết, để hiểu một cách đầy đủ, toàn diện, chính xác khoa học luật môi trường trường thì không chỉ nhận biết, hiểu từng chế định của Luật Môi trường mà còn phải nắm bắt được mối quan hệ giữa các chế định này.

Bên cạnh đó, khoa học luật môi trường cũng có đối tượng nghiên cứu khác biệt với các lĩnh vực khoa học môi trường khác. Khoa học luật môi trường nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động sử dụng, khai thác và bảo vệ môi trường chính là tiêu chí quan trọng để phân biệt khoa học luật môi trường với các bộ môn khoa học khác như môi trường học, sinh thái học... Các bộ môn khoa học kể trên nghiên cứu các hiện tượng, các biến động tự nhiên của môi trường dưới những tác động khác nhau của thiên nhiên và con người. Khi nghiên cứu môi trường, các ngành khoa học này không chú trọng hoặc ít chú trọng đến các khía cạnh xã hội của các vấn đề môi trường. Con người trong các nghiên cứu này chỉ được đánh giá như những chủ thể tự nhiên trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường. Ngược lại, Luật Môi trường không chú trọng đến các khía cạnh tự nhiên của vấn đề môi trường mà chỉ chú trọng đến khía cạnh xã hội của chúng. Tuy nhiên, để hiểu một số chế định, thuật ngữ pháp lý luật môi trường thì cũng cần một số kiến thức về khoa học môi trường, đặc biệt là các biến động tự nhiên của môi trường dưới những tác động khác nhau của thiên nhiên và con người, các tác động qua lại giữa các thành phần môi trường.

Từ đây, khi lựa chọn, biên soạn thuật ngữ Luật Môi trường cần xem xét vị trí của thuật ngữ, mối quan hệ của thuật ngữ thuộc một chế định với các thuật ngữ khác thuộc các chế định khác của Luật Môi trường. Đồng thời, cần xem xét một số thuật ngữ quan trọng của khoa học môi trường có ảnh hưởng lớn tới giảng dạy, học tập, nghiên cứu Luật Môi trường...

TS. Nguyễn Văn Phương

Trường Đại học Luật Hà Nội

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 1 (Số 392), tháng 11/2023)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: