Thứ bảy 08/08/2026 23:07
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Con dâu tuổi Dần

Để cưới được Út Mót, Hai Thành đã phải thề thốt, thuyết phục đủ điều chú thím Tư mới đồng ý. Nhưng từ ngày nhận được cái gật đầu của chú thím, Hai Thành phải làm đủ thứ việc trên đời, Út Mót làm gì cũng không vừa mắt thím.


Bữa chú Tư Tánh xuất viện trở về nhà, hàng xóm, láng giềng lắc đầu thở dài ngao ngán nói, cản thế nào cũng không được thì cho chết cũng vừa. Chú Tư Tánh đột nhiên bị tai biến nhưng nhờ phát hiện kịp thời nên giữ lại được cái mạng. Má chồng Út Mót đấm lên ngực thình thịch, khóc không thành tiếng. Út Mót ngồi cạnh giường bệnh canh cho ba chồng, mặc kệ những tiếng xì xầm bên tai. Ngó thấy vợ lầm lũi cúi mặt xuống, Hai Thành thương đứt ruột đứt gan mà chẳng dám tiếp một lời nói đỡ.

Để cưới được Út Mót, Hai Thành đã phải thề thốt, thuyết phục đủ điều chú thím Tư mới đồng ý. Nhưng từ ngày nhận được cái gật đầu của chú thím, Hai Thành phải làm đủ thứ việc trên đời, Út Mót làm gì cũng không vừa mắt thím.

Út Mót về nhà độ chừng ba tháng đã có bầu. Hai Thành đứng ngồi không yên khi thấy vợ bị nghén không ngóc đầu lên nổi. Hàng xóm chỉ không biết bao nhiêu cách mà Út Mót vẫn bị nghén lên bờ xuống ruộng, ngửi thấy mùi tanh là ói tới mật xanh mật vàng. Thím Tư nhìn cảnh đó mà lắc đầu.

- Nhõng nhẽo với chồng thì có. Chứ nghén kiểu gì? Tui có năm, sáu mặt con nè. Có đứa nào nghén đến vậy đâu.

Đến tháng thứ năm đứa trẻ trong bụng mới thôi hành hạ Út Mót. Từ đấy, mọi việc trong nhà Út Mót đều cố gắng chu toàn, mặc dù cái bụng to ì ạch. Hàng xóm vẫn xì xào lời ra tiếng vào về cô con dâu tuổi Dần trong nhà thím Tư. Cứ hễ gia đình có chuyện xui rủi hay thất bại gì, người ta cũng đinh ninh cái tuổi Dần gây họa. Nhiều lần thím Tư còn nói thẳng mặt Út Mót: “Từ khi nhà này có tuổi Dần, làm ăn không ngóc đầu lên nổi”. Những lúc ấy, Út Mót chỉ biết cúi gằm mặt xuống đất se hai vạt áo vào nhau. Hai Thành thương vợ nhưng cũng không nói được lời nào, vì có nói thì cũng không thể thay đổi được thái độ nghi kỵ của thím Tư. Hai Thành chỉ biết ôm vợ vào lòng, kể chuyện bữa nay ngoài ruộng anh thấy con chim gì, nhà bà Chín Xước heo đẻ mấy con, cái trại xuồng vì đâu mà bị cháy… Hiểu được chút tâm tư của chồng, Út Mót chỉ nhìn chồng cười như thể những lời nói của bà má chồng chưa từng được thốt ra.

Thằng con trai của Út Mót làm khó mẹ nó từ lúc mang thai đến lúc lọt lòng. Siêu âm không biết bao nhiêu lần mà thằng nhỏ cũng không chịu “quay đầu”. Hai Thành đưa vợ lên thành phố mổ đẻ. Bữa hai vợ chồng Út Mót lên thành phố, hàng xóm đưa câu chuyện con dâu của thím Tư sinh khó lan ra khắp xóm. Họ đồn từ ngày rước con dâu tuổi Dần về, nhà thím Tư liên tục xảy ra chuyện. Ông thầy bói mù ở xóm trên cũng lắc đầu khi lần đốt tay nhẩm tính vận mệnh. Thím Tư nhìn Hai Thành nghiến răng kèn kẹt.

- Cháu nội tao có bề gì. Tụi bây biết tay tao.

Chú Tư đi qua đi lại, miệng nhẩm nhẩm mấy lời khấn vái. Vợ chồng chú thím Tư quả quyết sau vụ này phải cúng lễ cẩn thận cho mọi chuyện êm xuôi. Thằng Tốt ra đời trong tiếng thở phào nhẹ nhõm của hai bên. Từ ngày có thằng Tốt, thím Tư cũng bớt cằn nhằn với Út Mót. Thím cưng thằng nhỏ như trứng mỏng, chú Tư cũng bỏ luôn mấy cuộc cờ ở nhà trông thằng cháu đích tôn.

Niềm vui kéo dài chưa được bao lâu thì một hôm đi đám ở miệt Đồng Năng về, chú Tư bị tai biến liệt nửa người. Hàng xóm được một phen nhắc nhau tuyệt đối không được cưới con dâu tuổi Dần. Thím Tư ngồi bên giường bệnh chú Tư khóc ngất, Hai Thành không dám cãi bật lại lời nào, chỉ đứng nhìn vợ cúi mặt. Tiếng thằng cháu đích tôn khóc không còn là niềm háo hức của cả nhà. Hai Thành phải ẵm thằng nhỏ sang nhà bên cạnh để tránh nó quấy khóc làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của chú Tư. Suốt mấy tháng chú Tư nằm trên giường bệnh, Út Mót đều tận tình chăm sóc, không than vãn nửa lời. Thím Tư đi chùa, tụng kinh suốt ngày, trừ lúc thím Tư nhắm mắt tụng kinh ra, Út Mót mới dám ngẩng đầu lên. Mọi lỗi lầm, tai ương dường như trút hết lên đầu của Út Mót. Sau mấy tháng thều thào trên giường bệnh, chú Tư cũng lần giường ra phơi nắng sớm. Ngắm nhìn thằng cháu nội chập chững bước đi.

Thím Tư ngồi trong nhà nhìn đám cưới bên sông rộn ràng, hàng xóm đi đám về ai nấy cũng đều khen “hai đứa nhỏ tuổi tốt, thế nào cũng ăn nên làm ra”. Thím Tư thở dài nhìn ngổn ngang trong nhà, Út Mót biết chuyện nên cũng không dám xuất hiện nhiều trước mặt má chồng. Căn nhà nhỏ bỗng chốc rộng thênh thang.

Đến tháng thứ năm, người trong xóm bắt đầu nghe tiếng cãi nhau, tiếng đập đồ liệng ra khỏi sân. Thím Tư nhìn qua cảnh vợ chồng hạp tuổi mới cưới ngày nào rượt đánh nhau khắp nhà. Bác Chín Bé phì phà khói thuốc “nó có coi ba má chồng nó ra cái gì đâu”. Người trong xóm quen dần với những tiếng ồn ào, cãi nhau. Ngó tới ngó lui, Út Mót về làm dâu cũng gần ba năm. Trong suốt thời gian đó, chưa một lần Út dám cãi lại lời bá má hay làm phật lòng bất cứ ai. Dường như con “hổ” trong người của Út Mót không dữ như người ta nói.

Thím Tư nhìn trận cãi nhau cuối cùng bên sông vào một ngày mưa gió, cô con dâu gom đồ bỏ đi. Ông thầy mù xóm gặp ai cũng phân trần.

- Tại tuổi tốt mà giờ sinh khắc nhau mới như vậy!

Đám con gái tuổi Dần trong xóm nói, nhìn cảnh Út Mót không dám lấy chồng, chắc phải “ở giá cho má nhờ”. Sau đợt tai biến chú Tư không còn làm việc nặng được, đất vườn đều giao lại cho Hai Thành. Hàng ngày chú chỉ chăm lo cây cảnh trong nhà, chăm cho mấy con chim.

Hôm thím Tư bị đau ruột thừa chuyển lên tuyến trên. Cả xóm xì xào về số kiếp tai ương của đứa con dâu tuổi Dần đem lại. Lúc chuyển thím Tư lên xe, thím còn kéo vạt áo lên lau nước mắt, nhìn đăm đăm đứa con dâu. Hàng xóm dặn đi dặn lại Út Mót.

- Má bây mổ xong là về liền nha. Trên đó dịch bệnh ghê lắm. Mà có về thì ở nhà luôn chứ đừng có ra khỏi nhà lây bệnh cho người ta.

Út Mót chỉ nhìn hàng xóm cười cười rồi theo má chồng lên xe. Mổ xong, thím Tư một mực kêu Út Mót về nhà, còn dặn đi dặn lại “có gì ra chòi ở một mình, đừng có lại gần thằng con”. Út Mót chỉnh lại khẩu trang cho thím Tư.

- Con ở đây luôn. Đợi chừng nào bác sĩ cho về thì má con mình về chung luôn. Chứ bỏ má ở đây một mình sao được.

Thím Tư phát tay.

- Thôi! Dịch bệnh kiểu này, về nhà cho nó an toàn. Ở đây càng ít người càng tốt.

Dẫu cho thím Tư có nói cỡ nào thì Út Mót cũng quyết lòng ở lại với má chồng. Suốt những ngày ở bệnh viện, ai nhìn thím Tư cũng khen “số có phước, được con dâu lo lắng hết lòng”. Nhìn quanh quẩn giường bệnh, có người phải nằm thui thủi một mình không có người chăm lo vì dịch bệnh, có người bị con cái “bỏ quên” sau mấy lần chia của không đều. Thấy cảnh đó mà thương, Út Mót chăm lo cho cả những người bên cạnh giường bệnh của má chồng.

Thím Tư xuất viện vào những ngày cuối năm, khi không khí Tết nhất đã cận kề. Hàng xóm không dám qua thăm chỉ đứng nhìn ngoài cửa hỏi vọng vào. Vừa về đến nhà, Út Mót đã tất bật dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị đón Tết. Dịch bệnh khó khăn nên không khí cũng bớt rộn ràng hơn mọi năm. Nhưng nhà cửa được Út dọn dẹp kỹ càng, sạch sẽ. Chú Tư với thằng cháu nội quấn nhau không rời, những tiếng nói cười rộn rã, nét mặt của thím Tư cũng giãn ra. Nghĩ lại, có đi hết cái xứ này cũng khó kiếm được cô con dâu như nhà thím. Hàng xóm phe phẩy nón lá trên tay đứng trước sân nói vọng vào.

- Đó thấy chưa? Tui nói rồi mà, có con dâu tuổi Dần như chứa sao Kế Đô, La Hầu trong nhà.

Thím Tư buông đòn bánh tét đang gói trên tay xuống.

- Giờ có cho tôi trăm cây vàng kêu đổi con dâu, tôi còn không đổi nữa ấy chứ.

Cơn gió xuân nhẹ nhàng thổi qua làm xôn xao bờ lá. Những tia nắng xuân lung linh trước sân nhà. Mái nhà quê chập chờn khói bếp, cô con dâu tuổi Dần khẽ mỉm cười thật tươi. Lúc đó Hai Thành đã rưng rưng nước mắt…

Truyện ngắn của Nguyên Khối

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Nguyên tắc “6 rõ” trong tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Trong đợt tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật năm 2026 - một nhiệm vụ trọng yếu được triển khai theo Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới - nguyên tắc “6 rõ” đã được xác lập như một chuẩn mực kỹ thuật và quản trị cốt lõi. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và rõ kết quả.
Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Nâng cao nhận thức, chung tay đẩy lùi tội phạm mua bán người

Ngày 30/7 hằng năm được Đại hội đồng Liên hợp quốc chọn là Ngày Thế giới phòng, chống mua bán người (World Day Against Trafficking in Persons) nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng về những hậu quả nghiêm trọng của tội phạm mua bán người, đồng thời kêu gọi các quốc gia tăng cường hợp tác, triển khai các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh và bảo vệ nạn nhân.
"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

"Tầm nhìn mới, tư duy mới, hành động mới" - Động lực xây dựng chính quyền Thủ đô Hà Nội kiến tạo, phục vụ

Ngày 23/3/2026, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chỉ thị số 09-CT/TU về nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi công vụ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm của cán bộ, nhất là người đứng đầu trong giai đoạn phát triển mới của Thủ đô Hà Nội (Chỉ thị số 09-CT/TU). Theo đó, Thành phố xác định rõ việc định vị hình ảnh và giá trị cốt lõi của Thủ đô với 09 đặc trưng "Thủ đô văn hiến - kết nối toàn cầu - thanh lịch, hào hoa - phát triển hài hòa - thanh bình, thịnh vượng - chính quyền phục vụ - doanh nghiệp cống hiến - xã hội niềm tin - người dân hạnh phúc", lấy "Văn hiến - bản sắc - sáng tạo" làm trục giá trị xuyên suốt.

Theo dõi chúng tôi trên: