Thứ bảy 12/09/2026 06:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác tham mưu quản lý nhà nước về thi hành án hành chính và theo dõi thi hành án hành chính

Từ khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được ban hành, sau đó là sự ra đời của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, nay là Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định số 71/2016/NĐ-CP) đã có những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác thi hành án hành chính (THAHC).

Theo đó, Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án hành chính, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác THAHC trên phạm vi cả nước. Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) địa phương là cơ quan giúp Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về THAHC và có trách nhiệm theo dõi THAHC. Trải qua 25 năm thực hiện, công tác tham mưu quản lý nhà nước về THAHC của Hệ thống THADS đã ngày càng được hoàn thiện, có những chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào kết quả, hiệu quả THAHC của nước ta. Bên cạnh đó, do còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc nên Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp luôn dành sự quan tâm, chỉ đạo đối với công tác này, theo đó, Tổng cục Thi hành án dân sự cần tiếp tục tăng cường hơn nữa nhiệm vụ tham mưu quản lý nhà nước trong thời gian tới để công tác THAHC, theo dõi THAHC ngày càng hiệu quả hơn, khắc phục được tình trạng án hành chính tồn đọng như hiện nay.

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp và Hệ thống Thi hành án dân sự trong công tác thi hành án hành chính

1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp

Theo khoản 2 Điều 313 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về THAHC. Cụ thể hóa chức năng này, Điều 32 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong THAHC, bao gồm: (i) Giúp Chính phủ phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước về THAHC với các nhiệm vụ: Ban hành văn bản hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về THAHC; theo dõi, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý THAHC; xây dựng báo cáo, thống kê, sơ kết, tổng kết về công tác THAHC theo định kỳ 06 tháng và hàng năm. (ii) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, đôn đốc việc thi hành án; báo cáo, đề xuất trong trường hợp đề nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Ngoài ra, Công văn số 10119/VPCP-V.I ngày 17/10/2018 của Văn phòng Chính phủ về việc thực hiện kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính giao Bộ Tư pháp giúp Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân các cấp trong việc chấp hành Luật Tố tụng hành chính, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan thi hành án dân sự

- Tổng cục Thi hành án dân sự có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn tham mưu cho Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về THAHC (khoản 4 Điều 32 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP) và theo dõi, đôn đốc việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp.

- Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh: Theo khoản 1 Điều 35 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ: (i) Theo dõi việc THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; (ii) Đề nghị Tổng cục Thi hành án dân sự đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, xử lý trách nhiệm đối với các vụ việc THAHC mà người phải thi hành án là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trung ương; (iii) Đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cùng cấp, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; (iv) Hướng dẫn nghiệp vụ quản lý THAHC đối với Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc theo quy định tại Nghị định này; (v) Xử phạt hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; (vi) Tổng kết thực tiễn THAHC, thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động THAHC theo quy định.

- Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện: Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau: (i) Theo dõi việc THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; (ii) Đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cùng cấp; (iii) Xử phạt hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; (iv) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác THAHC theo quy định.

2. Tình hình triển khai các nhiệm vụ trên thực tế

2.1. Đối với Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự

Về cơ bản, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự đã triển khai toàn diện các nhiệm vụ tham mưu giúp Chính phủ quản lý nhà nước về THAHC và đôn đốc, kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật tố tụng hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

- Kết quả đạt được:

+ Đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 15/11/2019 về việc tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính; ban hành Thông tư số 06/2019/TT-BTP ngày 29/11/2019 của Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính; ban hành Quy chế công khai thông tin về việc không chấp hành án hành chính kèm theo Quyết định số 1246/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2017 và Quy trình theo dõi THAHC kèm theo Quyết định số 1130/QĐ-TCTHADS ngày 16/10/2018 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự làm cơ cở đưa công tác theo dõi, báo cáo, thống kê THAHC trong Hệ thống THADS từng bước đi vào nề nếp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về THAHC. Nhằm tiếp tục giải quyết những vướng mắc về kỹ năng, nghiệp vụ áp dụng pháp luật tố tụng hành chính, theo dõi THAHC, trên cơ sở kết quả trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đầu năm 2021, Tổng cục Thi hành án dân sự ban hành Công văn số 16/TCTHADS-NV3 ngày 05/01/2021 và Công văn số 668/TCTHADS-NV3 ngày 04/3/2021 hướng dẫn chung về công tác theo dõi THAHC.

+ Tổ chức các Đoàn kiểm tra liên ngành Trung ương về chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC tại một số địa phương có số lượng bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải thi hành lớn. Trong 05 năm triển khai Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã tổ chức kiểm tra liên ngành trực tiếp tại 06 địa phương là TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau, Đắk Lắk. Trên cơ sở kết quả kiểm tra đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ để chấn chỉnh, chỉ đạo công tác chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC đối với các địa phương này. Trong thời gian tới, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự tiếp tục rà soát tình hình THAHC ở các địa phương và tham mưu tổ chức các buổi làm việc với Ủy ban nhân dân cấp các tỉnh, thành phố có số lượng án hành chính chưa thi hành xong lớn nhằm giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo sự chuyển biến tích cực về kết quả THAHC trên phạm vi cả nước.

+ Phối hợp với Cổng thông tin điện tử Văn phòng Chính phủ thực hiện đăng tải công khai các quyết định buộc THAHC theo đúng quy định của Nghị định số 71/2016/NĐ-CP và Quy chế công khai thông tin về việc không chấp hành án hành chính kèm theo Quyết định số 1246/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2017.

+ Triển khai bài bản công tác tổng hợp, thống kê, báo cáo về công tác THAHC trên phạm vi cả nước để giúp Chính phủ định kỳ báo cáo Quốc hội về công tác THAHC hàng năm.

+ Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thể chế về THAHC nói chung và trong việc áp dụng đối với một số vụ việc cụ thể nói riêng.

+ Phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc chỉ đạo, đôn đốc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính có đơn thư của công dân.

- Tồn tại, hạn chế:

+ Theo quy định của pháp luật, Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường hợp các chủ thể này không chấp hành án hành chính. Tuy nhiên, sau 05 năm triển khai Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, do công tác THAHC khá nhạy cảm và phức tạp, nên mặc dù Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự đã rất nỗ lực tham mưu giúp Chính phủ, song trên thực tế vẫn chưa tiến hành kiểm tra đối với từng vụ việc THAHC cụ thể và chưa có trường hợp nào bị xử lý trách nhiệm do không chấp hành án hành chính. Mặc dù, tính đến hết ngày 31/3/2021, có đến 535/738 bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính chưa được thi hành, nhiều bản án trong số này đã kéo dài nhiều năm.

+ Quá trình phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế về THAHC triển khai còn chậm, một số nội dung triển khai chưa đạt kết quả như mong muốn.

- Nguyên nhân:

+ Thể chế về THAHC còn nhiều bất cập, trong khi để triển khai các công tác tham mưu quản lý nhà nước về THAHC cần phải có căn cứ về mặt pháp lý.

+ Trong một số vụ việc, đơn vị tham mưu trong công tác quản lý nhà nước về THAHC vẫn còn thụ động, chưa tham mưu được những giải pháp toàn diện, lâu dài và hiệu quả.

2.2. Đối với các cơ quan thi hành án dân sự

- Kết quả đạt được: Về cơ bản, công tác theo dõi THAHC của các cơ quan THADS từng bước đi vào nề nếp, bước đầu đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về THAHC và đạt được một số kết quả cụ thể như:

+ Các cơ quan THADS đã thực hiện theo dõi đối với các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính thuộc trách nhiệm theo đúng quy định. Trên cơ sở đó, cơ bản đã chủ động được thông tin các vụ việc khi có yêu cầu thông tin, báo cáo.

+ Việc theo dõi THAHC đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền đã được các cơ quan THADS thực hiện cơ bản toàn diện theo đúng trách nhiệm mà pháp luật quy định, trong đó, số lượng văn bản của cơ quan THADS kiến nghị người có thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án ngày càng tăng (năm 2018, kiến nghị xử lý đối với 13 vụ việc; năm 2019, kiến nghị xử lý đối với 71 vụ việc; năm 2020, kiến nghị xử lý đối với 201 vụ việc và 06 tháng đầu năm 2021 kiến nghị xử lý đối với 35 vụ việc), điều đó cho thấy, các cơ quan THADS từng bước đã đề cao hơn trách nhiệm trong việc theo dõi THAHC.

+ Công tác báo cáo, thống kê về THAHC ở địa phương được các cơ quan THADS thực hiện nghiêm túc, cơ bản bài bản và đi vào nề nếp, đáp ứng yêu cầu công tác thống kê, báo cáo về THAHC hàng năm của Bộ Tư pháp và của Chính phủ.

- Tồn tại, hạn chế:

+ Công tác theo dõi THAHC của các cơ quan THADS chưa đi sâu về nội dung vụ việc THAHC, dẫn đến việc thực hiện trách nhiệm theo dõi THAHC đôi khi còn mang tính hình thức, chưa phát huy tối đa được hiệu quả thúc đẩy kết quả THAHC của công tác theo dõi THAHC.

+ Nhiều cơ quan THADS chưa chủ động báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra và xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn không chấp hành án hành chính. Đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cho đến nay, ngoài Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì chưa địa phương nào có văn bản kiến nghị Tổng cục Thi hành án dân sự báo cáo Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chấp hành án hành chính.

- Nguyên nhân:

+ Do tính chất nhạy cảm của công việc theo dõi THAHC nên chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan THADS còn e ngại trong thực hiện chức trách theo dõi THAHC, làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động theo dõi THAHC.

+ Một số địa phương, thủ trưởng cơ quan THADS còn chưa thực sự quan tâm, chú trọng trong tổ chức triển khai thực hiện công tác theo dõi THAHC ở cơ quan, đơn vị cũng như trong hệ thống các cơ quan THADS thuộc thẩm quyền quản lý.

+ Theo dõi THAHC là công việc khó, phức tạp nên kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi THAHC của một bộ phận chấp hành viên cũng như lãnh đạo cơ quan THADS chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

2.3. Khó khăn, vướng mắc

- Tổ chức, bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về công tác THAHC mặc dù đã từng bước được kiện toàn, trong đó, ở Trung ương, Tổng cục Thi hành án dân sự là đơn vị tham mưu, giúp Bộ Tư pháp trong việc tham mưu cho Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác THAHC. Tuy nhiên, bộ máy tham mưu quản lý công tác THAHC ở địa phương hiện nay chưa được xác định rõ trong các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy chính quyền ở địa phương. Bên cạnh đó, các cơ quan THADS chưa có phòng, bộ phận chuyên môn thực hiện theo dõi THAHC, các công việc theo dõi THAHC đều do chấp hành viên kiêm nhiệm triển khai thực hiện từ công tác theo dõi từng bản án, quyết định của Tòa án đến công tác thống kê, tổng hợp, báo cáo về công tác THAHC.

- Trình tự, thủ tục THAHC theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP vẫn còn một số vướng mắc, chưa được hiểu và áp dụng thống nhất như quy định về thời hạn tự nguyện THAHC; quy định về trình tự, thủ tục thi hành bản án hành chính có nội dung không chấp nhận một phần/toàn bộ yêu cầu khởi kiện...

- Một số bản án, quyết định của Tòa án có nội dung tuyên không rõ, khó thi hành hoặc tuyên rõ nhưng đối chiếu các quy định của pháp luật quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực lại chưa có cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện, dẫn đến lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện cũng như theo dõi việc thực hiện bản án.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp và yêu cầu đặt ra đối với Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tham mưu quản lý nhà nước về THAHC, khắc phục tình trạng tồn đọng các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính, các cơ quan có liên quan cần thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

3.1. Nhiệm vụ, giải pháp trong năm 2021 và những năm tiếp theo

Tiếp tục triển khai, tham mưu triển khai toàn diện nhiệm vụ, quyền hạn tham mưu quản lý nhà nước về THAHC, trong đó tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Một là, tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, trên cơ sở đó, tham mưu cho Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về THAHC và tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành các quy trình, quy định về nghiệp vụ theo dõi THAHC và về chế độ tổng hợp, thống kê, báo cáo về THAHC.

Hai là, tiếp tục phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong hoạt động tham mưu quản lý nhà nước về THAHC, tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế THAHC làm căn cứ triển khai thống nhất ở các địa phương.

Ba là, nghiên cứu, có cơ chế hiệu quả để Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự phát huy tốt hơn nữa vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về THAHC, trong đó có trách nhiệm giúp Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc THAHC và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chấp hành án. Năm 2021, tập trung tổ chức làm việc trực tiếp với Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có số lượng án hành chính còn tồn đọng lớn; những vụ việc có khiếu kiện kéo dài để cùng với địa phương tìm giải pháp tổ chức thi hành dứt điểm các vụ việc THAHC còn tồn đọng.

Bốn là, tập trung bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi THAHC đối với đội ngũ chấp hành viên các cơ quan THADS, bảo đảm hoạt động theo dõi THAHC đi vào chiều sâu bản chất của vụ việc, thay vì việc triển khai theo dõi cơ bản mang tính thủ tục, hình thức như hiện nay.

3.2. Một số yêu cầu đặt ra đối với Hệ thống Thi hành án dân sự

Một là, cần nhận thức đúng và đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của Hệ thống THADS trong việc giúp Chính phủ, Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác THAHC, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng hành chính và THAHC.

Hai là, tiếp tục thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm về tham mưu giúp Bộ Tư pháp để giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác THAHC; các cơ quan THADS thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm theo dõi THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự; trong đó, có nội dung kiến nghị Tổng cục Thi hành án dân sự báo cáo Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chấp hành án hành chính.

Ba là, tăng cường tính chủ động, trách nhiệm phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp trên địa bàn trong hoạt động theo dõi THAHC để công tác theo dõi THAHC đi vào chiều sâu, tránh mang tính hình thức, phát huy tối đa được hiệu quả thúc đẩy kết quả THAHC; đồng thời, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng hành chính và THAHC.

Võ Thị Ba & Nguyễn Thị Kim Quy
Tổng cục Thị hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: