Thứ bảy 05/09/2026 21:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác hộ tịch ở Kon Tom: Những khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ

Tuy nhiên, từ thực tiễn công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi cũng xin đề cập đến những khó khăn, vướng mắc và tồn tại trong công tác này như sau:

Đăng ký hộ tịch là để xác định sự kiện pháp lý cơ bản về tình trạng nhân thân của con người từ khi sinh ra đến khi chết đi. Hoạt động này có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhà nước của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng về biến động hộ tịch, có tác động rất lớn đến nhiều mặt kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng, như thống kê dân số, kế hoạch hóa gia đình và an sinh xã hội của quốc gia; xây dựng và hoạch định các chính sách phù hợp với thực tiễn của địa phương, từng vùng, miền trên cả nước. Trong nhiều năm qua, được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức nên công tác này đã có những chuyển biến tích cực. Đặc biệt, từ năm 1987, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được giao cho hệ thống cơ quan tư pháp các cấp thì ngày càng được củng cố, kiện toàn, đáp ứng yêu cầu trong công tác quản lý nhà nước của các cấp chính quyền và phục vụ tốt hơn nhu cầu chính đáng của nhân dân.

Qua triển khai tổng kết công tác này trên địa bàn tỉnh Kon Tum, số liệu thống kê về sổ hộ tịch và số liệu đăng ký từ năm 1987 đến nay như sau: Sổ đăng ký khai sinh gồm 2.121 sổ, với các số liệu đăng ký khai sinh 272.290 trường hợp; sổ đăng ký kết hôn là 1.538 sổ với số liệu đăng ký là 61.410 trường hợp; sổ đăng ký khai tử là 1.212 sổ, với số liệu đăng ký là 13.305 trường hợp. Ngoài ra còn có các sổ và số liệu hộ tịch khác như thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc và cấp bản sao các giấy tờ hộ tịch... Kết quả tổng kết cho thấy, hệ thống sổ sách và hồ sơ lưu trữ ở các địa phương cơ bản được thực hiện chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật, thể hiện sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của đội ngũ làm công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở các cấp, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân thông qua đơn giản hóa các thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, từ thực tiễn công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi cũng xin đề cập đến những khó khăn, vướng mắc và tồn tại trong công tác này như sau:

Một là, đội ngũ cán bộ tư pháp – hộ tịch từng bước được kiện toàn và thường xuyên tăng cường ở các cấp, nhưng thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ như số lượng đăng ký các sự kiện hộ tịch ngày càng tăng và tính chất đa dạng và phức tạp hơn, cho nên ở nhiều địa phương cán bộ tư pháp – hộ tịch vẫn chưa đảm đương và hoàn thành nhiệm vụ. Đặc biệt, là cán bộ tư pháp – hộ tịch cấp xã, nhiều nơi chưa được chuẩn hóa về trình độ, nghiệp vụ chuyên môn (chưa học qua lớp Trung cấp Luật). Mặt khác, đội ngũ cán bộ tư pháp – hộ tịch chưa ổn định, thường xuyên phải chuyển vị trí công tác, nên không được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời thiếu cán bộ dự nguồn khi có sự thay đổi nhân sự. Bên cạnh đó, cán bộ tư pháp – hộ tịch chưa có chế độ ưu đãi đặc thù hoặc phụ cấp như một số chức danh tư pháp khác (công chứng viên, trợ giúp viên, chấp hành viên). Xuất phát từ nhiều lý do chủ quan, lẫn khách quan, nên việc củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ tư pháp – hộ tịch ở các cấp đang là một thách thức, khó khăn cần phải quan tâm khắc phục mới hạn chế những tồn tại, khó khăn nêu trên.

Hai là, những định chế về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đã được Nhà nước thường xuyên quan tâm chú trọng, đảm bảo cho công tác quản lý nhà nước và thuận lợi cho người dân trên cơ sở đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan đến công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật về đăng ký quản lý hộ tịch đã bộc lộ những tồn tại, bất cập như:

Thứ nhất, quy định đối với cấp lại bản chính giấy khai sinh, Nghị định số 158/NĐ-CP, ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch (gọi tắt là Nghị định 158) quy định: “ủy ban nhân dân cấp huyện nơi lưu trữ sổ đăng ký khai sinh thực hiện việc cấp lại bản chính giấy khai sinh”. Trong trường hợp ủy ban nhân dân cấp huyện cấp lại bản chính giấy khai sinh nhưng sổ đăng ký khai sinh chỉ lưu tại ủy ban nhân dân cấp xã thì ủy ban nhân dân cấp huyện yêu cầu ủy ban nhân dân cấp xã cung cấp thông tin để ghi vào nội dung bản chính giấy khai sinh. ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm trích lục thông tin trả lời bằng văn bản hoặc sao chụp trong sổ đăng ký khai sinh có xác nhận của ủy ban nhân dân cấp xã và gửi cho ủy ban nhân dân cấp huyện. Quy định như vậy là rất bất lợi cho người xin cấp lại bản chính giấy khai sinh và thủ tục hành chính rất rườm rà, phức tạp. Do vậy, cần thiết có thể quy định cho cấp xã và cấp huyện được quyền cấp lại bản chính giấy khai sinh khi có lưu sổ đăng ký khai sinh là phù hợp và thuận lợi hơn, chứ không nên chỉ quy định để ủy ban nhân dân cấp huyện cấp lại bản chính giấy khai sinh như hiện nay.

Thứ hai, theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 158/NĐ-CP, quy định: “Trong trường hợp người đã thành niên đăng ký khai sinh quá hạn cho mình thì có thể đăng ký khai sinh tại ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền đăng ký khai sinh theo quy định tại Điều 13 hoặc tại ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú”. Đây là một quy định gây khó khăn cho công chức tư pháp – hộ tịch khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký khai sinh quá hạn cho công dân, vì không có cơ sở để xác định người đó đã khai sinh chưa khi họ đi đăng ký khai sinh quá hạn. Hơn nữa, việc xác định những nội dung trong bản chính giấy khai sinh như: Ngày, tháng, năm sinh là căn cứ vào giấy tờ gì? (sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, lý lịch, văn bằng chứng chỉ, thẻ đảng viên, các loại giấy tờ khác hay bản khai của đương sự). Thực tế, các loại giấy tờ trên có nhiều trường hợp không thống nhất với nhau về các nội dung, do đó, cần phải quy định cụ thể và chặt chẽ hơn về đăng ký khai sinh quá hạn, tránh những trường hợp đương sự có ý định hợp thực hóa giấy tờ mà cán bộ tư pháp – hộ tịch không thể từ chối thực hiện, nhưng nếu thực hiện thì rất dễ xảy ra những sai sót, vi phạm.

Thứ ba, theo quy định tại điểm e khoản 1 Phần 2 Thông tư số 01/2008/TT-BTP, ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháp quy định về xác định họ và quê quán: “Khi đăng ký khai sinh họ và quê quán của con được xác định theo họ và quê quán của người cha hoặc họ và quê quán của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha mẹ”. Quy định này trên thực tế, trong nhiều trường hợp phát sinh những bất cập, nhất là phần quê quán. Nếu xác định theo quê quán của người cha hoặc người mẹ, đó là vào thời điểm trước đây nhưng đã đến nơi khác định cư từ rất lâu (từ lúc còn bé) nay trưởng thành, có con thì không thể xác định quê quán cha hoặc mẹ cho con và sẽ bất hợp lý. Như vậy, cần hướng dẫn hoặc quy định cụ thể quê quán như thế nào cho phù hợp, chặt chẽ tạo thuận lợi cho việc đăng ký khai sinh. Mặt khác, theo quy định tại điểm 2 Điều 5, Nghị định 158 quy định: “Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày tháng năm sinh; giới tính; dân tộc, quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phù hợp với giấy khai sinh của người đó”, quy định này đảm bảo sự thống nhất các loại giấy tờ của một người là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, không rõ vì sao trong hướng dẫn mới đây của Bộ Tư pháp thì nội dung trong bản chính giấy khai sinh không còn phần ghi về quê quán (mẫu giấy khai sinh mới). Do có sự thay đổi như trên, cho nên nhiều trường hợp gây khó khăn, vướng mắc cho đương sự khi đi đăng ký các loại hồ sơ, giấy tờ khác như: Sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, lý lịch, văn bằng chứng chỉ, thẻ đảng viên, các loại giấy tờ khác, vì vậy, cần có hướng dẫn cụ thể để triển khai thực hiện được thuận lợi hơn.

Thứ tư, về hệ thống sổ sách, biểu mẫu. Để giúp công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đảm bảo chặt chẽ, ổn định làm cơ sở cho việc tra cứu, cấp bản sao cũng như đối chiếu khi cần thiết, đồng thời làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan hữu quan như công an, y tế, giáo dục... cần có sự thống nhất về những nội dung đăng ký trong các loại biểu mẫu, sổ sách, cũng như thời điểm thống kê số liệu báo cáo để giúp cho công tác đăng ký quản lý hộ tịch đảm bảo chặt chẽ, kịp thời, phù hợp, tránh những mâu thuẫn, chồng chéo về số liệu thống kê không đáng có.

Trên đây là những khó khăn, vướng mắc và tồn tại trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại địa phương. Nhằm củng cố và tăng cường công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, đề nghị cấp có thẩm quyền sớm xúc tiến việc xây dựng Luật Hộ tịch để trình Quốc hội thông qua là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cho công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ngày càng hoàn thiện hơn

Nguyễn Văn Bảy

Sở Tư pháp KonTum

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: