Thứ tư 21/01/2026 01:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Con dâu tuổi Dần

Để cưới được Út Mót, Hai Thành đã phải thề thốt, thuyết phục đủ điều chú thím Tư mới đồng ý. Nhưng từ ngày nhận được cái gật đầu của chú thím, Hai Thành phải làm đủ thứ việc trên đời, Út Mót làm gì cũng không vừa mắt thím.


Bữa chú Tư Tánh xuất viện trở về nhà, hàng xóm, láng giềng lắc đầu thở dài ngao ngán nói, cản thế nào cũng không được thì cho chết cũng vừa. Chú Tư Tánh đột nhiên bị tai biến nhưng nhờ phát hiện kịp thời nên giữ lại được cái mạng. Má chồng Út Mót đấm lên ngực thình thịch, khóc không thành tiếng. Út Mót ngồi cạnh giường bệnh canh cho ba chồng, mặc kệ những tiếng xì xầm bên tai. Ngó thấy vợ lầm lũi cúi mặt xuống, Hai Thành thương đứt ruột đứt gan mà chẳng dám tiếp một lời nói đỡ.

Để cưới được Út Mót, Hai Thành đã phải thề thốt, thuyết phục đủ điều chú thím Tư mới đồng ý. Nhưng từ ngày nhận được cái gật đầu của chú thím, Hai Thành phải làm đủ thứ việc trên đời, Út Mót làm gì cũng không vừa mắt thím.

Út Mót về nhà độ chừng ba tháng đã có bầu. Hai Thành đứng ngồi không yên khi thấy vợ bị nghén không ngóc đầu lên nổi. Hàng xóm chỉ không biết bao nhiêu cách mà Út Mót vẫn bị nghén lên bờ xuống ruộng, ngửi thấy mùi tanh là ói tới mật xanh mật vàng. Thím Tư nhìn cảnh đó mà lắc đầu.

- Nhõng nhẽo với chồng thì có. Chứ nghén kiểu gì? Tui có năm, sáu mặt con nè. Có đứa nào nghén đến vậy đâu.

Đến tháng thứ năm đứa trẻ trong bụng mới thôi hành hạ Út Mót. Từ đấy, mọi việc trong nhà Út Mót đều cố gắng chu toàn, mặc dù cái bụng to ì ạch. Hàng xóm vẫn xì xào lời ra tiếng vào về cô con dâu tuổi Dần trong nhà thím Tư. Cứ hễ gia đình có chuyện xui rủi hay thất bại gì, người ta cũng đinh ninh cái tuổi Dần gây họa. Nhiều lần thím Tư còn nói thẳng mặt Út Mót: “Từ khi nhà này có tuổi Dần, làm ăn không ngóc đầu lên nổi”. Những lúc ấy, Út Mót chỉ biết cúi gằm mặt xuống đất se hai vạt áo vào nhau. Hai Thành thương vợ nhưng cũng không nói được lời nào, vì có nói thì cũng không thể thay đổi được thái độ nghi kỵ của thím Tư. Hai Thành chỉ biết ôm vợ vào lòng, kể chuyện bữa nay ngoài ruộng anh thấy con chim gì, nhà bà Chín Xước heo đẻ mấy con, cái trại xuồng vì đâu mà bị cháy… Hiểu được chút tâm tư của chồng, Út Mót chỉ nhìn chồng cười như thể những lời nói của bà má chồng chưa từng được thốt ra.

Thằng con trai của Út Mót làm khó mẹ nó từ lúc mang thai đến lúc lọt lòng. Siêu âm không biết bao nhiêu lần mà thằng nhỏ cũng không chịu “quay đầu”. Hai Thành đưa vợ lên thành phố mổ đẻ. Bữa hai vợ chồng Út Mót lên thành phố, hàng xóm đưa câu chuyện con dâu của thím Tư sinh khó lan ra khắp xóm. Họ đồn từ ngày rước con dâu tuổi Dần về, nhà thím Tư liên tục xảy ra chuyện. Ông thầy bói mù ở xóm trên cũng lắc đầu khi lần đốt tay nhẩm tính vận mệnh. Thím Tư nhìn Hai Thành nghiến răng kèn kẹt.

- Cháu nội tao có bề gì. Tụi bây biết tay tao.

Chú Tư đi qua đi lại, miệng nhẩm nhẩm mấy lời khấn vái. Vợ chồng chú thím Tư quả quyết sau vụ này phải cúng lễ cẩn thận cho mọi chuyện êm xuôi. Thằng Tốt ra đời trong tiếng thở phào nhẹ nhõm của hai bên. Từ ngày có thằng Tốt, thím Tư cũng bớt cằn nhằn với Út Mót. Thím cưng thằng nhỏ như trứng mỏng, chú Tư cũng bỏ luôn mấy cuộc cờ ở nhà trông thằng cháu đích tôn.

Niềm vui kéo dài chưa được bao lâu thì một hôm đi đám ở miệt Đồng Năng về, chú Tư bị tai biến liệt nửa người. Hàng xóm được một phen nhắc nhau tuyệt đối không được cưới con dâu tuổi Dần. Thím Tư ngồi bên giường bệnh chú Tư khóc ngất, Hai Thành không dám cãi bật lại lời nào, chỉ đứng nhìn vợ cúi mặt. Tiếng thằng cháu đích tôn khóc không còn là niềm háo hức của cả nhà. Hai Thành phải ẵm thằng nhỏ sang nhà bên cạnh để tránh nó quấy khóc làm ảnh hưởng đến giấc ngủ của chú Tư. Suốt mấy tháng chú Tư nằm trên giường bệnh, Út Mót đều tận tình chăm sóc, không than vãn nửa lời. Thím Tư đi chùa, tụng kinh suốt ngày, trừ lúc thím Tư nhắm mắt tụng kinh ra, Út Mót mới dám ngẩng đầu lên. Mọi lỗi lầm, tai ương dường như trút hết lên đầu của Út Mót. Sau mấy tháng thều thào trên giường bệnh, chú Tư cũng lần giường ra phơi nắng sớm. Ngắm nhìn thằng cháu nội chập chững bước đi.

Thím Tư ngồi trong nhà nhìn đám cưới bên sông rộn ràng, hàng xóm đi đám về ai nấy cũng đều khen “hai đứa nhỏ tuổi tốt, thế nào cũng ăn nên làm ra”. Thím Tư thở dài nhìn ngổn ngang trong nhà, Út Mót biết chuyện nên cũng không dám xuất hiện nhiều trước mặt má chồng. Căn nhà nhỏ bỗng chốc rộng thênh thang.

Đến tháng thứ năm, người trong xóm bắt đầu nghe tiếng cãi nhau, tiếng đập đồ liệng ra khỏi sân. Thím Tư nhìn qua cảnh vợ chồng hạp tuổi mới cưới ngày nào rượt đánh nhau khắp nhà. Bác Chín Bé phì phà khói thuốc “nó có coi ba má chồng nó ra cái gì đâu”. Người trong xóm quen dần với những tiếng ồn ào, cãi nhau. Ngó tới ngó lui, Út Mót về làm dâu cũng gần ba năm. Trong suốt thời gian đó, chưa một lần Út dám cãi lại lời bá má hay làm phật lòng bất cứ ai. Dường như con “hổ” trong người của Út Mót không dữ như người ta nói.

Thím Tư nhìn trận cãi nhau cuối cùng bên sông vào một ngày mưa gió, cô con dâu gom đồ bỏ đi. Ông thầy mù xóm gặp ai cũng phân trần.

- Tại tuổi tốt mà giờ sinh khắc nhau mới như vậy!

Đám con gái tuổi Dần trong xóm nói, nhìn cảnh Út Mót không dám lấy chồng, chắc phải “ở giá cho má nhờ”. Sau đợt tai biến chú Tư không còn làm việc nặng được, đất vườn đều giao lại cho Hai Thành. Hàng ngày chú chỉ chăm lo cây cảnh trong nhà, chăm cho mấy con chim.

Hôm thím Tư bị đau ruột thừa chuyển lên tuyến trên. Cả xóm xì xào về số kiếp tai ương của đứa con dâu tuổi Dần đem lại. Lúc chuyển thím Tư lên xe, thím còn kéo vạt áo lên lau nước mắt, nhìn đăm đăm đứa con dâu. Hàng xóm dặn đi dặn lại Út Mót.

- Má bây mổ xong là về liền nha. Trên đó dịch bệnh ghê lắm. Mà có về thì ở nhà luôn chứ đừng có ra khỏi nhà lây bệnh cho người ta.

Út Mót chỉ nhìn hàng xóm cười cười rồi theo má chồng lên xe. Mổ xong, thím Tư một mực kêu Út Mót về nhà, còn dặn đi dặn lại “có gì ra chòi ở một mình, đừng có lại gần thằng con”. Út Mót chỉnh lại khẩu trang cho thím Tư.

- Con ở đây luôn. Đợi chừng nào bác sĩ cho về thì má con mình về chung luôn. Chứ bỏ má ở đây một mình sao được.

Thím Tư phát tay.

- Thôi! Dịch bệnh kiểu này, về nhà cho nó an toàn. Ở đây càng ít người càng tốt.

Dẫu cho thím Tư có nói cỡ nào thì Út Mót cũng quyết lòng ở lại với má chồng. Suốt những ngày ở bệnh viện, ai nhìn thím Tư cũng khen “số có phước, được con dâu lo lắng hết lòng”. Nhìn quanh quẩn giường bệnh, có người phải nằm thui thủi một mình không có người chăm lo vì dịch bệnh, có người bị con cái “bỏ quên” sau mấy lần chia của không đều. Thấy cảnh đó mà thương, Út Mót chăm lo cho cả những người bên cạnh giường bệnh của má chồng.

Thím Tư xuất viện vào những ngày cuối năm, khi không khí Tết nhất đã cận kề. Hàng xóm không dám qua thăm chỉ đứng nhìn ngoài cửa hỏi vọng vào. Vừa về đến nhà, Út Mót đã tất bật dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị đón Tết. Dịch bệnh khó khăn nên không khí cũng bớt rộn ràng hơn mọi năm. Nhưng nhà cửa được Út dọn dẹp kỹ càng, sạch sẽ. Chú Tư với thằng cháu nội quấn nhau không rời, những tiếng nói cười rộn rã, nét mặt của thím Tư cũng giãn ra. Nghĩ lại, có đi hết cái xứ này cũng khó kiếm được cô con dâu như nhà thím. Hàng xóm phe phẩy nón lá trên tay đứng trước sân nói vọng vào.

- Đó thấy chưa? Tui nói rồi mà, có con dâu tuổi Dần như chứa sao Kế Đô, La Hầu trong nhà.

Thím Tư buông đòn bánh tét đang gói trên tay xuống.

- Giờ có cho tôi trăm cây vàng kêu đổi con dâu, tôi còn không đổi nữa ấy chứ.

Cơn gió xuân nhẹ nhàng thổi qua làm xôn xao bờ lá. Những tia nắng xuân lung linh trước sân nhà. Mái nhà quê chập chờn khói bếp, cô con dâu tuổi Dần khẽ mỉm cười thật tươi. Lúc đó Hai Thành đã rưng rưng nước mắt…

Truyện ngắn của Nguyên Khối

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: