Thứ năm 15/01/2026 19:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác tham mưu quản lý nhà nước về thi hành án hành chính và theo dõi thi hành án hành chính

Từ khi Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 được ban hành, sau đó là sự ra đời của Luật Tố tụng hành chính năm 2010, nay là Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định thời hạn, trình tự, thủ tục thi hành án hành chính và xử lý trách nhiệm đối với người không thi hành bản án, quyết định của Tòa án (Nghị định số 71/2016/NĐ-CP) đã có những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác thi hành án hành chính (THAHC).

Theo đó, Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về thi hành án hành chính, Bộ Tư pháp có nhiệm vụ giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác THAHC trên phạm vi cả nước. Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan thi hành án dân sự (THADS) địa phương là cơ quan giúp Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về THAHC và có trách nhiệm theo dõi THAHC. Trải qua 25 năm thực hiện, công tác tham mưu quản lý nhà nước về THAHC của Hệ thống THADS đã ngày càng được hoàn thiện, có những chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào kết quả, hiệu quả THAHC của nước ta. Bên cạnh đó, do còn tồn tại những khó khăn, vướng mắc nên Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp luôn dành sự quan tâm, chỉ đạo đối với công tác này, theo đó, Tổng cục Thi hành án dân sự cần tiếp tục tăng cường hơn nữa nhiệm vụ tham mưu quản lý nhà nước trong thời gian tới để công tác THAHC, theo dõi THAHC ngày càng hiệu quả hơn, khắc phục được tình trạng án hành chính tồn đọng như hiện nay.

1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp và Hệ thống Thi hành án dân sự trong công tác thi hành án hành chính

1.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp

Theo khoản 2 Điều 313 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về THAHC. Cụ thể hóa chức năng này, Điều 32 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp trong THAHC, bao gồm: (i) Giúp Chính phủ phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhà nước về THAHC với các nhiệm vụ: Ban hành văn bản hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về THAHC; theo dõi, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo về quản lý THAHC; xây dựng báo cáo, thống kê, sơ kết, tổng kết về công tác THAHC theo định kỳ 06 tháng và hàng năm. (ii) Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan có liên quan giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, đôn đốc việc thi hành án; báo cáo, đề xuất trong trường hợp đề nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Ngoài ra, Công văn số 10119/VPCP-V.I ngày 17/10/2018 của Văn phòng Chính phủ về việc thực hiện kiến nghị của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội về việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính giao Bộ Tư pháp giúp Chính phủ theo dõi, đôn đốc, kiểm tra Ủy ban nhân dân các cấp trong việc chấp hành Luật Tố tụng hành chính, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng cục Thi hành án dân sự và các cơ quan thi hành án dân sự

- Tổng cục Thi hành án dân sự có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn tham mưu cho Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về THAHC (khoản 4 Điều 32 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP) và theo dõi, đôn đốc việc chấp hành pháp luật tố tụng hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp.

- Cục Thi hành án dân sự cấp tỉnh: Theo khoản 1 Điều 35 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, Cục Thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ: (i) Theo dõi việc THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; (ii) Đề nghị Tổng cục Thi hành án dân sự đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, xử lý trách nhiệm đối với các vụ việc THAHC mà người phải thi hành án là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trung ương; (iii) Đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cùng cấp, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; (iv) Hướng dẫn nghiệp vụ quản lý THAHC đối với Chi cục Thi hành án dân sự trực thuộc theo quy định tại Nghị định này; (v) Xử phạt hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; (vi) Tổng kết thực tiễn THAHC, thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác tổ chức, hoạt động THAHC theo quy định.

- Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện: Khoản 2 Điều 35 Nghị định số 71/2016/NĐ-CP quy định Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau: (i) Theo dõi việc THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; (ii) Đề xuất, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo, xử lý trách nhiệm đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thi hành bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cùng cấp; (iii) Xử phạt hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; (iv) Thực hiện chế độ thống kê, báo cáo công tác THAHC theo quy định.

2. Tình hình triển khai các nhiệm vụ trên thực tế

2.1. Đối với Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự

Về cơ bản, Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự đã triển khai toàn diện các nhiệm vụ tham mưu giúp Chính phủ quản lý nhà nước về THAHC và đôn đốc, kiểm tra tình hình chấp hành pháp luật tố tụng hành chính của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

- Kết quả đạt được:

+ Đã tham mưu trình Chính phủ ban hành Nghị định số 71/2016/NĐ-CP; tham mưu trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg ngày 15/11/2019 về việc tăng cường chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và thi hành án hành chính; ban hành Thông tư số 06/2019/TT-BTP ngày 29/11/2019 của Bộ Tư pháp quy định chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính; ban hành Quy chế công khai thông tin về việc không chấp hành án hành chính kèm theo Quyết định số 1246/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2017 và Quy trình theo dõi THAHC kèm theo Quyết định số 1130/QĐ-TCTHADS ngày 16/10/2018 của Tổng cục trưởng Tổng cục Thi hành án dân sự làm cơ cở đưa công tác theo dõi, báo cáo, thống kê THAHC trong Hệ thống THADS từng bước đi vào nề nếp, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về THAHC. Nhằm tiếp tục giải quyết những vướng mắc về kỹ năng, nghiệp vụ áp dụng pháp luật tố tụng hành chính, theo dõi THAHC, trên cơ sở kết quả trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đầu năm 2021, Tổng cục Thi hành án dân sự ban hành Công văn số 16/TCTHADS-NV3 ngày 05/01/2021 và Công văn số 668/TCTHADS-NV3 ngày 04/3/2021 hướng dẫn chung về công tác theo dõi THAHC.

+ Tổ chức các Đoàn kiểm tra liên ngành Trung ương về chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC tại một số địa phương có số lượng bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải thi hành lớn. Trong 05 năm triển khai Luật Tố tụng hành chính năm 2015 đã tổ chức kiểm tra liên ngành trực tiếp tại 06 địa phương là TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiên Giang, Cà Mau, Đắk Lắk. Trên cơ sở kết quả kiểm tra đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ để chấn chỉnh, chỉ đạo công tác chấp hành pháp luật tố tụng hành chính và THAHC đối với các địa phương này. Trong thời gian tới, thực hiện ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự tiếp tục rà soát tình hình THAHC ở các địa phương và tham mưu tổ chức các buổi làm việc với Ủy ban nhân dân cấp các tỉnh, thành phố có số lượng án hành chính chưa thi hành xong lớn nhằm giúp địa phương tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo sự chuyển biến tích cực về kết quả THAHC trên phạm vi cả nước.

+ Phối hợp với Cổng thông tin điện tử Văn phòng Chính phủ thực hiện đăng tải công khai các quyết định buộc THAHC theo đúng quy định của Nghị định số 71/2016/NĐ-CP và Quy chế công khai thông tin về việc không chấp hành án hành chính kèm theo Quyết định số 1246/QĐ-TCTHADS ngày 27/12/2017.

+ Triển khai bài bản công tác tổng hợp, thống kê, báo cáo về công tác THAHC trên phạm vi cả nước để giúp Chính phủ định kỳ báo cáo Quốc hội về công tác THAHC hàng năm.

+ Phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thể chế về THAHC nói chung và trong việc áp dụng đối với một số vụ việc cụ thể nói riêng.

+ Phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc chỉ đạo, đôn đốc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính có đơn thư của công dân.

- Tồn tại, hạn chế:

+ Theo quy định của pháp luật, Tổng cục Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp có trách nhiệm tham mưu giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đôn đốc, chỉ đạo, kiểm tra và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong trường hợp các chủ thể này không chấp hành án hành chính. Tuy nhiên, sau 05 năm triển khai Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, do công tác THAHC khá nhạy cảm và phức tạp, nên mặc dù Bộ Tư pháp và Tổng cục Thi hành án dân sự đã rất nỗ lực tham mưu giúp Chính phủ, song trên thực tế vẫn chưa tiến hành kiểm tra đối với từng vụ việc THAHC cụ thể và chưa có trường hợp nào bị xử lý trách nhiệm do không chấp hành án hành chính. Mặc dù, tính đến hết ngày 31/3/2021, có đến 535/738 bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính chưa được thi hành, nhiều bản án trong số này đã kéo dài nhiều năm.

+ Quá trình phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế về THAHC triển khai còn chậm, một số nội dung triển khai chưa đạt kết quả như mong muốn.

- Nguyên nhân:

+ Thể chế về THAHC còn nhiều bất cập, trong khi để triển khai các công tác tham mưu quản lý nhà nước về THAHC cần phải có căn cứ về mặt pháp lý.

+ Trong một số vụ việc, đơn vị tham mưu trong công tác quản lý nhà nước về THAHC vẫn còn thụ động, chưa tham mưu được những giải pháp toàn diện, lâu dài và hiệu quả.

2.2. Đối với các cơ quan thi hành án dân sự

- Kết quả đạt được: Về cơ bản, công tác theo dõi THAHC của các cơ quan THADS từng bước đi vào nề nếp, bước đầu đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về THAHC và đạt được một số kết quả cụ thể như:

+ Các cơ quan THADS đã thực hiện theo dõi đối với các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính thuộc trách nhiệm theo đúng quy định. Trên cơ sở đó, cơ bản đã chủ động được thông tin các vụ việc khi có yêu cầu thông tin, báo cáo.

+ Việc theo dõi THAHC đối với các vụ việc thuộc thẩm quyền đã được các cơ quan THADS thực hiện cơ bản toàn diện theo đúng trách nhiệm mà pháp luật quy định, trong đó, số lượng văn bản của cơ quan THADS kiến nghị người có thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án không thi hành bản án, quyết định của Tòa án ngày càng tăng (năm 2018, kiến nghị xử lý đối với 13 vụ việc; năm 2019, kiến nghị xử lý đối với 71 vụ việc; năm 2020, kiến nghị xử lý đối với 201 vụ việc và 06 tháng đầu năm 2021 kiến nghị xử lý đối với 35 vụ việc), điều đó cho thấy, các cơ quan THADS từng bước đã đề cao hơn trách nhiệm trong việc theo dõi THAHC.

+ Công tác báo cáo, thống kê về THAHC ở địa phương được các cơ quan THADS thực hiện nghiêm túc, cơ bản bài bản và đi vào nề nếp, đáp ứng yêu cầu công tác thống kê, báo cáo về THAHC hàng năm của Bộ Tư pháp và của Chính phủ.

- Tồn tại, hạn chế:

+ Công tác theo dõi THAHC của các cơ quan THADS chưa đi sâu về nội dung vụ việc THAHC, dẫn đến việc thực hiện trách nhiệm theo dõi THAHC đôi khi còn mang tính hình thức, chưa phát huy tối đa được hiệu quả thúc đẩy kết quả THAHC của công tác theo dõi THAHC.

+ Nhiều cơ quan THADS chưa chủ động báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra và xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp trên địa bàn không chấp hành án hành chính. Đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cho đến nay, ngoài Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì chưa địa phương nào có văn bản kiến nghị Tổng cục Thi hành án dân sự báo cáo Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chấp hành án hành chính.

- Nguyên nhân:

+ Do tính chất nhạy cảm của công việc theo dõi THAHC nên chấp hành viên, thủ trưởng cơ quan THADS còn e ngại trong thực hiện chức trách theo dõi THAHC, làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động theo dõi THAHC.

+ Một số địa phương, thủ trưởng cơ quan THADS còn chưa thực sự quan tâm, chú trọng trong tổ chức triển khai thực hiện công tác theo dõi THAHC ở cơ quan, đơn vị cũng như trong hệ thống các cơ quan THADS thuộc thẩm quyền quản lý.

+ Theo dõi THAHC là công việc khó, phức tạp nên kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi THAHC của một bộ phận chấp hành viên cũng như lãnh đạo cơ quan THADS chưa thực sự đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.

2.3. Khó khăn, vướng mắc

- Tổ chức, bộ máy tham mưu quản lý nhà nước về công tác THAHC mặc dù đã từng bước được kiện toàn, trong đó, ở Trung ương, Tổng cục Thi hành án dân sự là đơn vị tham mưu, giúp Bộ Tư pháp trong việc tham mưu cho Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác THAHC. Tuy nhiên, bộ máy tham mưu quản lý công tác THAHC ở địa phương hiện nay chưa được xác định rõ trong các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bộ máy chính quyền ở địa phương. Bên cạnh đó, các cơ quan THADS chưa có phòng, bộ phận chuyên môn thực hiện theo dõi THAHC, các công việc theo dõi THAHC đều do chấp hành viên kiêm nhiệm triển khai thực hiện từ công tác theo dõi từng bản án, quyết định của Tòa án đến công tác thống kê, tổng hợp, báo cáo về công tác THAHC.

- Trình tự, thủ tục THAHC theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015 và Nghị định số 71/2016/NĐ-CP vẫn còn một số vướng mắc, chưa được hiểu và áp dụng thống nhất như quy định về thời hạn tự nguyện THAHC; quy định về trình tự, thủ tục thi hành bản án hành chính có nội dung không chấp nhận một phần/toàn bộ yêu cầu khởi kiện...

- Một số bản án, quyết định của Tòa án có nội dung tuyên không rõ, khó thi hành hoặc tuyên rõ nhưng đối chiếu các quy định của pháp luật quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực lại chưa có cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện, dẫn đến lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện cũng như theo dõi việc thực hiện bản án.

3. Một số nhiệm vụ, giải pháp và yêu cầu đặt ra đối với Hệ thống Thi hành án dân sự

Trong thời gian tới, để nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác tham mưu quản lý nhà nước về THAHC, khắc phục tình trạng tồn đọng các bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính, các cơ quan có liên quan cần thực hiện một số nhiệm vụ và giải pháp sau:

3.1. Nhiệm vụ, giải pháp trong năm 2021 và những năm tiếp theo

Tiếp tục triển khai, tham mưu triển khai toàn diện nhiệm vụ, quyền hạn tham mưu quản lý nhà nước về THAHC, trong đó tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp cụ thể như sau:

Một là, tổ chức sơ kết 05 năm thực hiện Nghị định số 71/2016/NĐ-CP, trên cơ sở đó, tham mưu cho Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về THAHC và tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành các quy trình, quy định về nghiệp vụ theo dõi THAHC và về chế độ tổng hợp, thống kê, báo cáo về THAHC.

Hai là, tiếp tục phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong hoạt động tham mưu quản lý nhà nước về THAHC, tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về thể chế THAHC làm căn cứ triển khai thống nhất ở các địa phương.

Ba là, nghiên cứu, có cơ chế hiệu quả để Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự phát huy tốt hơn nữa vai trò là cơ quan tham mưu giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về THAHC, trong đó có trách nhiệm giúp Chính phủ đôn đốc, kiểm tra việc THAHC và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với người phải thi hành án là Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chấp hành án. Năm 2021, tập trung tổ chức làm việc trực tiếp với Ủy ban nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có số lượng án hành chính còn tồn đọng lớn; những vụ việc có khiếu kiện kéo dài để cùng với địa phương tìm giải pháp tổ chức thi hành dứt điểm các vụ việc THAHC còn tồn đọng.

Bốn là, tập trung bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ theo dõi THAHC đối với đội ngũ chấp hành viên các cơ quan THADS, bảo đảm hoạt động theo dõi THAHC đi vào chiều sâu bản chất của vụ việc, thay vì việc triển khai theo dõi cơ bản mang tính thủ tục, hình thức như hiện nay.

3.2. Một số yêu cầu đặt ra đối với Hệ thống Thi hành án dân sự

Một là, cần nhận thức đúng và đầy đủ vị trí, vai trò, trách nhiệm của Hệ thống THADS trong việc giúp Chính phủ, Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về công tác THAHC, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng hành chính và THAHC.

Hai là, tiếp tục thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm về tham mưu giúp Bộ Tư pháp để giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác THAHC; các cơ quan THADS thực hiện đúng, đầy đủ trách nhiệm theo dõi THAHC theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Nghị định số 71/2016/NĐ-CP và hướng dẫn của Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự; trong đó, có nội dung kiến nghị Tổng cục Thi hành án dân sự báo cáo Bộ Tư pháp kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý trách nhiệm đối với Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh không chấp hành án hành chính.

Ba là, tăng cường tính chủ động, trách nhiệm phối hợp với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và các cơ quan tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp trên địa bàn trong hoạt động theo dõi THAHC để công tác theo dõi THAHC đi vào chiều sâu, tránh mang tính hình thức, phát huy tối đa được hiệu quả thúc đẩy kết quả THAHC; đồng thời, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp chấp hành nghiêm pháp luật tố tụng hành chính và THAHC.

Võ Thị Ba & Nguyễn Thị Kim Quy
Tổng cục Thị hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: