Thứ ba 25/08/2026 06:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Con Ngựa theo văn hóa tâm linh phương Đông

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Hồi bắt đầu thời vua Thái Tông bản triều, ngày 15 tháng giêng, nhà vua ngự ra xem trăm quan hội thề, tấu cáo trời, ngựa, quỷ thần, núi cao, sông lớn, giết ngựa trắng làm lễ ăn thề”. Máu ngựa, các thức ăn bằng thịt ngựa đã tăng sức mạnh, hâm thêm bầu máu nóng cho người ăn thề.

1. Từ con ngựa hoang được thuần hóa

Điều này cũng là vấn đề văn hóa, tâm linh. “Thuần hóa” là quá trình tác động có ý thức lâu dài của con người; được con người cảm hóa từ ngựa hoang thành ngựa nhà và được con người sử dụng. Ngựa, ngựa vằn, lừa đều thuộc một họ động vật có vú gọi là họ ngựa (Equidae). Chúng đi rất xa để kiếm ăn và kiếm nước hoặc để tránh ruồi, muỗi những khi thời tiết nóng bức. Với bản chất quần thể, ngựa biết tỏ tình quyến luyến với các thành viên khác trong nhóm hoặc với người chủ nuôi. Một khi đã thiết lập được sợi dây tình cảm thì ngựa (cũng như chó) rất cố gắng vâng lệnh dù là lệnh nghiêm khắc. Với cái “khuyển mã chí tình” ấy, ngựa cũng như chó, dễ thuần hóa hơn nhiều loại động vật khác nên chúng bị con người tận dụng khá tàn nhẫn, nhưng cũng được người yêu quý hơn bất kỳ loại động vật nào khác. Ngay từ trong hoang dã, chúng đã có ý thức cao về cho con bú, bảo vệ con, bảo vệ lãnh địa của mình. Khi được thuần hóa, đặc tính ấy thành “chó giữ nhà”, “ngựa nằm chuồng giữ đất”, đồng thời ngựa đã trở thành phương tiện giao thông lý tưởng thời xưa, đưa con người đi khắp nơi.

Ở nước ta, theo Vân đài loại ngữ và Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn: Các tỉnh Tuyên Quang, Cao Bằng có nhiều ngựa hoang được thuần hóa. Phủ Phú Yên, về xứ Quảng Nam cũng nhiều ngựa. Chúng sống hàng trăm, hàng nghìn con kết thành đàn như trâu, dê từ nông thôn đến miền núi. Các xứ Cò Đen, Kẻ Dũ thuộc phủ Quy Nhơn sinh ra nhiều ngựa. Ngựa đẻ ra trong hang núi tới hàng nghìn con, có con cao tới 2,5 thước hoặc 3 thước trở lên. Người địa phương dạy chúng tập chở hàng hóa sang phủ Phú Yên, luyện cách nằm, đi đứng theo hiệu lệnh. Vùng này, đàn bà đi buôn, đi chợ hay đi xa cũng cưỡi ngựa không khác gì nam giới. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lê Lợi “Sai người nhà Minh đã đầu hàng là Chu Sài đem 340 con ngựa đến Hóa Châu rèn luyện và chăn nuôi”… Đó là những vùng nổi tiếng nhất ở nước ta về thuần dưỡng ngựa, làm cơ sở cho những đội kỵ binh ở Việt Nam chiến thắng thù trong, giặc ngoài. Đó cũng là cơ sở để tuyển lựa được nhiều tuấn mã khác thường mà ở các nước khác khó kiếm được. Sách Đại Việt sử ký toàn thư còn cho biết rõ rằng: Từ đời Tiền Lê đến thời Lý đã xuất hiện những con ngựa lạ và nhiều người đã dâng ngựa quý cho vua.

2. Đến các hiện vật do người tạo ra trong văn hóa nghệ thuật

- Ở những vách đá dựng đứng, trên nóc các hang động ở ngoại Bai-can và Mông Cổ có những hình vẽ thời cổ tô màu đỏ (thường thấy ở thời văn hóa đồng thau), thể hiện hình những con ngựa đang ở tư thế đặc biệt, chuẩn bị nhảy.

- Khoảng 1400 năm trước Công nguyên (TCN), trên một lăng mộ Ai Cập cổ đại có bức họa vẽ một cặp ngựa kéo xe, bên dưới là hai con la Hini trắng cũng kéo một cỗ xe khác.

- Trên các tấm đá hoa cương trong điện Páctênông ở Aten (Hy Lạp) vào thế kỷ thứ V TCN đã chạm khắc hình ngựa kéo hoàng hôn. Đây là một trong những tác phẩm điêu khắc vĩ đại nhất mọi thời. Nó thể hiện truyền thuyết Hy Lạp: Có một tốp ngựa ngày nào cũng kéo cỗ xe mặt trời xuống biển để tạo ra hoàng hôn. Sự mệt mỏi quá độ biểu hiện trên mặt ngựa.

- Bốn con ngựa thành Venixơ là tác phẩm của nhà điêu khắc Hy Lạp Lixipút thế kỷ IV TCN. Những chú ngựa oai vệ bằng đồng đỏ này được lấy từ con Xtantin ôpôn (nay là Istanbun) về thánh cung Xanmáccô ở Vơnixơ vào năm 1204, trước đó chúng đã ở La Mã. Năm 1797, Napoleon đem tác phẩm này về Pari, năm 1815 lại trả về Vơnixơ.

- Pêgát, con ngựa có cánh trong trong thần thoại Hy Lạp đã mọc lên từ máu của Mẹ Dula, quái vật tóc rắn, khi Péc-xê, con trai thần Dớt chặt đầu con quái vật này. Con ngựa ấy bay lên định hội nhập với các thần linh nhưng bị nữ thần khôn ngoan Aten bắt được và bị thuần hóa bằng cái gương vàng. Hình khắc tinh xảo này trên hòm đựng đồ thánh bằng đồng đỏ mô tả con ngựa Pêgát, do người Etơruxcơ làm ra vào khoảng 300 năm TCN.

- Ở Việt Nam, ngựa trắng, ngựa hồng là hai loại ngựa được thờ ở nhiều đền, đình… như đền Bạch Mã có từ thế kỷ thứ IX, chính thức hình thành khoảng thời Lý Công Uẩn dời đô. Đền này thờ một ngựa trắng được tạc thành tượng đặt ở thượng điện, trấn phía đông Thăng Long (ở số 2 phố Hàng Buồm, Hà Nội). Đình Hạ Hiệp ở xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ (Hà Nội), thờ Hoàng Đạo tướng của bà Trưng, có những tác phẩm chạm gỗ tả cảnh đua ngựa. Đình Đại Phùng thuộc xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng (Hà Tây, nay là Hà Nội) có tượng tròn của ngựa. Đình Chu Chàng (Chu Quyến ở Hà Tây) trang trí nghệ thuật trên gỗ tả sinh hoạt của con người như cảnh uống nước, có người dắt ngựa đứng hầu. Đền Sóc Sơn, ở làng Vệ Linh (nay thuộc huyện Sóc Sơn, Hà Nội) thờ Thánh Gióng, chỉ còn Đền Hạ. Năm 1898, đền này bị cháy nhưng đuôi ngựa vẫn còn sót lại. Lăng Gia Long ở Huế có điện Minh Thành, bên trong có thờ các kỷ vật của vua như cân, đai, yên ngựa. Chùa Từ Hiếu thuộc xã Thủy Xuân gần với trung tâm thành phố Huế: Trong chùa có một án dành riêng thờ Thái giám Lê Văn Duyệt, bên án có con ngựa bằng gỗ và thanh đại đao của ông.

3. Một góc độ đặc biệt của văn hóa nước ta: Con ngựa trong văn hóa Thăng Long

3.1. Về văn hóa tinh thần

Hình ảnh con ngựa ở Thăng Long từng thể hiện trong tên gọi một địa danh lịch sử, phản ánh trình độ chuyên môn về buôn bán, sản xuất. Bản thân nó là tinh thần, nhưng lại phản ánh sự thật về những vấn đề vật chất, kinh tế ở thủ đô. Như phố Mã Vĩ, cái tên đã quen thuộc từ trong nếp nghĩ của người Hà Nội, phản ánh phố này xưa kia chuyên làm mũ cánh chuồn bằng đuôi ngựa, cung cấp một phần trang phục cho phường tuồng, xướng ca và quan lại, đúng với sự duy danh định nghĩa: “Mã” là ngựa, “Vĩ” là đuôi. Hà Nội lại có nhưng tên nôm quen thuộc: “ Đường Quần Ngựa”, “Hồ Cổ Ngựa”, “Cồn Cổ Ngựa”… “Đường Quần Ngựa” thành tên từ khi thực dân Pháp làm sân thi ngựa ở giữa đồn trại Vĩnh Phúc, gắn với con đường mà dân tổng Nội gọi là “Đường Mới”, nay gọi là “Đường Đội Cấn”, chứng tỏ đường ấy dưới thời Pháp thuộc từng diễn ra môn thể thao đua ngựa. Còn “Hồ Cổ Ngựa” (ở phố Hàng Than), “Cồn Cổ Ngựa” (ở khoảng bên kia khách sạn Daewoo, gần đường xe điện Kim Mã đi Cầu Giấy), nay bị nhà cửa hiện đại mọc lên che lấp hết, đều phản ánh một hình thể: Hồ và cồn rất giống hình cái cổ ngựa.

Thăng Long lại có những vùng đất, tuy không mang tên ngựa nhưng thể hiện hình ảnh ngựa, có giá trị lịch sử, có vai trò quân sự. Như từ đời Lý, vùng đất có tên “Thái Hòa” ở thủ đô rất phồn vinh, quân lính đóng ở đây nuôi nhiều ngựa, voi nên gọi là “Núi Voi”. Để cung cấp đủ thức ăn cho voi, ngựa nên biến trại thành ra phố “Hàng Cỏ”. Đây là nơi danh tiếng Lý Thường Kiệt thời niên thiếu tập bắn cung, cưỡi ngựa. Nước Đại Việt thời đó đánh Tống, bình Chiêm thắng lợi với “An Nam hành quân pháp”, nổi tiếng về bộ binh, đặc biệt là kỵ binh, khiến người Trung Hoa phải khâm phục học tập theo (theo tư liệu của Lê Quý Đôn), hẳn một phần trong đó cũng có sự đóng góp của vùng đất ấy. Hoặc ở vùng đất xã Bồ Đề, nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội, nơi có dinh Bồ Đề của Lê Lợi, khi ông vây thành Đông Quan năm 1427, xây lầu nhiều tầng để quan sát địch tình trong thành.

3.2. Về phương tiện đi lại trên đường phố Hà Nội

Cưỡi ngựa là một trong những phương tiện đi lại của người Hà Nội thời xưa, phản ánh một trình độ nhất định. Nhưng hẳn càng về sau (trừ bên quân đội ra), số người đi ngựa ngày càng ít. Dân phổ biến đi bộ, quan lại phổ biến dùng võng lọng hơn là cưỡi ngựa. Dùng xe ngựa lại càng không phổ biến, dù không phải là không có như Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Thăng Long thành hoài cổ” có câu “Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo”. Song sang thời Pháp thuộc lại có những đổi thay. Ở quyển Phố phường Hà Nội xưa, cụ Hoàng Đạo Thúy cho biết: “Thời này, Tây đã dùng xe độc mã và xe song mã, cũng ảnh hưởng đến ta, dần dần ở Hà Nội, dân ta có những gia đình dùng xe ngựa trong đám cưới, đám ma”.

3.3. Về lệ tục

Ở Thăng Long, từng có lệ vua nhận ngựa báu từ các phiên trấn dâng về. Như Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Đời Lý Thái Tông (năm 1043) Phụng Càn Vương từ châu Văn dâng cho vua 4 con ngựa tốt. Đời Lý Thần Tông (năm 1129) Nhập nội Long đồ là Mâu Du Đô dâng ngựa trắng bờm đen… Trên cơ sở những ngựa ấy, các vua Lý ngay ở Thăng Long đã chọn được những con ngựa thực sự có ích. Như ở thuở khai sáng vương triều, vào năm Nhâm Tý (1012), hai năm sau khi viết “Chiếu dời đô”, mở đầu cho nền văn hóa Thăng Long, vua Thái tổ Lý Công Uẩn đã chọn được trong tàu ngựa ngự một con ngựa trắng hùng tráng, thông minh, phàm khi xa giá vua sắp đi thì nó đều linh cảm biết trước, hí lên báo cho vua, nên Thái tổ đặt tên là “Bạch Long thần mã”. Giết ngựa trắng ăn thề cũng là một lệ tục thiêng liêng của các vua nước ta ở Thăng Long xưa. Như Quốc sử nhà Lê cho biết: “Hồi đầu triều vua Thái Tông bản triều, ngày 15 tháng giêng, nhà vua ngự ra trường đua, xem trăm quan hội thề, tấu cáo trời đất quỷ thần núi cao sông lớn, giết ngựa trắng làm lễ ăn thề”.

3.4. Về pháp luật

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi chuyện đời Lý Anh Tông. Bọn Nội thị Đỗ Ất gồm 5 người phạm tội phải thượng xa mộc mã (cưỡi ngựa gỗ)…

3.5. Về lễ hội

Làng “Đăm” còn gọi là làng “Tây Đăm” thuộc xã Tây Tựu, huyện Từ Liêm (Hà Nội) mở hội bơi thuyền từ ngày mùng 9 đến ngày 13 tháng 3 (âm lịch) hàng năm trên khúc sông Pheo (một đoạn cũ của sông Nhuệ), diễn lại thủy binh thời Hùng Vương. Bên cạnh những thuyền dự thi tạc hình đầu hạc, đầu rồng, lại có thuyền mang đầu long mã. Hình ảnh ngựa được huyền thoại hóa gắn với hình ảnh rồng, thể hiện ước mơ về sức mạnh thủy binh của người Việt trong buổi đầu dựng nước.

Còn đánh trận trên bộ gắn với con ngựa sắt của Thánh Gióng thể hiện trong hệ thống các lễ hội xoay quanh Gióng và bà mẹ ông. Như “Hội trận làng Gióng” là một hội lễ có quy mô lớn nhất trong vùng Hà Nội ngày nay. Hội mở từ mùng 5 đến mùng 9 hàng năm. Đóng vai giặc Ân có 28 cô gái lập trận trên đê Đông Viên, đánh nhau với quân Văn Lang bị thất bại phải đầu hàng. Hiệu cờ dẫn tướng Đốc, tướng Ngựa của chúng về đền. Còn “Hội phù Thánh Gióng” diễn ra ở đình Sen Hồ, làng Chí Nam, nay thuộc huyện Gia Lâm (Hà Nội). Hoặc hội đền Sóc, diễn ra ở núi Vệ Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội) tổ chức hàng năm vào ngày mùng 6 đến mùng 7 tháng giêng với sự tham gia của 52 làng thuộc 9 tổng huyện Kim Anh cũ. Trong hội ấy, có việc dân các làng vào đền Thượng làm lễ dâng hoa tre. Đó là những mảnh tre vót mỏng, đầu tuốt bông ra, nhuộm phẩm ngũ sắc. Có người cho đó là roi ngựa của Thánh Gióng. Có người cho đó là biểu tượng của Linga, sinh thực khi nam, tín ngưỡng phồn thực của người xưa…

3.6. Về văn hóa vật thể

Thăng Long hiện còn những di tích lịch sử, có thể nhìn thấy, sờ thấy, thể hiện rất rõ hình ảnh con ngựa: Ở số nhà 76, phố Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) có đền thờ “Long Đỗ Thần Quân Quảng Lợi Bạch Mã Đại Vương”, tức thờ thần ngựa trắng. Tương truyền: Thần từng cưỡi con xích cầu (rồng đỏ) trong đám mây ngũ sắc, xem viên quan Đô hộ của nhà Đường là Cao Biền chỉ huy đắp La Thành và báo mộng cho hắn. Cao Biền dùng búa đồng trấn yểm thì mưa gió nổi lên, búa bị đánh tan. Hắn sợ phải lập đền thờ thần ở phía Đông La Thành. Đền này xếp vào “Đông trấn chính từ” như câu ghi ở hoành phi đền. Vào năm 1010, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Ông sai người đắp thành nhiều lần đều bị đổ. Thái tổ bèn cho người cầu thần Long Đỗ, thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Ông sai lần theo vết chân ngựa mà vẽ đồ án xây thành thì thành mới vững. Những truyền thuyết ấy còn để lại đến nay trong Việt điện U linh và nhiều sách khác.

Trong nội thành ở những di tích không thuộc tứ trấn, thật hiếm có nơi nào như ở chùa Tàu (Phổ Giác), trong khu vực Thái Y viện đời Lê cũ (gần Văn Miếu) có đôi ngựa bằng đá chính hiệu có niên hiệu khoảng cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn. Còn ở ngoại thành Hà Nội, ở xã Cổ Bi, huyện Gia Lâm có gò đất ở Trâu Quỳ cũng có ngựa đá cổ. Ở đình Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội, ở nơi thờ Phùng Hưng, có thờ cả đôi ngựa hồng và trắng.

Song ở ngoại thành Hà Nội, không đâu tập trung đông đặc hình ảnh con ngựa bằng các di tích về Thánh Gióng. Các di tích này có dấu tích còn lại rõ rệt ở ba nơi:

Thứ nhất, ở xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội (có tên nôm là làng Gióng) là quê hương của người anh hùng dẹp giặc Ân vào đời vua Hùng Vương thứ 6. Nơi này gồm một miếu 2 đền. Chỉ có 2 đền thể hiện hình ảnh ngựa (gồm Đền Gióng, còn gọi là đền Thượng và đền Mẫu, còn gọi là đền Hạ - Thờ mẹ con Thánh Gióng).

Thứ hai, ở thôn Xuân Tảo, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội cũng có đền thờ Gióng với những dấu vết ngựa. Tương truyền: Sau khi đánh tan giặc Ân, Gióng phi ngựa sắt đến bến Bồ Đề, dừng lại cho ngựa uống nước sông Hồng, dấu chân ngựa còn in lại trên phiến đá lớn thôn Phú Viên. Gióng tiếp tục ruổi ngựa qua sông, đi ngược lên đến bờ Hồ Tây, buộc ngựa vào gốc cây, xuống tắm mát, giở cơm nắm ra ăn, rồi phi ngựa lên núi Sóc bay về trời, để quên chiếc roi sắt. Đền Xuân Tảo được lập thờ ông, nơi ông nghỉ lại trên gò con Phượng, cạnh gốc đa buộc ngựa mà nay trước mắt mọi người, dấu cũ hãy còn.

Thứ ba, núi Sóc Sơn còn gọi là núi Phù Mã, núi Vệ Linh, ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (Hà Nội). Tại đây, từng có hai đền thờ ông Gióng gồm đền Thượng và đền Hạ. Năm 1898, đền bị cháy, nhưng nay vẫn còn đuôi ngựa gỗ là di tích cũ. Tương truyền, khi Gióng đánh tan giặc Ân, về tới đây, cởi áo treo ở đồi Mã, rồi phi ngựa thẳng lên núi, cưỡi mây bay về trời. Truyền thuyết ly kỳ ấy lại gắn với một sự thật không thể phủ nhận: Trên núi này vẫn còn hình một mô đá hình như cái gốc cây, gọi là “cây cởi áo”. Hơn nữa, nhiều dấu tích ngay trước mắt mọi người: Dưới chân núi ở dốc Mã và làng Mã có rất nhiều ao chuôm, các già truyền lại rằng: Đó là dấu chân ngựa sắt của Thánh Gióng. Khi về tới đây, ông cho xoay ngựa khắp 4 vó phóng lên núi.

Rõ ràng, con ngựa rất gắn bó với đời sống người Thăng Long. Từ khi có nền văn hóa Thăng Long đến nay, ở tất cả mọi phương diện quan trọng, ở mọi bộ môn khoa học thuộc nền văn hóa đó, đều in đậm hình ảnh con ngựa một cách đẹp đẽ, hào hùng, khó phai mờ.

4. Con ngựa trong giao thông vận tải thời trước

Một trong những thành quả quan trọng nhất ở thời đại đồng thau là dùng ngựa làm phương tiện giao thông vận tải. Ngựa xuất hiện ở các nước nông nghiệp tiên tiến, dẫn tới một bước ngoặt trong chiến thuật, tăng cường hơn nữa sự giao thông giữa các nước. Nhưng sức ngựa vẫn có ý nghĩa đặc biệt hơn đối với các bộ lạc chăn nuôi, làm họ sống cơ động, chuyển sang kinh tế du mục hay nửa du mục trên đồng cỏ, trong rừng để có thể vận chuyển đi mau hơn, xa hơn.

Ở Việt Nam, ngay từ thời Hùng Vương đã nổi tiếng với truyền thuyết “Ngựa sắt”, “Ngựa chín hồng mao” dùng trong quân sự và hôn lễ, chứng tỏ giao thông vận tải bằng ngựa thời ấy không phải không có. Để đánh thắng những đạo kỵ binh Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới, Trần Quốc Tuấn đã đặt ở những vùng đất thuộc huyện Đông Triều (Quảng Ninh) những trại nuôi ngựa. Ở sách Vân đài loại ngữ, mục “Vựng điển”, Lê Quý Đôn, cho biết “Nước ta tỉnh Tuyên Quang và Cao Bằng có nhiều ngựa, phủ Phú Yên về xứ Quảng Nam càng nhiều ngựa…, khách buôn đàn bà cũng cưỡi ngựa, dùng ngựa thồ hàng rồi bán cả ngựa”. Trong Phủ biên tạp lục, phần “Vật sản phong tục”, Lê Quý Đôn cho biết thêm “Các xứ Cò Đen, Kẻ Dã phủ Quy Nhơn sản xuất ngựa, ngựa sinh trong hang núi thành đàn hàng trăm, hàng nghìn con, có sức vóc cao tới 2,5 thước hoặc 3 thước trở lên. Người địa phương dạy cho ngựa thồ chở hàng hóa sang phủ Phú Yên. Cho đến đàn bà đi chợ cũng cưỡi ngựa. Thời Lê sơ, Lê Lợi đã cấp cho bọn Vương Thông, Mã Anh – các tướng Minh mấy ngàn ngựa về nước (Theo Bình Ngô đại cáo). Đến thời chống Pháp, hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh “Ung dung yên ngựa trên đường suối reo” chứng tỏ giao thông vận tải bằng ngựa ở nước ta từ xưa tới thời kháng chiến chống Pháp vẫn nối tiếp.

Hiện nay, cơ giới máy móc đã thay con ngựa nhưng thuật ngữ “ Mã lực” (sức ngựa) vẫn phổ biến trong nhiều ngành nghề (kể cả giao thông vận tải) càng gợi ta nhớ tới thời oanh liệt của loài ngựa.

5. Con ngựa gắn với ẩm thực và y học

Thịt ngựa có giá trị y học nên được nhiều người sử dụng, đặc biệt là dân các bộ lạc du mục chăn nuôi. Ở nước ta vào thế kỷ XV, trong gần 10 năm chống giặc Minh gian khổ, Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn nhiều lần bị giặc vây ở rừng núi Chí Linh, có những lần lương thực khó khăn phải thịt cả ngựa chiến ăn với măng rừng… Thức ăn bằng thịt ngựa với giá trị y học đã góp phần làm cho thủ lĩnh và nghĩa quân Lam Sơn tồn tại qua những ngày gian khó để thu phục được đất nước.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Hồi bắt đầu thời vua Thái Tông bản triều, ngày 15 tháng giêng, nhà vua ngự ra xem trăm quan hội thề, tấu cáo trời, ngựa, quỷ thần, núi cao, sông lớn, giết ngựa trắng làm lễ ăn thề”. Máu ngựa, các thức ăn bằng thịt ngựa đã tăng sức mạnh, hâm thêm bầu máu nóng cho người ăn thề.

Sữa ngựa cũng là một trong những thực phẩm quan trọng với các dân tộc phía Bắc phương Đông như Mông Cổ, Mãn Châu. Thức ăn chủ yếu của người Mông Cổ là thịt và sữa, trong đó có thịt ngựa, sữa ngựa. Trong các lễ cưới của người Mông Cổ, không thể thiếu món sữa ngựa, dù là trong các gia đình quyền quý hay dân thường. Trong cung đình Mông Cổ đặc biệt có tiệc “rượu ngựa bao tử”. Loại rượu lạ này được chiết xuất từ rượu ngâm các bào thai ngựa.

Truyền thuyết về các địa danh lịch sử mang tên ngựa nhiều khi cũng gắn với những vấn đề có quan hệ mật thiết tới y học. Theo Lê Quý Đôn trong sách Vân đài loại ngữ, Mục “Khu vũ”: Phía Tây Bắc châu thành Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Hoa), có Mã pháo tuyền còn gọi là Thái tử tỉnh (tương truyền rằng, Trấn Nam Vương, Thái tử của Hoàng đế Nguyên Mông đi Nam chinh, quân sĩ uống nước sông Minh Giang đều bị bệnh, sau cầu thần thì thấy ngựa lấy móng chân cào đất, nước suối vọt ra gọi là “Mã pháo tuyền”. Ở đấy, nước trong và ngọt, đựng vào bình để hàng tuần không bị biến vị, uống nước ấy có thể làm tiêu hết chướng độc (sốt rét, ngã nước). Các sứ giả đi cống, sau khi qua cửa quan đến Minh Giang, lên thuyền, phải lấy ngay nước suối ấy đủ dùng cho đến Nam Ninh, giữa đường không dám uống nước sông Uất Giang. Khi trở về nước, đến đấy cũng phải múc chứa nước ấy đủ dùng cho đến Lạng Sơn, không dám uống nước sông Bằng Tường.

Đồng bào thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta có bài thuốc hay: Phổi ngựa bạch ngâm rượu hoặc ngâm mật ong, sau 100 này uống chữa bệnh đường hô hấp (viêm phổi, hen…) rất hiệu nghiệm. Nhưng cần phân biệt ngựa bạch với ngựa trắng. Ngựa bạch là ngựa có bộ lông trắng, nhưng đúng ngọ (12 giờ trưa) mắt nó bỗng sáng long lanh, còn ngựa trắng thì chỉ có bộ lông trắng chứ không có đôi mắt thần kỳ như thế

Đinh Công Vĩ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: