Thứ sáu 13/03/2026 16:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình việt nam

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề thực tiễn việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài của nữ công dân Việt Nam với nam công dân nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời, kiến nghị giải pháp để giải quyết vấn đề trên, hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình.


Abstract: The article deals with the practice of recognition of marriage established in overseas between Vietnamese female citizen and foreign male citizen in case of marital status violation according to the Law on Marriage and Family of Vietnam of 2014, at the same time, proposes solutions for resolving this problem towards the protection of rights and interests of women and children in marital and family relationships.

Ngày nay, khi thế giới ngày càng “phẳng” đi, các cá nhân tự do di chuyển, sống và làm việc giữa các quốc gia đã tạo nên sự giao thoa, tiếp biến đa dạng, dung hòa trong sự khác biệt giữa các nền văn hóa. Trong sự cởi mở đó, quan hệ hôn nhân của công dân Việt Nam với công dân nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều. Sau kết hôn, công dân Việt Nam đã có sự hòa nhập nhanh chóng vào cộng đồng văn hóa - xã hội nước sở tại. Họ luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với quê hương Việt Nam. Tuy nhiên, các quốc gia vẫn có những bản sắc riêng, do đó, có sự khác biệt, không thống nhất về văn hóa, tôn giáo, đặc biệt là hệ thống pháp luật của mỗi nước là khác nhau và chế độ hôn nhân - gia đình của mỗi quốc gia cũng có khác nhau, nên đã xuất hiện xung đột pháp luật trong việc công nhận hôn nhân hợp pháp tại Việt Nam.

1. Thực tiễn việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam

Điển hình là xung đột pháp luật về chế độ hôn nhân gia đình một vợ - một chồng[1] theo pháp luật Việt Nam và chế độ hôn nhân đa thê[2] của nam công dân có tôn giáo Islam[3]ơ. Theo đó, nam công dân có tôn giáo Islam tại các quốc gia như Malaysia, Indonesia, các quốc gia Trung Đông... có thể kết hôn đồng thời với bốn phụ nữ. Hệ quả pháp lý của vấn đề này là nữ công dân Việt Nam sẽ không thể thực hiện được thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài tại Việt Nam vì vi phạm chế độ hôn nhân một vợ - một chồng, nếu ngay tại thời điểm kết hôn người chồng còn tồn tại hôn nhân với người phụ nữ khác.

Hiện nay, căn cứ để công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài mà không đáp ứng được điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam là Nghị định số 126/2014/NĐ-CP4 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP[5]. Theo đó, khoản 1 Điều 36 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định theo hướng “mở” công nhận việc kết hôn mà hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Quy định này thể hiện sự tiến bộ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xuất phát từ tinh thần nhân đạo sâu sắc. Tuy nhiên, quy định trên để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em lại không thể thực hiện được trên thực tế do có mâu thuẫn với quy định tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Theo khoản 1 Điều 34 Nghị định này về điều kiện ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài là không vi phạm điều cấm tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vấn đề mâu thuẫn giữa quy định của pháp luật hộ tịch và quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình trong việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài mà vi phạm điều kiện kết hôn trên thực tế đã dẫn đến việc cơ quan nhà nước, công chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật luôn lựa chọn áp dụng pháp luật hộ tịch. Theo đó, không thực hiện thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài cho trường hợp vi phạm về điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Những hậu quả pháp lý đối với phụ nữ và trẻ em sinh ra trong cuộc hôn nhân không được công nhận hôn nhân tại Việt Nam nhưng đã được xác lập việc kết hôn ở nước ngoài

- Về quyền tài sản tại Việt Nam: Nếu hai vợ chồng có phát sinh tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hôn nhân, sau đó xảy ra tranh chấp với người vợ là nữ công dân Việt Nam hoặc người chồng mất đi mà không có di chúc thừa kế thì pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng không thể áp dụng để phân chia phần tài sản này, chỉ có thể áp dụng pháp luật dân sự để giải quyết. Như vậy, có thể thấy, phần thiệt thòi rất lớn thuộc về phía nữ công dân và trẻ em Việt Nam trong trường hợp này.

- Về quyền nhân thân: Trong đời sống xã hội, mọi phụ nữ khi đi đến hôn nhân đều có tâm lý mong muốn được luật pháp và xã hội công nhận hôn nhân hợp pháp. Về pháp lý, họ không phải là vợ chồng, không có cơ sở pháp lý ràng buộc họ phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ hôn nhân ở Việt Nam.

- Về quyền ly hôn: Công dân Việt Nam không được công nhận hôn nhân, do đó, không thể thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

- Về bảo hộ công dân ở nước ngoài: “Pháp luật chỉ bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình nếu phù hợp với pháp luật Việt Nam”[6]. Như vậy, trong trường hợp này, nếu có xảy ra tranh chấp ở nước ngoài mà phần bất lợi thuộc về phía phụ nữ và trẻ em Việt Nam thì Nhà nước Việt Nam không thể bảo hộ công dân mình vì không phù hợp Luật Hôn nhân và gia đình.

- Đối với trẻ em: Rất khó có thể ghi tên cha trong giấy khai sinh do phải thực hiện một số kỹ thuật y tế (xét nghiệm ADN) để xác định cha con, mà việc này là không thể khi cha mẹ trẻ đã ly hôn và trở về Việt Nam. Thực tế, có một số lượng lớn (theo số liệu thống kê, tỉnh Hậu Giang là 336[7] và tỉnh Bình Dương 51 trường hợp[8]) trẻ theo mẹ về Việt Nam không có giấy tờ tùy thân, không thể khai sinh, không xác định được quốc tịch, ảnh hưởng đến việc hưởng bảo hiểm y tế của trẻ dưới 6 tuổi, học tập tại trường công lập, sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý…

3. Một số kiến nghị hướng đến việc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em

Các kiến nghị này chỉ nhằm hướng đến mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em Việt Nam - những chủ thể yếu thế trong quan hệ hôn nhân gia đình, hoàn toàn không đề xuất việc hợp thức hóa hôn nhân đa thê trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ nhất, kiến nghị cho phép công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài cho một số trường hợp đặc biệt

Trường hợp đặc biệt là trường hợp không vi phạm quy định của pháp luật nước ngoài về hôn nhân đa thê, nơi người chồng có quốc tịch và là nơi người phụ nữ Việt Nam và người chồng thực hiện đăng ký kết hôn, nhưng lại vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là chế độ hôn nhân một vợ - một chồng. Thực hiện nghiệp vụ ghi chú việc kết hôn theo hướng “mở”, tức là về mặt nghiệp vụ vẫn tiến hành công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ - một chồng. Vì nếu theo quy định của pháp luật hộ tịch, sẽ không có cơ sở bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nữ công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình nếu không phù hợp với pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài này không phải hợp thức hóa vấn đề đa thê trên lãnh thổ Việt Nam, mà là ghi nhận lại sự kiện hôn nhân đã xảy ra ở nước ngoài để có cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung ký kết hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số quốc gia cho phép hôn nhân đa thê, mà điển hình là Liên bang Malaysia - nơi có phát sinh số lượng tương đối lớn việc kết hôn giữa nữ công dân Việt Nam và nam công dân nước này (khoảng 7.000 trường hợp)9. Theo đó, hai quốc gia cùng tôn trọng chế độ hôn nhân của nhau. Việt Nam có thể công nhận hợp đồng hôn nhân giữa nữ công dân Việt Nam và nam công dân của quốc gia có chế độ đa thê được lập tại nước ngoài. Trên nguyên tắc dùng hợp đồng hôn nhân chỉ để giải quyết các vấn đề về quyền tài sản và quyền nhân thân trong hôn nhân nếu có tranh chấp phát sinh tại Việt Nam. Đồng thời, cho phép bảo trợ toàn diện, hỗ trợ pháp lý cho công dân Việt Nam khi phát sinh các sự kiện pháp lý liên quan đến hôn nhân gia đình tại các quốc gia có phát sinh sự kiện pháp lý nêu trên.

Thứ ba, hợp đồng hôn nhân

Hợp đồng hôn nhân theo quy định của tôn giáo10 và pháp luật thế tục tại các quốc gia có tôn giáo Islam và công nhận hôn nhân đa thê là công cụ hữu hiệu để các công dân Việt Nam tự bảo vệ trong cuộc sống hôn nhân tại nước ngoài. Mục tiêu là giải quyết một số vấn đề cơ bản phát sinh trước, trong và sau hôn nhân tại Tòa án tôn giáo Islam. Các nữ công dân Việt Nam cần được trang bị kiến thức về hợp đồng hôn nhân trước khi đăng ký kết hôn với nam công dân có tôn giáo Islam.

Để sử dụng hợp đồng hôn nhân tại Việt Nam, trước hết pháp luật Việt Nam cần cho phép nữ công dân Việt Nam thực hiện thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài mà vi phạm chế độ hôn nhân một vợ - một chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với trường hợp này thì chỉ dùng thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài cho việc bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản của phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, hợp đồng hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam tồn tại dưới dạng văn bản thỏa thuận chung giữa hai vợ chồng về chế độ tài sản trước khi kết hôn, được quy định tại Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã cho phép thỏa thuận về tài sản, nhưng còn bỏ ngỏ quy định về quyền nhân thân. Để hợp đồng hôn nhân được lập tại nước ngoài không xung đột với pháp luật Việt Nam và có thể công nhận giá trị pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam, thì pháp luật hôn nhân gia đình cần sớm công nhận hợp đồng hôn nhân với đầy đủ các quy định về quyền tài sản, quyền nhân thân.

Thứ tư, dịch thuật và công bố quy định về pháp luật tôn giáo Islam và pháp luật các nước cho phép hôn nhân đa thê

Qua thực tiễn công tác, tác giả nhận thấy việc hiểu biết về pháp luật nước sở tại nơi kết hôn của nữ công dân Việt Nam còn nhiều hạn chế. Từ đó, họ chưa ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình, đó là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật hoặc không được thụ hưởng những quyền chính đáng mà lẽ ra mình được hưởng, được biết về môi trường xã hội, tôn giáo, pháp luật đất nước sẽ đến định cư. Hướng đến mục tiêu cung cấp đầy đủ kiến thức pháp luật cho nữ công dân Việt Nam trước khi kết hôn11, theo đó, phải giải thích rõ cho nữ công dân Việt Nam biết về những phong tục tập quán khác lạ và quy định pháp luật, điều kiện nhập cư, sinh sống tại nước ngoài trước khi kết hôn. Vì vậy, Bộ Tư pháp sớm phối hợp, tiến hành dịch thuật văn bản Luật Tôn giáo Islam, Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình của một số quốc gia có nữ công dân Việt Nam kết hôn và sinh sống chiếm tỷ lệ cao, ra ngôn ngữ tiếng Việt. Đồng thời, tích cực sưu tầm và lược dịch các quy định về phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ gia đình Islam để dùng làm cẩm nang cho cán bộ tư pháp - hộ tịch, trợ giúp viên pháp lý, cán bộ hội - đoàn thể khi thực hiện nghiệp vụ, thực hiện công tác xã hội có thể tư vấn, trợ giúp pháp lý cho công dân đang có ý định kết hôn với công dân quốc gia có chế độ đa thê.

Các trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài luôn là chủ đề nóng cần được thảo luận thường xuyên để tìm ra hướng giải quyết thích hợp nhất theo yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đặt ra. Trong đó, vấn đề quan trọng là nghiên cứu và xây dựng đầy đủ các chế định pháp lý nhằm thông qua đó đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam, xử lý hài hòa các mối quan hệ hôn nhân do xung đột pháp luật giữa các quốc gia có quan điểm pháp luật trái ngược với quan điểm pháp luật của Việt Nam về hôn nhân và gia đình nhưng không gây ra những ảnh hưởng bất lợi đối với các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế nói chung. Thực trạng pháp lý trên cần được nhìn nhận và giải quyết theo hướng bảo vệ quyền lợi của nữ công dân Việt Nam và trẻ em là con được sinh ra trong mối quan hệ hôn nhân của họ.

THS. NGUYỄN QUỐC TRÍ

Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hôn nhân tiến bộ một vợ, một chồng.

[2]. Mục 23 Polygamy của Luật Gia đình Islam Malaysia.

[3]. Islam: Tên gọi chính thức, thống nhất của tôn giáo Hồi giáo, trong bài viết tác giả dùng từ “Islam” để biểu thị tôn giáo Hồi giáo.

[4]. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ về điều kiện, hình thức công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

[5]. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[6]. Khoản 3 Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Http://ctpn.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi-kinh-nghiem.aspx?ItemID=36, 26/2/2017.

[8]. Báo cáo số 110/BC-UBND ngày 10/8/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về đánh giá thực trạng tình hình giải quyết vấn đề quốc tịch, hộ tịch của trẻ em là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài cư trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

[9]. Công văn số 3238/CV-LS-LSNN ngày 06/11/2015 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao về việc tình hình cô dâu Việt Nam tại Malaysia.

[10]. Xuất phát từ thuật ngữ Nikah11 hôn nhân được định nghĩa là một hợp đồng có mục đích để có được và sở hữu một thú vui. Và kinh Koran cũng chỉ ra rằng, đối với phụ nữ ly hôn, hỗ trợ tài chính nên được chu cấp một cách hợp lý, đó là nghĩa vụ của người đàn ông chân chính. Vì vậy, mới xuất hiện dạng hợp đồng hôn nhân trong hôn nhân của người Islam. Kinh Koran: Surah al-Baqarah câu 221, 230, 232; Surah al-Nisa câu 3, 22, 25, câu Surah an-Nur 3, 32, 33, Surah al-Ahzab câu 49.

[11]. Công văn số 5780/HTQTCT-HT ngày 12/11/2015 của Cục Hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực - Bộ Tư pháp về việc công dân Việt Nam kết hôn tại Malaysia.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: