Thứ năm 11/12/2025 03:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Cơ sở lý luận và thực tiễn cho những điểm mới trong chế định tài sản của Bộ luật Dân sự năm 2015

Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng[1]. Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, tại Điều 163 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Định nghĩa về tài sản được ghi nhận theo phương thức liệt kê - đây là phương pháp xác định cụ thể các loại tài sản. Ưu điểm của phương thức này là đã quy định các loại tài sản một cách rõ ràng và dễ hiểu. Tuy vậy, điểm hạn chế của phương pháp liệt kê là không thể hiện được bản chất hay đặc trưng của tài sản. Đồng thời, phương pháp liệt kê sẽ không bao quát được đầy đủ các loại tài sản, đặc biệt khi nhiều loại tài sản mới phát sinh trên thực tế theo sự phát triển kinh tế, xã hội.

1. Về vị trí của chế định tài sản
Theo cách thức được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 1995 và Bộ luật Dân sự năm 2005, chế định tài sản được quy định cùng với chế định quyền sở hữu tại Phần thứ 2 của Bộ luật. Với cách thức kết cấu này, nhiều nhận thức sai lầm cho rằng tài sản chỉ là đối tượng của quyền sở hữu. Trái ngược lại, tài sản là chế định trung tâm, cốt lõi trong Bộ luật Dân sự của bất cứ một quốc gia nào, chi phối và ảnh hưởng tới nhiều các chế định khác. Tài sản không chỉ là đối tượng của quyền sở hữu mà tài sản còn là đối tượng của nhiều quan hệ dân sự như: Quan hệ thừa kế, quan hệ nghĩa vụ - hợp đồng, quan hệ bồi thường thiệt hại...

Nhận thức đúng đắn về chức năng và vai trò của chế định tài sản, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã tách chế định tài sản khỏi phần quyền sở hữu và quy định thành một chương riêng, cụ thể là Chương VII (từ Điều 105 đến Điều 115) thuộc Phần thứ nhất - Những quy định chung. Kết cấu này đã khẳng định được chế định tài sản là chế định trung tâm của Bộ luật Dân sự, là đối tượng của nhiều quan hệ dân sự khác nhau. Đồng thời, việc quy định này đã tạo nên sự nhận thức thống nhất về vị trí, vai trò của chế định tài sản, tránh sự tranh cãi không cần thiết về lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật.

2. Về khái niệm tài sản

Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng[1]. Trong Bộ luật Dân sự năm 2005, tại Điều 163 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Định nghĩa về tài sản được ghi nhận theo phương thức liệt kê - đây là phương pháp xác định cụ thể các loại tài sản. Ưu điểm của phương thức này là đã quy định các loại tài sản một cách rõ ràng và dễ hiểu. Tuy vậy, điểm hạn chế của phương pháp liệt kê là không thể hiện được bản chất hay đặc trưng của tài sản. Đồng thời, phương pháp liệt kê sẽ không bao quát được đầy đủ các loại tài sản, đặc biệt khi nhiều loại tài sản mới phát sinh trên thực tế theo sự phát triển kinh tế, xã hội.

Đến Bộ luật Dân sự năm 2015, định nghĩa về tài sản được tái quy định tại Điều 105 như sau:

“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.

Từ quy định trên có thể kết luận, phương thức liệt kê vẫn tiếp tục được sử dụng trong định nghĩa tài sản (đây là điểm kế thừa trong Bộ luật Dân sự năm 2005). Bên cạnh điểm tương đồng đó, so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định về tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có hai điểm sửa đổi quan trọng sau đây:

Thứ nhất, Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “tài sản bao gồm…” thì Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 sửa đổi thành “tài sản là…”. Đây không phải là thay đổi mang tính căn bản; sự thay đổi này không tạo ra sự khác biệt bản chất giữa hai khái niệm về tài sản được ghi nhận trong hai Bộ luật Dân sự.

Cơ sở cho sự thay đổi này xuất phát từ khuôn mẫu của quy phạm định nghĩa. Quy phạm định nghĩa là những quy phạm nhằm giải thích nội hàm cho thuật ngữ pháp lý. Cách thức ghi nhận phổ biến của quy phạm định nghĩa là thuật ngữ cần quy định hay cần giải thích và theo ngay sau đó là liên từ “là”. Điều này được thể hiện rất rõ thông qua nhiều quy phạm định nghĩa trong Bộ luật Dân sự năm 2015 như khoản 1 Điều 5: “Tập quán là quy tắc xử sự...”; khoản 1 Điều 16: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự”; khoản 1 Điều 25: “Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác...”; Điều 385: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”... Thực chất Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 thuộc nhóm quy phạm định nghĩa; do đó, để đúng với chuẩn mực của quy phạm định nghĩa và đồng thời tương thích với các quy phạm định nghĩa khác được ghi nhận trong Bộ luật mà Ban soạn thảo luật đã thay thuật ngữ “bao gồm” thành thuật ngữ “là”.

Thứ hai, khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung thêm về các cách thức phân loại tài sản cơ bản so với Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005, theo đó: “Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Đây là điểm mới được đánh giá tích cực so với quy định cũ. Trong quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự năm 2015, bên cạnh việc nghiên cứu các cơ sở thực tiễn làm nền tảng cho việc sửa đổi thì Ban soạn thảo rất chú trọng đến việc học hỏi kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia trên thế giới. Thông qua việc tìm hiểu Bộ luật Dân sự Pháp, Đức, Canada, Nga… thì có thể nhận thấy định nghĩa về tài sản của các quốc gia này đều hàm chứa một số cách thức phân loại tài sản cơ bản. Điều 899 Bộ luật Dân sự Quesbec (Canada) quy định: Tài sản, dù hữu hình hay vô hình, được phân chia thành bất động sản và động sản; Điều 516 Bộ luật Dân sự Pháp ghi nhận: Tài sản chia thành động sản và bất động sản; Điều 128 Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga: Tài sản gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình.

Qua các phân tích trên có thể kết luận rằng, những điểm mới về khái niệm tài sản được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự năm 2015 được xây dựng dựa trên ba cơ sở chính sau đây: (i) Xuất phát từ chính những hạn chế, bất cập tại Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005; (ii) Xuất phát từ phương thức phổ biến khi xây dựng quy phạm định nghĩa; (iii) Xuất phát từ việc học tập kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài.

3. Bổ sung thêm quy định về tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai

Bộ luật Dân sự năm 2005 đã tạo ra một khoảng trống lớn khi chỉ ghi nhận về động sản và bất động sản mà không quy định về tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai. Khắc phục điểm hạn chế này, Điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận: “1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.

2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:

a) Tài sản chưa hình thành;

b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch”.

Theo quy định trên, cơ sở để phân định tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai gồm:

- Sự hình thành của tài sản tại thời điểm hiện tại;

- Thời điểm xác lập sở hữu đối với tài sản so với thời điểm xác lập giao dịch.

Để được thừa nhận là một tài sản hiện có thì cần đáp ứng đầy đủ hai điều kiện: (i) Đã hình thành; (ii) Chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch. Nếu một tài sản không đáp ứng một trong hai điều kiện này thì tài sản đó không được coi là tài sản hiện có mà được xếp sang nhóm tài sản hình thành trong tương lai. Bởi vậy, đây chính là nguyên nhân tài sản hình thành trong tương lai được phân thành hai loại:

- Tài sản chưa hình thành, đây là loại tài sản chưa có tại thời điểm hiện tại. Ví dụ: Nhà chung cư đang xây dựng chưa hoàn thành…

- Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch (trường hợp này thường áp dụng đối với các tài sản hình thành trong tương lai thuộc nhóm tài sản phải đăng kí sở hữu).

Việc bổ sung quy định về tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn. Với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, xã hội thì tài sản hình thành trong tương lai ngày càng trở nên phổ biến, là đối tượng thường xuyên trong các hợp đồng mua bán, trao đổi, tặng cho, thế chấp... (đặc biệt đối tài sản là nhà ở hình thành trong tương lai). Tầm quan trọng và ý nghĩa của loại tài sản này trong đời sống xã hội là điều không thể phủ nhận nhưng trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành thì quy định về tài sản hình thành trong tương lai chỉ được ghi nhận trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP) mà chưa được chính thức ghi nhận trong Bộ luật. Việc bổ sung quy định về tài sản hình thành trong tương lai đã đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn xã hội nước ta hiện nay.

4. Sửa đổi, bổ sung khái niệm về quyền tài sản

Quyền tài sản chính là các loại tài sản vô hình, không nhìn thấy hay cầm nắm được. Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ”. Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã sửa đổi để làm rõ hơn về loại tài sản này, cụ thể: “Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. So với quy định về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005, quy định này có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất, Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 không tái quy định điều kiện quyền tài sản phải có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Điều này được hiểu, quyền tài sản có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự hoặc không. Có ý kiến cho rằng: Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định một trong những điều kiện để trở thành quyền tài sản thì đối tượng đó phải có khả năng chuyển giao trong giao dịch dân sự. Điều này dẫn đến nhiều quyền có giá trị về vật chất nhưng pháp luật có những quy định không có phép chuyển giao (như quyền mua nhà ở tái định cư) hoặc quyền đòi bồi thường do xâm phạm tới yếu tố nhân thân nên gây ra những khó khăn trong việc áp dụng pháp luật[2]. Đồng tình với quan điểm này, tác giả cho rằng 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 bỏ hẳn yếu tố “có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự” là phù hợp.

Thứ hai, Điều 183 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định không chính xác khi ghi nhận quyền tài sản bao gồm quyền sở hữu trí tuệ. Bởi lẽ, quyền sở hữu trí tuệ gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản. Cách thức ghi nhận như trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bao quát hết các quyền nhân thân của quyền sở hữu trí tuệ. Khắc phục điểm bất cập này, Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định rõ “quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ” - Điều luật này đã liệt kê và chỉ rõ phạm vi những quyền được coi là quyền tài sản, tránh được sự nhầm lẫn với một số quyền nhân thân.

Thứ ba, Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã chấm dứt các tranh cãi trên thực tế liên quan đến bản chất của quyền sử dụng đất với sự bổ sung rõ ràng: “Quyền tài sản… bao gồm… quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác”. Do đặc thù của nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân; do đó, cá nhân hay các chủ thể khác chỉ có quyền sở hữu đối với “quyền sử dụng đất”. Trước khi Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành, tại Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về quyền tài sản chưa ghi nhận cụ thể về quyền sử dụng đất nên cả về lý luận và thực tiễn, còn nhiều quan điểm trái chiều nhau liên quan đến loại tài sản này, có quan điểm cho rằng quyền sử dụng đất chính là quyền tài sản; còn quan điểm ngược lại phủ nhận nội dung này. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã giải quyết được lỗ hổng này trong Bộ luật Dân sự năm 2005.

Qua các phân tích trên có thể thấy, nền tảng quan trọng nhất cho sự sửa đổi, bổ sung quy định về quyền tài sản chính là xuất phát từ những điểm hạn chế, bất cập của quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2005 về quyền tài sản.

5. Về đăng ký tài sản

Đăng ký quyền sở hữu là việc chính thức ghi vào văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền những thông tin cần thiết liên quan đến tài sản để làm cơ sở phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp lý của chủ sở hữu tài sản đối với một tài sản nhất định[3]. Việc đăng ký quyền sở hữu tài sản có hai mục đích cơ bản như: (i) Công nhận quyền và bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp của chủ sở hữu; (ii) Góp phần bảo đảm sự minh bạch của các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản đó.

Vấn đề đăng kí quyền sở hữu đối với tài sản được ghi nhận tại Điều 167 Bộ luật Dân sự năm 2005: “Quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký bất động sản. Quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Bên cạnh Bộ luật Dân sự năm 2005, các văn bản quy định về trình tự, thủ tục đăng ký bất động sản, quy định về tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu cũng được xây dựng. Qua việc nghiên cứu cũng như qua thực tế áp dụng quy định về đăng ký quyền sở hữu trong Bộ luật Dân sự năm 2005 thì có thể thấy rằng, vấn đề này cũng mắc phải một số bất cập sau: Điều 167 Bộ luật Dân sự năm 2005 chỉ quy định ở việc đăng ký quyền sở hữu tài sản mà chưa quy định việc đăng ký với quyền khác đối với tài sản; đối với quy trình, thủ tục đăng ký thì vấn đề công khai việc đăng ký là nội dung quan trọng, có ý nghĩa thiết thực trên thực tế nhằm minh bạch hóa các giao dịch, hạn chế hiệu quả các vụ lừa đảo tài sản thông qua mua bán, thế chấp… Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2005 lại chưa có quy định ràng buộc pháp lý cho vấn đề này.

Xuất phát từ những cơ sở trên, Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về vấn đề đăng ký tài sản như sau:

“1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.

2. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.

3. Việc đăng ký tài sản phải được công khai”.

Quy định trên có hai điểm mới quan trọng đó là: (i) Việc quy định đăng ký được mở rộng, áp dụng không chỉ với tài sản mà còn bao gồm đăng ký quyền khác đối với tài sản; (ii) Để bảo đảm tính minh bạch, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bổ sung quy định các thông tin về tài sản đã đăng ký phải được công khai.

Cũng như các điểm mới khác, cơ sở để sửa đổi, bổ sung quy định về đăng ký tài sản trước hết xuất phát từ những hạn chế tồn tại trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Hơn thế nữa, với bổ sung quy định bắt buộc công khai việc đăng ký xuất phát từ đòi hỏi cấp thiết từ thực tế. Trong thời gian vừa qua, tại nước ta xảy ra liên tiếp các vụ lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thông qua các giao dịch như mua bán, tặng cho, thế chấp tài sản… Một phần nguyên nhân dẫn đến thực trạng này xuất phát từ chính sự yếu kém trong hoạt động đăng ký và công khai thông tin đăng ký của nước ta. Do vậy, việc bắt buộc công khai thông tin đăng ký tài sản nhằm minh bạch hóa thị trường, hạn chế thấp nhất các vụ việc lừa đảo trên thực tế.

Liên quan đến quy trình, thủ tục đăng ký tài sản, Nhật Bản là quốc gia có luật riêng về vấn đề này; bên cạnh đó, hệ thống đăng ký tài sản ở Nhật Bản tương đối hoàn thiện và hoạt động hiệu quả. Trong quá trình sửa đổi, bổ sung quy định về đăng ký tài sản, Việt Nam học hỏi được nhiều kinh nghiệm từ Nhật Bản. Chia sẻ kinh nghiệm về hệ thống đăng ký bất động sản, đại diện đến từ Bộ Tư pháp Nhật Bản nhấn mạnh “đăng ký bất động sản nhằm quản lý tốt hơn thông tin về lãnh thổ như xác định rõ vị trí, kế hoạch sử dụng, tình trạng sử dụng, diện tích, người sử dụng, giá đất, thuế… của bất động sản; điều kiện cơ bản nhất của đăng ký tài sản chính là tính minh bạch, sự công khai với những cấp quyền thông tin khác nhau, từ đó tránh được những rủi ro trong giao dịch dân sự nói chung và giao dịch dân sự bảo đảm nói riêng…”[4]. Các kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới nói chung, kinh nghiệm của Nhật Bản nói riêng liên quan đến đăng ký tài sản là cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam học hỏi để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về nội dung này.

ThS.NCS. Lê Thị Giang

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1] ThS. Huỳnh Trung Hậu “Tìm hiểu một số điểm mới về chế định tài sản trong Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015”, Tạp chí Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân số 72 (tháng 2/2016).

[2] PGS.TS Đỗ Văn Đại (chủ biên): “Bình luận khoa học Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015”, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam”, 2016, tr.125.

[3] ThS. Huỳnh Trung Hậu “Tìm hiểu một số điểm mới về chế định tài sản trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015”, Tạp chí Khoa học giáo dục Cảnh sát nhân dân số 72 (tháng 2/2016).

[4] “Hội thảo trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản trong lĩnh vực đăng ký tài sản, khuyến nghị xây dựng Luật Đăng ký tài sản tại Việt Nam” ngày 09/2/2017, Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm - Bộ Tư pháp đã phối hợp với JICA, http://hoptacquocte.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/tin-hoat-dong.aspx?ItemID=423, ngày truy cập: 28/05/2018.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: