Thứ tư 21/01/2026 01:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác phối hợp trong thi hành án dân sự và những bài học kinh nghiệm

Trong những năm gần đây, nhờ sự phối hợp có hiệu quả của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, công tác thi hành án dân sự đã tạo được sự chuyển biến rõ nét thông qua kết quả giải quyết thi hành án hàng năm.

1. Thực tiễn công tác phối hợp trong thi hành án dân sự

Tuy nhiên, trong thực tiễn, công tác phối hợp trong thi hành án dân sự giữa các cơ quan, tổ chức với các chấp hành viên, cơ quan thi hành án vẫn còn những hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết việc thi hành án của chấp hành viên và cơ quan thi hành án. Điều này được thể hiện qua các trường hợp như nội dung bản án tuyên không rõ ràng, các cơ quan hữu quan có trách nhiệm thiếu hợp tác, nên việc thi hành án khó đạt hiệu quả cao. Cụ thể, có những bản án của Tòa án tuyên kê biên tài sản là quyền sử dụng đất của đương sự để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án, nhưng nội dung tuyên không rõ vị trí thửa đất, số lô, số thửa và không có trích lục bản đồ địa chính của thửa đất gửi kèm bản án, quyết định để cơ quan thi hành án tổ chức thi hành. Một số đương sự không có các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất. Cơ quan quản lý đất đai tại địa phương chưa có sự phối hợp đồng bộ, nên đã gây ra khó khăn đối với hoạt động thi hành án của chấp hành viên, cơ quan thi hành án.

Luật Thi hành án dân sự hiện hành đã quy định cụ thể về nhiệm vụ quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã (UBND) đối với công tác thi hành án dân sự, song đối với một số trường hợp, việc thực hiện phối hợp trong công tác thi hành án của công chức ở cơ sở cũng như các cơ quan liên quan chưa quyết liệt, vẫn còn xem nhiệm vụ thi hành án dân sự là nhiệm vụ chỉ của riêng cơ quan thi hành án, cho nên, hiệu quả hoạt động thi hành án dân sự còn có phần thụ động. Để giải quyết xong hoàn toàn một việc thi hành án dân sự phức tạp, chấp hành viên phải thực hiện nhiều thủ tục, liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau, từ việc thông báo, tống đạt các giấy tờ, quyết định thi hành án, đến việc xác minh điều kiện nhân thân, tài sản của các đương sự và áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án. Chỉ một trong các khâu phối hợp thực hiện chưa đạt yêu cầu, sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình thi hành án, làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết thi hành án, vì vậy, chấp hành viên, cơ quan thi hành án rất cần sự phối hợp cao hơn nữa của các cơ quan hữu quan, các tổ chức đoàn thể trong toàn bộ hệ thống chính trị để công tác thi hành án dân sự đem lại hiệu quả cao nhất, đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ và sự mong đợi của toàn xã hội.

Để hoạt động thi hành án dân sự đạt hiệu quả, cần có sự chỉ đạo thống nhất của cấp ủy Đảng và UBND các cấp, các ban, ngành địa phương cần phải phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án dân sự để giải quyết dứt điểm những vụ việc có khó khăn, vướng mắc, đồng thời hạn chế thấp nhất những vụ việc tái chiếm lại tài sản sau cưỡng chế, chuyển giao. Hàng năm, Chủ tịch UBND cấp huyện cần có văn bản chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể và UBND cấp xã phối hợp chặt chẽ với đơn vị thực hiện công tác thi hành án dân sự.

Các thành viên Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự cấp huyện phụ trách ngành, lĩnh vực cần chỉ đạo sát sao các công chức thực hiện tại địa bàn cấp xã và phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự để giải quyết khó khăn vướng mắc trong công tác thi hành án dân sự tại địa bàn được giao phụ trách. Đối với loại án có điều kiện thi hành thì tiến hành vận động đối tượng phải thi hành án tự nguyện thi hành hoặc thân nhân tự nguyện nộp tiền thay. Ban Chỉ đạo cần thường xuyên chỉ đạo cơ quan thi hành án dân sự và chính quyền cấp xã rà soát đối tượng phải thi hành án là đảng viên, cán bộ, công chức, đoàn viên, hội viên trên địa bàn thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thi hành án, tránh để dây dưa, kéo dài

Bên cạnh đó, vai trò phối hợp của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, các cơ quan hữu quan có liên quan chiếm một vị trí hết sức quan trọng. Viện kiểm sát nhân dân thực hiện kiểm sát tuân theo pháp luật trong công tác thi hành án dân sự, giúp cho cơ quan thi hành án và chấp hành viên kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa nhiều vi phạm pháp luật trong hoạt động thi hành án dân sự. Đối với Tòa án nhân dân, trong quá trình tổ chức thi hành án, có nhiều bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ ràng, có sai sót về số liệu…, đặt ra yêu cầu giải thích thì Tòa án cần kịp thời ra văn bản giải thích, đính chính, tháo gỡ những tồn tại, vướng mắc trong quá trình tổ chức thi hành án của chấp hành viên, phối hợp tốt với cơ quan thi hành án dân sự để tiến hành xét miễn, giảm án phí, tiền phạt theo quy định của pháp luật nhằm đạt hiệu quả cao. Đối với lực lượng công an, cần tham gia phối hợp chặt chẽ với cơ quan thi hành án khi có yêu cầu bảo vệ cưỡng chế thi hành án hoặc xác minh nhân thân của người phải thi hành án, ngăn chặn và làm hạn chế hành vi chống đối của đương sự đối với người thi hành công vụ, bảo vệ an toàn tính mạng của những người tham gia cưỡng chế và các tài sản có liên quan đến việc thi hành án. Các cơ quan chuyên môn như: Phòng Tài chính, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý Đô thị, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội… trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình cũng tạo điều kiện thuận lợi giúp cho cơ quan thi hành án dân sự hoàn thành nhiệm vụ, như: Cử người tham gia cưỡng chế, kê biên, định giá tài sản để thi hành án, lập thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản, xác nhận quyền sở hữu tài sản, cung cấp thông tin liên quan đến tài sản…

2. Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị

Đúc kết kinh nghiệm thực tiễn tại đơn vị và qua tìm hiểu kinh nghiệm của những đơn vị bạn cho thấy, nếu địa phương nào thực hiện tốt công tác chỉ đạo, phối hợp trong thi hành án dân sự, thì nơi đó vị thế của cơ quan thi hành án dân sự được nâng lên, tạo được sự đồng thuận, thống nhất trong giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong công tác thi hành án dân sự..., tạo được niềm tin của quần chúng vào sự nghiêm minh của pháp luật. Nhân dân sẽ hiểu được rõ hơn quyền, nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, từ đó, góp phần cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, thực tiễn công tác phối hợp trong thi hành án dân sự vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, đó là:

- Hệ thống pháp luật quy định về nguyên tắc, hình thức, trách nhiệm phối hợp, các nội dung phối hợp…, đặc biệt là nâng cao vai trò trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị trong việc triển khai thực hiện công tác phối hợp cần phải được hoàn thiện hơn;

- Cấp ủy, UBND các cấp cần quan tâm sâu sát hơn đối với công tác thi hành án dân sự, đưa nhiệm vụ chỉ đạo, phối hợp trong công tác thi hành án dân sự đối với các cơ quan, đoàn thể có liên quan vào tiêu chí chấm điểm xét thi đua, khen thưởng của đơn vị hàng năm.

- Đẩy mạnh công tác quản lý thi hành án toàn diện bằng ứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời, đẩy mạnh công tác cải cách hành chính và số liệu hỗ trợ trực tuyến, số liệu tiếp nhận qua cơ chế 01 cửa.

- Tăng cường công tác trọng tâm của ngành là tiếp tục chú trọng việc giải quyết án trên 03 năm; thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 05/CT-TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII); thường xuyên nâng cao vai trò giáo dục chính trị, tư tưởng cho toàn thể cán bộ công chức trong các cơ quan thi hành án dân sự.

Lê Doãn Lâm

Chi cục thi hành án dân sự Quận 12, TP. Hồ Chí Minh

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: