Thứ hai 17/08/2026 09:23
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác theo dõi thi hành pháp luật tại thành phố Cần Thơ - Thực trạng và giải pháp

Cần Thơ là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước với tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng, dân số khoảng 1,2 triệu người, bao gồm 5 quận và 4 huyện với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn.

Kinh tế thành phố những năm gần đây tuy có nhiều khó khăn, thách thức nhưng đã có sự chuyển biến, tiến bộ dần và phát triển ổn định. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được chú trọng; các loại hình văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao phát triển nhiều loại hình phong phú, đa dạng, đáp ứng một phần nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân. Cải cách hành chính, đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí được quan tâm chỉ đạo tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững. Ý thức tuân thủ, chấp hành Hiến pháp, pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân ngày càng được nâng lên. Công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhìn chung, đã được sự quan tâm của các cấp, các ngành, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại địa phương.

Trên cơ sở Đề án “Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật” ban hành kèm theo Quyết định số 1987/QĐ-TTg ngày 30/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Cần Thơ là một trong 6 tỉnh, thành phố trong cả nước triển khai thực hiện thí điểm Đề án. Thực hiện Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/3/2010 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật, Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố thành lập Phòng Công tác theo dõi thi hành pháp luật thuộc Sở Tư pháp và đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 2010. Về tổ chức biên chế của Phòng Công tác theo dõi thi hành pháp luật hiện nay có 03 biên chế và 01 hợp đồng.

Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, Phòng Pháp chế chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Thủ trưởng cơ quan thực hiện công tác kiểm tra, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương theo quy định của pháp luật; chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Thủ trưởng cơ quan đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện pháp luật; chủ trì xây dựng báo cáo kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương trình Thủ trưởng cơ quan chuyên môn gửi Sở Tư pháp. Bên cạnh đó, phối hợp với Sở Tư pháp theo dõi tình hình thi hình pháp luật trong lĩnh vực được phân công.

Đối với Ủy ban nhân dân quận, huyện giao Phòng Tư pháp thực hiện công tác theo dõi chung tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn; tổng hợp, báo cáo tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị các biện pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn với Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tư pháp.

Căn cứ nhiệm vụ được giao và tình hình địa phương, hàng năm, Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật, trong đó có xác định lĩnh vực trọng tâm theo dõi trong năm, chỉ đạo tổ chức phương pháp theo dõi thi hành pháp luật theo ngành, lĩnh vực và địa phương, đảm bảo công tác theo dõi thi hành pháp luật được tiến hành thường xuyên, liên tục và toàn diện, trên cơ sở tăng cường công tác điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trên thực tế. Đội ngũ công chức làm công tác theo dõi thi hành pháp luật cơ bản được đào tạo về chuyên môn (có trình độ đại học và trên đại học), được tập huấn về công tác theo dõi thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu công việc.

Thời gian qua, công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Cần Thơ đã thực hiện theo các cách thức như: Điều tra, khảo sát; thực hiện khảo sát bằng phiếu, phỏng vấn và tổ chức tọa đàm; kiểm tra tình hình thi hành pháp luật; thu thập thông tin báo cáo từ các cấp, các ngành tại địa phương. Trong năm 2011 và năm 2012, đã tập trung theo dõi việc thi hành pháp luật trong các lĩnh vực: Thuế, phí và lệ phí; đăng ký kinh doanh; trật tự an toàn giao thông. Qua đó, đánh giá việc ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, văn bản chỉ đạo, đôn đốc, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và địa phương; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; mức độ tuân thủ văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân; tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với đời sống xã hội... Bên cạnh đó, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật từng bước được nghiên cứu, xác định nội dung, cách thức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị nhằm tăng cường hiệu quả trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại địa phương.

Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực việc thi hành pháp luật còn những hạn chế. Việc triển khai thực hiện các văn bản pháp luật thực tế còn chậm, công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ; việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm chỉ đạo nhưng việc thực hiện chưa thường xuyên, sâu sát đến cơ sở; việc thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên; vẫn có trường hợp vi phạm pháp luật. Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành quyết định thành lập Phòng Pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn của thành phố nhưng do biên chế không được tăng thêm, hơn nữa cán bộ làm công tác pháp chế phải đạt các tiêu chuẩn theo quy định nên việc bố trí nhân sự thành lập các Phòng này gặp khó khăn, chưa đều khắp, vì vậy, công tác theo dõi thi hành pháp luật cũng bị ảnh hưởng phần nào do thiếu đầu mối theo dõi ở cấp sở, ngành của thành phố. Công tác điều tra, khảo sát việc thi hành pháp luật còn hạn chế. Việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật có một số khó khăn, vướng mắc do những hướng dẫn về nội dung, cơ chế, cách thức thực hiện theo quy định tại Thông tư 03/2010/TT-BTP chưa cụ thể và khó áp dụng thực hiện như:

- Chưa quy định các tiêu chí làm cơ sở theo dõi, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với đời sống xã hội, hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

- Về cách thức thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Thông tư số 03/2010/TT-BTP quy định còn chưa cụ thể cách thức tổ chức điều tra, khảo sát; kiểm tra tình hình thi hành pháp luật. Mặt khác, chưa có những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan tiến hành kiểm tra và của các đối tượng được kiểm tra.

- Về cơ chế phối hợp, chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành.

- Chưa có cơ sở để xác định nội dung theo dõi thi hành pháp luật hàng năm ở mỗi địa phương.

- Chưa có những quy định hướng dẫn cụ thể về nhân sự, kinh phí để thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhất là kinh phí phục vụ hoạt động điều tra, khảo sát tại địa phương.

Từ những vướng mắc trong việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật thời gian qua, chúng tôi đề ra những giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác theo dõi thi hành pháp luật trong thời gian tới:

- Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân quận, huyện trong việc thực hiện kế hoạch thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật của thành phố theo các cách thức do Thông tư 03 quy định, nhất là việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công, tại địa phương và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật; cùng với các sở, ngành, quận, huyện tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật;

- Hướng dẫn nghiệp vụ, tập huấn cho cán bộ làm công tác theo dõi thi hành pháp luật ở các sở, ngành, quận, huyện;

- Tăng cường công tác thu thập thông tin để tham mưu đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố kiểm tra, xử lý kịp thời những vấn đề “nóng” tại địa phương.

- Phối hợp với cơ quan chức năng liên quan tham mưu đề xuất với Ủy ban nhân dân thành phố về biên chế, kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Bên cạnh đó, cần có văn bản pháp luật quy định cụ thể về phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong thực hiện đánh giá, theo dõi tình hình thi hành pháp luật; quy định cụ thể các tiêu chí làm cơ sở theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; cơ chế phối hợp của các cấp, các ngành trong công tác theo dõi thi hành pháp luật; cơ chế hỗ trợ, kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật tại địa phương; trách nhiệm thông tin, báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ chế xử lý thông tin...

Để đánh giá được thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, thì việc theo dõi phải được thực hiện cùng lúc bằng nhiều cách thức, thu thập được thông tin đa dạng, nhiều chiều. Đối với cùng một vấn đề, nhưng cách thức thực hiện theo dõi khác nhau, lượng thông tin thu thập được khác nhau, thì kết quả đánh giá khác nhau.

Báo cáo đánh giá đó là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời đôn đốc, tổ chức và hướng dẫn thực hiện; sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật có liên quan; đưa ra chính sách mới và nhiều khi cũng là cơ sở để cấp trên đánh giá hiệu quả hoạt động của cấp dưới từ việc so sánh giữa các ngành, các địa phương.

Do đó, để tạo sự thống nhất, đề nghị Bộ Tư pháp ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn định lượng thông tin cần thu thập; quy trình kiểm tra tình hình thi hành pháp luật; quy trình thu thập, xử lý thông tin về tình hình thi hành pháp luật.

Ngoài ra, công tác tập huấn, bồi dưỡng và kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác theo dõi thi hành pháp luật tại các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp cần được quan tâm nhiều hơn, nhất là nghiệp vụ điều tra, khảo sát và xử lý thông tin được cung cấp, để việc thực hiện công tác này đạt hiệu quả cao hơn.

Sở Tư Pháp TP. Cần Thơ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập

Tóm tắt: Pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập là một bộ phận của pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật, có vai trò quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trên cơ sở làm rõ khái niệm, đặc trưng và các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện, nghiên cứu phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, chỉ ra những kết quả đạt được và các hạn chế. Từ đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật đối với viên chức tại các cơ sở giáo dục công lập, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Hoàn thiện pháp luật để thúc đẩy hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số cho người cao tuổi

Tóm tắt: Chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cấp thiết cần đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, nhất là đối với các nhóm đối tượng đặc thù có năng lực số hạn chế. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số trên cơ sở chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và yêu cầu của chuyển đổi số; đánh giá thực trạng quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Thông qua trường hợp cảnh báo về “hợp đồng kỳ nghỉ”, nghiên cứu làm rõ những hạn chế trong việc tiếp cận thông tin pháp luật của người cao tuổi trên môi trường số, từ đó, chỉ ra những bất cập của pháp luật hiện hành. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trên môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: