Thứ ba 26/05/2026 23:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015

Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10, khóa XIII Quốc Hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự. Đây là một trong những đạo luật quan trọng về hoạt động tố tụng theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, là cơ sở pháp lý quan trọng cho sự phát triển và nâng cao chất lượng hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án, bảo đảm Tòa án thực sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung một chương mới quy định về cơ chế, phương thức để yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án nhằm giảm số lượng vụ tranh chấp phải giải quyết tại Tòa án khắc phục tình trạng quá tải trong hệ thống Tòa án. Trong bài viết này, tác giả phân tích những cơ sở của quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án; thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả của hòa giải gắn với quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Theo Luật mẫu của Ủy ban Liên Hợp Quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) về hòa giải, thì hòa giải là một trình tự được hiểu là trình tự hòa giải, trung gian hoặc một thể hiện tương tự mà các bên yêu cầu bên thứ ba (hòa giải viên) trợ giúp các bên đạt được thỏa thuận giải quyết tranh chấp; hòa giải viên không có thẩm quyền ép các bên tuân theo một giải pháp nào[1].

Hòa giải là một trong các phương thức giải quyết tranh chấp dân sự lựa chọn bên cạnh các phương thức giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, trọng tài và Tòa án. Hòa giải mang tính chất tự nguyện, đề cao sự tự do thỏa thuận mà các bên tranh chấp có thể lựa chọn ngoài Tòa án; một phương thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do các bên tranh chấp cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột. Việc quyết định giải quyết theo điều kiện, thủ tục nào hoàn toàn do các bên tranh chấp quyết định và hòa giải viên không có thẩm quyền ra quyết định buộc các bên phải tuân theo.

Trong hòa giải, các bên tham gia vào quá trình ra quyết định nên kết quả giải quyết thường đáp ứng yêu cầu của các bên; vẫn giữ được quan hệ tình cảm, quan hệ kinh doanh, quan hệ lao động… Tuy nhiên, theo quy định pháp luật hiện hành, kết quả của quá trình hòa giải và việc thực thi kết quả này trên thực tế phụ thuộc vào thiện chí của các bên tranh chấp, nếu các bên không thiện chí thực hiện thì kết quả hòa giải thành không được triển khai thực hiện, nhưng không có biện pháp cưỡng chế được áp dụng và phải giải quyết bằng phương thức khác. Chính vì vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã bổ sung một chương mới về “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án” (Chương XXXIII) để tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải.

1. Cơ sở của quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án

Thứ nhất, quan hệ dân sự (được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm: Quan hệ kinh doanh, thương mại và lao động) là quan hệ được hình thành giữa các chủ thể tham gia có vị trí bình đẳng, tự do ý chí. Các chủ thể có quyền tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận, miễn là thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội. Vì vậy, khi xảy ra tranh chấp dân sự, các bên có quyền thỏa thuận, hòa giải để giải quyết tranh chấp. Mọi thỏa thuận phù hợp với pháp luật của các bên đã đạt được trong hòa giải dù là trước tố tụng hoặc trong tố tụng đều cần được công nhận và bảo đảm thi hành từ Nhà nước và pháp luật.

Thứ hai, lợi ích của hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự trước hết là duy trì mối quan hệ hợp tác giữa các bên, tiết kiệm được thời gian và chi phí giải quyết tranh chấp cho các bên; ngoài ra còn giảm tải tranh chấp do Tòa án giải quyết. Để đảm bảo kết quả hòa giải được thực thi trên thực tế, thì cần phải có cơ chế đảm bảo thi hành kết quả hòa giải thành bằng cưỡng chế nhà nước. Do đó, pháp luật cần quy định thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành.

Thứ ba, việc công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án bằng quyết định của Tòa án là một trong bước phát triển của tố tụng dân sự nước ta. Những quy định này sẽ kết nối với các quy định pháp luật về hòa giải như: Hòa giải tại cơ sở, hòa giải lao động, hòa giải thương mại… tạo nên một sự gắn kết trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án và ngoài Tòa án, nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành kết quả hòa giải thành. Đây là sự thể chế hóa chủ trương của Đảng được xác định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, theo đó: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”.

Thứ tư, việc đảm bảo khả năng thi hành của thỏa thuận hòa giải thành là bước quan trọng để thúc đẩy giải quyết tranh chấp một cách thân thiện và xây dựng niềm tin của các bên tranh chấp đối với hòa giải, nâng cao vị trí, vai trò của hòa giải trong giải quyết các tranh chấp với tư cách là phương thức giải quyết ngoài Tòa án.

2. Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án với những nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, kết quả hòa giải vụ việc ngoài Tòa án được Tòa án xem xét ra quyết định công nhận là kết quả hòa giải thành vụ việc xảy ra giữa cơ quan, tổ chức, cá nhân do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền có nhiệm vụ hòa giải đã hòa giải thành theo quy định của pháp luật về hòa giải (như kết quả hòa giải theo quy định của Luật Hòa giải cơ sở, Luật Thương mại, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng...) (Điều 416 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Như vậy, kết quả hòa giải thành vụ việc ngoài Tòa án là đối tượng được Tòa án công nhận.

Thứ hai, việc xem xét công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án do một thẩm phán giải quyết. Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: (i) Thẩm phán ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này; (ii) Thẩm phán ra quyết định không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án đối với trường hợp không có đủ các điều kiện quy định tại Điều 417 của Bộ luật này; (iii) Việc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án không ảnh hưởng đến nội dung và giá trị pháp lý của kết quả hòa giải ngoài Tòa án.

Thứ ba, điều kiện để Tòa án công nhận kết quả hòa giải ngoài Tòa án được quy định tại Điều 417 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như sau: (i) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự; (ii) Các bên tham gia thỏa thuận hòa giải là người có quyền, nghĩa vụ đối với nội dung thỏa thuận hòa giải. Trường hợp nội dung thỏa thuận hòa giải thành liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người thứ ba thì phải được người thứ ba đồng ý; (iii) Một hoặc cả hai bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận; (iv) Nội dung thỏa thuận hòa giải thành của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba.

Thứ tư, quyết định công nhận hoặc không công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (khoản 8 Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015), nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kết quả hòa giải ngoài Tòa án được Tòa án ra quyết định công nhận sẽ được cơ quan thi hành án dân sự thi hành theo pháp luật về thi hành án dân sự.

Nhìn chung, ở các nước đều tồn tại ba loại hòa giải: Hòa giải tư pháp, hòa giải tại cộng đồng dân cư và hòa giải thương mại, dân sự, lao động2. Hòa giải tư pháp là loại hòa giải được cơ quan tố tụng tiến hành trong quá trình giải quyết tranh chấp dân sự. Hòa giải tại cộng đồng là hòa giải những mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật trong cộng đồng dân cư mà ở nước ta gọi là hòa giải ở cơ sở. Hòa giải thương mại đối với các tranh chấp thương mại do các trung tâm hòa giải thương mại thực hiện.

3. Giải pháp nâng cao hiệu quả của hòa giải gắn với quy định về công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Việc Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 bổ sung Chương XXXIII quy định về thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án tạo cơ hội lớn trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện các thỏa thuận hòa giải thành ngoài Tòa án, nhưng cũng đặt ra những yêu cầu, đòi hỏi mới đối với công tác hòa giải. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, cần thực hiện một số giải pháp sau đây:

Một là, các cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực hòa giải thành ngoài Tòa án cần tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn theo ngành dọc về quy định này trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; kiện toàn tổ chức, hoạt động của hòa giải thuộc lĩnh vực quản lý; tổ chức trao đổi kinh nghiệm, giải đáp, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Định kỳ tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật có liên quan, kỹ năng hòa giải để nâng cao năng lực cho đội ngũ hòa giải viên.

Hai là, cần nâng cao hơn nữa năng lực hòa giải viên, nhất là hòa giải viên được công nhận theo Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Theo quy định tại Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, hòa giải viên ngoài tiêu chuẩn là công dân Việt Nam thường trú tại cơ sở, tự nguyện tham gia hoạt động hòa giải; có phẩm chất đạo đức tốt, uy tín trong cộng đồng dân cư còn có khả năng thuyết phục, vận động nhân dân và có hiểu biết pháp luật. Khoản 3 Điều 419 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định: Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, thẩm phán được phân công xét đơn có quyền yêu cầu hòa giải viên cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của đương sự, nếu xét thấy cần thiết. Hòa giải viên được Tòa án yêu cầu có trách nhiệm trả lời Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Tòa án.

Hòa giải viên là những người được các bên tin tưởng trao cho nhiệm vụ làm trung gian cho các bên tranh chấp. Với vai trò như vậy, căn cứ các quy định về tiêu chuẩn của hòa giải viên3 và yêu cầu, trách nhiệm cung cấp cho Tòa án tài liệu làm cơ sở cho việc xét đơn yêu cầu của đương sự cho thấy, hòa giải viên cần phải thường xuyên cập nhật, nâng cao hiểu biết pháp luật, kinh nghiệm, kỹ năng hòa giải.

Ba là, các bên xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp, vi phạm pháp luật cũng cần phải nâng cao tinh thần trách nhiệm trong việc gửi đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành. Bên cạnh đó, các bên, nhất là bên có đơn yêu cầu Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành cần phải nâng cao trình độ pháp lý, hiểu biết pháp luật, nhất là khi trực tiếp viết đơn vì theo khoản 1 Điều 418 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thì để viết được đơn cầu cần phải có hiểu biết nhất định về pháp luật có liên quan.

Bốn là, khi triển khai thực hiện quy định về Tòa án công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án có thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận hòa giải thành các vụ việc hòa giải ngoài Tòa án sẽ phải đảm nhiệm nhiều việc hơn trước, nên đòi hỏi cần phải giải quyết công việc vừa bảo đảm tiến độ theo thời hạn quy định nhưng cũng phải bảo đảm chất lượng công việc.

Năm là, cần sớm ban hành Nghị định của Chính phủ về hòa giải thương mại để tạo cơ sở pháp lý cho việc điều chỉnh về phạm vi, nguyên tắc trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng hòa giải thương mại, quy định về hòa giải viên thương mại, tổ chức cung cấp dịch vụ hòa giải thương mại, tổ chức và hoạt động hòa giải thương mại nước ngoài tại Việt Nam và quản lý nhà nước về tổ chức, hoạt động hòa giải thương mại.

ThS. Phan Hồng Nguyên

Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. UNCITRAL Model Law on Conciliation, supra note 1, at art. 1(3). Luật mẫu của Ủy ban Liên Hợp Quốc về hòa giải, Điều 1.(3).

[2]. TS. Nguyễn Thị Minh, “ Hòa giải thương mại và xu hướng phát triển tại Việt Nam” , Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2010 - Số chuyên đề Pháp luật về trọng tài thương mại, tr 120.

3. Điều 7 Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, Điều 4 Nghị định số 46/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tranh chấp lao động, Điều 32 Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: