Thứ sáu 23/10/2026 20:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình việt nam

Tóm tắt: Bài viết đề cập đến vấn đề thực tiễn việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài của nữ công dân Việt Nam với nam công dân nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ một vợ, một chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời, kiến nghị giải pháp để giải quyết vấn đề trên, hướng đến mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình.


Abstract: The article deals with the practice of recognition of marriage established in overseas between Vietnamese female citizen and foreign male citizen in case of marital status violation according to the Law on Marriage and Family of Vietnam of 2014, at the same time, proposes solutions for resolving this problem towards the protection of rights and interests of women and children in marital and family relationships.

Ngày nay, khi thế giới ngày càng “phẳng” đi, các cá nhân tự do di chuyển, sống và làm việc giữa các quốc gia đã tạo nên sự giao thoa, tiếp biến đa dạng, dung hòa trong sự khác biệt giữa các nền văn hóa. Trong sự cởi mở đó, quan hệ hôn nhân của công dân Việt Nam với công dân nước ngoài xuất hiện ngày càng nhiều. Sau kết hôn, công dân Việt Nam đã có sự hòa nhập nhanh chóng vào cộng đồng văn hóa - xã hội nước sở tại. Họ luôn giữ mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với quê hương Việt Nam. Tuy nhiên, các quốc gia vẫn có những bản sắc riêng, do đó, có sự khác biệt, không thống nhất về văn hóa, tôn giáo, đặc biệt là hệ thống pháp luật của mỗi nước là khác nhau và chế độ hôn nhân - gia đình của mỗi quốc gia cũng có khác nhau, nên đã xuất hiện xung đột pháp luật trong việc công nhận hôn nhân hợp pháp tại Việt Nam.

1. Thực tiễn việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài trong trường hợp vi phạm chế độ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam

Điển hình là xung đột pháp luật về chế độ hôn nhân gia đình một vợ - một chồng[1] theo pháp luật Việt Nam và chế độ hôn nhân đa thê[2] của nam công dân có tôn giáo Islam[3]ơ. Theo đó, nam công dân có tôn giáo Islam tại các quốc gia như Malaysia, Indonesia, các quốc gia Trung Đông... có thể kết hôn đồng thời với bốn phụ nữ. Hệ quả pháp lý của vấn đề này là nữ công dân Việt Nam sẽ không thể thực hiện được thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài tại Việt Nam vì vi phạm chế độ hôn nhân một vợ - một chồng, nếu ngay tại thời điểm kết hôn người chồng còn tồn tại hôn nhân với người phụ nữ khác.

Hiện nay, căn cứ để công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài mà không đáp ứng được điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam là Nghị định số 126/2014/NĐ-CP4 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP[5]. Theo đó, khoản 1 Điều 36 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định theo hướng “mở” công nhận việc kết hôn mà hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Quy định này thể hiện sự tiến bộ trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam xuất phát từ tinh thần nhân đạo sâu sắc. Tuy nhiên, quy định trên để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em lại không thể thực hiện được trên thực tế do có mâu thuẫn với quy định tại Nghị định số 123/2015/NĐ-CP. Theo khoản 1 Điều 34 Nghị định này về điều kiện ghi vào sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài là không vi phạm điều cấm tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Vấn đề mâu thuẫn giữa quy định của pháp luật hộ tịch và quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình trong việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài mà vi phạm điều kiện kết hôn trên thực tế đã dẫn đến việc cơ quan nhà nước, công chức có thẩm quyền áp dụng pháp luật luôn lựa chọn áp dụng pháp luật hộ tịch. Theo đó, không thực hiện thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài cho trường hợp vi phạm về điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

2. Những hậu quả pháp lý đối với phụ nữ và trẻ em sinh ra trong cuộc hôn nhân không được công nhận hôn nhân tại Việt Nam nhưng đã được xác lập việc kết hôn ở nước ngoài

- Về quyền tài sản tại Việt Nam: Nếu hai vợ chồng có phát sinh tài sản ở Việt Nam trong giai đoạn hôn nhân, sau đó xảy ra tranh chấp với người vợ là nữ công dân Việt Nam hoặc người chồng mất đi mà không có di chúc thừa kế thì pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam cũng không thể áp dụng để phân chia phần tài sản này, chỉ có thể áp dụng pháp luật dân sự để giải quyết. Như vậy, có thể thấy, phần thiệt thòi rất lớn thuộc về phía nữ công dân và trẻ em Việt Nam trong trường hợp này.

- Về quyền nhân thân: Trong đời sống xã hội, mọi phụ nữ khi đi đến hôn nhân đều có tâm lý mong muốn được luật pháp và xã hội công nhận hôn nhân hợp pháp. Về pháp lý, họ không phải là vợ chồng, không có cơ sở pháp lý ràng buộc họ phải thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đối với nhau trong quan hệ hôn nhân ở Việt Nam.

- Về quyền ly hôn: Công dân Việt Nam không được công nhận hôn nhân, do đó, không thể thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam.

- Về bảo hộ công dân ở nước ngoài: “Pháp luật chỉ bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình nếu phù hợp với pháp luật Việt Nam”[6]. Như vậy, trong trường hợp này, nếu có xảy ra tranh chấp ở nước ngoài mà phần bất lợi thuộc về phía phụ nữ và trẻ em Việt Nam thì Nhà nước Việt Nam không thể bảo hộ công dân mình vì không phù hợp Luật Hôn nhân và gia đình.

- Đối với trẻ em: Rất khó có thể ghi tên cha trong giấy khai sinh do phải thực hiện một số kỹ thuật y tế (xét nghiệm ADN) để xác định cha con, mà việc này là không thể khi cha mẹ trẻ đã ly hôn và trở về Việt Nam. Thực tế, có một số lượng lớn (theo số liệu thống kê, tỉnh Hậu Giang là 336[7] và tỉnh Bình Dương 51 trường hợp[8]) trẻ theo mẹ về Việt Nam không có giấy tờ tùy thân, không thể khai sinh, không xác định được quốc tịch, ảnh hưởng đến việc hưởng bảo hiểm y tế của trẻ dưới 6 tuổi, học tập tại trường công lập, sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý…

3. Một số kiến nghị hướng đến việc bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em

Các kiến nghị này chỉ nhằm hướng đến mục đích bảo vệ quyền và lợi ích của phụ nữ và trẻ em Việt Nam - những chủ thể yếu thế trong quan hệ hôn nhân gia đình, hoàn toàn không đề xuất việc hợp thức hóa hôn nhân đa thê trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ nhất, kiến nghị cho phép công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài cho một số trường hợp đặc biệt

Trường hợp đặc biệt là trường hợp không vi phạm quy định của pháp luật nước ngoài về hôn nhân đa thê, nơi người chồng có quốc tịch và là nơi người phụ nữ Việt Nam và người chồng thực hiện đăng ký kết hôn, nhưng lại vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là chế độ hôn nhân một vợ - một chồng. Thực hiện nghiệp vụ ghi chú việc kết hôn theo hướng “mở”, tức là về mặt nghiệp vụ vẫn tiến hành công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài có vi phạm chế độ hôn nhân một vợ - một chồng. Vì nếu theo quy định của pháp luật hộ tịch, sẽ không có cơ sở bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của nữ công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam trong quan hệ hôn nhân và gia đình nếu không phù hợp với pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Việc công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài này không phải hợp thức hóa vấn đề đa thê trên lãnh thổ Việt Nam, mà là ghi nhận lại sự kiện hôn nhân đã xảy ra ở nước ngoài để có cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam.

Thứ hai, ký kết hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình

Trong giai đoạn hiện nay, cần tập trung ký kết hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và một số quốc gia cho phép hôn nhân đa thê, mà điển hình là Liên bang Malaysia - nơi có phát sinh số lượng tương đối lớn việc kết hôn giữa nữ công dân Việt Nam và nam công dân nước này (khoảng 7.000 trường hợp)9. Theo đó, hai quốc gia cùng tôn trọng chế độ hôn nhân của nhau. Việt Nam có thể công nhận hợp đồng hôn nhân giữa nữ công dân Việt Nam và nam công dân của quốc gia có chế độ đa thê được lập tại nước ngoài. Trên nguyên tắc dùng hợp đồng hôn nhân chỉ để giải quyết các vấn đề về quyền tài sản và quyền nhân thân trong hôn nhân nếu có tranh chấp phát sinh tại Việt Nam. Đồng thời, cho phép bảo trợ toàn diện, hỗ trợ pháp lý cho công dân Việt Nam khi phát sinh các sự kiện pháp lý liên quan đến hôn nhân gia đình tại các quốc gia có phát sinh sự kiện pháp lý nêu trên.

Thứ ba, hợp đồng hôn nhân

Hợp đồng hôn nhân theo quy định của tôn giáo10 và pháp luật thế tục tại các quốc gia có tôn giáo Islam và công nhận hôn nhân đa thê là công cụ hữu hiệu để các công dân Việt Nam tự bảo vệ trong cuộc sống hôn nhân tại nước ngoài. Mục tiêu là giải quyết một số vấn đề cơ bản phát sinh trước, trong và sau hôn nhân tại Tòa án tôn giáo Islam. Các nữ công dân Việt Nam cần được trang bị kiến thức về hợp đồng hôn nhân trước khi đăng ký kết hôn với nam công dân có tôn giáo Islam.

Để sử dụng hợp đồng hôn nhân tại Việt Nam, trước hết pháp luật Việt Nam cần cho phép nữ công dân Việt Nam thực hiện thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài mà vi phạm chế độ hôn nhân một vợ - một chồng theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đối với trường hợp này thì chỉ dùng thủ tục công nhận hôn nhân được xác lập ở nước ngoài cho việc bảo vệ quyền nhân thân, quyền tài sản của phụ nữ và trẻ em. Đồng thời, hợp đồng hôn nhân theo pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam tồn tại dưới dạng văn bản thỏa thuận chung giữa hai vợ chồng về chế độ tài sản trước khi kết hôn, được quy định tại Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã cho phép thỏa thuận về tài sản, nhưng còn bỏ ngỏ quy định về quyền nhân thân. Để hợp đồng hôn nhân được lập tại nước ngoài không xung đột với pháp luật Việt Nam và có thể công nhận giá trị pháp lý trên lãnh thổ Việt Nam, thì pháp luật hôn nhân gia đình cần sớm công nhận hợp đồng hôn nhân với đầy đủ các quy định về quyền tài sản, quyền nhân thân.

Thứ tư, dịch thuật và công bố quy định về pháp luật tôn giáo Islam và pháp luật các nước cho phép hôn nhân đa thê

Qua thực tiễn công tác, tác giả nhận thấy việc hiểu biết về pháp luật nước sở tại nơi kết hôn của nữ công dân Việt Nam còn nhiều hạn chế. Từ đó, họ chưa ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình, đó là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều hành vi vi phạm pháp luật hoặc không được thụ hưởng những quyền chính đáng mà lẽ ra mình được hưởng, được biết về môi trường xã hội, tôn giáo, pháp luật đất nước sẽ đến định cư. Hướng đến mục tiêu cung cấp đầy đủ kiến thức pháp luật cho nữ công dân Việt Nam trước khi kết hôn11, theo đó, phải giải thích rõ cho nữ công dân Việt Nam biết về những phong tục tập quán khác lạ và quy định pháp luật, điều kiện nhập cư, sinh sống tại nước ngoài trước khi kết hôn. Vì vậy, Bộ Tư pháp sớm phối hợp, tiến hành dịch thuật văn bản Luật Tôn giáo Islam, Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình của một số quốc gia có nữ công dân Việt Nam kết hôn và sinh sống chiếm tỷ lệ cao, ra ngôn ngữ tiếng Việt. Đồng thời, tích cực sưu tầm và lược dịch các quy định về phong tục tập quán, văn hóa, lối sống, mối quan hệ giữa các thành viên trong hệ gia đình Islam để dùng làm cẩm nang cho cán bộ tư pháp - hộ tịch, trợ giúp viên pháp lý, cán bộ hội - đoàn thể khi thực hiện nghiệp vụ, thực hiện công tác xã hội có thể tư vấn, trợ giúp pháp lý cho công dân đang có ý định kết hôn với công dân quốc gia có chế độ đa thê.

Các trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài luôn là chủ đề nóng cần được thảo luận thường xuyên để tìm ra hướng giải quyết thích hợp nhất theo yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn đặt ra. Trong đó, vấn đề quan trọng là nghiên cứu và xây dựng đầy đủ các chế định pháp lý nhằm thông qua đó đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công dân Việt Nam, xử lý hài hòa các mối quan hệ hôn nhân do xung đột pháp luật giữa các quốc gia có quan điểm pháp luật trái ngược với quan điểm pháp luật của Việt Nam về hôn nhân và gia đình nhưng không gây ra những ảnh hưởng bất lợi đối với các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế nói chung. Thực trạng pháp lý trên cần được nhìn nhận và giải quyết theo hướng bảo vệ quyền lợi của nữ công dân Việt Nam và trẻ em là con được sinh ra trong mối quan hệ hôn nhân của họ.

THS. NGUYỄN QUỐC TRÍ

Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương

Tài liệu tham khảo:

[1]. Khoản 1 Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định hôn nhân tiến bộ một vợ, một chồng.

[2]. Mục 23 Polygamy của Luật Gia đình Islam Malaysia.

[3]. Islam: Tên gọi chính thức, thống nhất của tôn giáo Hồi giáo, trong bài viết tác giả dùng từ “Islam” để biểu thị tôn giáo Hồi giáo.

[4]. Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ về điều kiện, hình thức công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài.

[5]. Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.

[6]. Khoản 3 Điều 121 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[7]. Http://ctpn.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi-kinh-nghiem.aspx?ItemID=36, 26/2/2017.

[8]. Báo cáo số 110/BC-UBND ngày 10/8/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về đánh giá thực trạng tình hình giải quyết vấn đề quốc tịch, hộ tịch của trẻ em là con của công dân Việt Nam với người nước ngoài cư trú trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

[9]. Công văn số 3238/CV-LS-LSNN ngày 06/11/2015 của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao về việc tình hình cô dâu Việt Nam tại Malaysia.

[10]. Xuất phát từ thuật ngữ Nikah11 hôn nhân được định nghĩa là một hợp đồng có mục đích để có được và sở hữu một thú vui. Và kinh Koran cũng chỉ ra rằng, đối với phụ nữ ly hôn, hỗ trợ tài chính nên được chu cấp một cách hợp lý, đó là nghĩa vụ của người đàn ông chân chính. Vì vậy, mới xuất hiện dạng hợp đồng hôn nhân trong hôn nhân của người Islam. Kinh Koran: Surah al-Baqarah câu 221, 230, 232; Surah al-Nisa câu 3, 22, 25, câu Surah an-Nur 3, 32, 33, Surah al-Ahzab câu 49.

[11]. Công văn số 5780/HTQTCT-HT ngày 12/11/2015 của Cục Hộ tịch, Quốc tịch, Chứng thực - Bộ Tư pháp về việc công dân Việt Nam kết hôn tại Malaysia.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: