Thứ ba 10/02/2026 19:56
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác theo dõi thi hành pháp luật tại thành phố Cần Thơ - Thực trạng và giải pháp

Cần Thơ là thành phố cửa ngõ của cả vùng hạ lưu sông Mê Kông là trung tâm kinh tế, văn hóa, đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước với tổng diện tích tự nhiên 1.401,61 km2, chiếm 3,49% diện tích toàn vùng, dân số khoảng 1,2 triệu người, bao gồm 5 quận và 4 huyện với 85 đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn.

Kinh tế thành phố những năm gần đây tuy có nhiều khó khăn, thách thức nhưng đã có sự chuyển biến, tiến bộ dần và phát triển ổn định. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được chú trọng; các loại hình văn hóa - nghệ thuật, thể dục - thể thao phát triển nhiều loại hình phong phú, đa dạng, đáp ứng một phần nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân. Cải cách hành chính, đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí được quan tâm chỉ đạo tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác quốc phòng, an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được giữ vững. Ý thức tuân thủ, chấp hành Hiến pháp, pháp luật của cơ quan, tổ chức và cá nhân ngày càng được nâng lên. Công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhìn chung, đã được sự quan tâm của các cấp, các ngành, bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật và hoàn thiện hệ thống pháp luật tại địa phương.

Trên cơ sở Đề án “Triển khai thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật” ban hành kèm theo Quyết định số 1987/QĐ-TTg ngày 30/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Cần Thơ là một trong 6 tỉnh, thành phố trong cả nước triển khai thực hiện thí điểm Đề án. Thực hiện Thông tư số 03/2010/TT-BTP ngày 03/3/2010 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật, Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố thành lập Phòng Công tác theo dõi thi hành pháp luật thuộc Sở Tư pháp và đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 2010. Về tổ chức biên chế của Phòng Công tác theo dõi thi hành pháp luật hiện nay có 03 biên chế và 01 hợp đồng.

Đối với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố, Phòng Pháp chế chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Thủ trưởng cơ quan thực hiện công tác kiểm tra, theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương theo quy định của pháp luật; chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan giúp Thủ trưởng cơ quan đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện pháp luật; chủ trì xây dựng báo cáo kết quả theo dõi tình hình thi hành pháp luật và kiểm tra việc thực hiện pháp luật trong phạm vi ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương trình Thủ trưởng cơ quan chuyên môn gửi Sở Tư pháp. Bên cạnh đó, phối hợp với Sở Tư pháp theo dõi tình hình thi hình pháp luật trong lĩnh vực được phân công.

Đối với Ủy ban nhân dân quận, huyện giao Phòng Tư pháp thực hiện công tác theo dõi chung tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn; tổng hợp, báo cáo tình hình thi hành văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị các biện pháp giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong thi hành văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn với Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tư pháp.

Căn cứ nhiệm vụ được giao và tình hình địa phương, hàng năm, Sở Tư pháp tham mưu cho Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Kế hoạch theo dõi thi hành pháp luật, trong đó có xác định lĩnh vực trọng tâm theo dõi trong năm, chỉ đạo tổ chức phương pháp theo dõi thi hành pháp luật theo ngành, lĩnh vực và địa phương, đảm bảo công tác theo dõi thi hành pháp luật được tiến hành thường xuyên, liên tục và toàn diện, trên cơ sở tăng cường công tác điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trên thực tế. Đội ngũ công chức làm công tác theo dõi thi hành pháp luật cơ bản được đào tạo về chuyên môn (có trình độ đại học và trên đại học), được tập huấn về công tác theo dõi thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu công việc.

Thời gian qua, công tác theo dõi thi hành pháp luật tại Cần Thơ đã thực hiện theo các cách thức như: Điều tra, khảo sát; thực hiện khảo sát bằng phiếu, phỏng vấn và tổ chức tọa đàm; kiểm tra tình hình thi hành pháp luật; thu thập thông tin báo cáo từ các cấp, các ngành tại địa phương. Trong năm 2011 và năm 2012, đã tập trung theo dõi việc thi hành pháp luật trong các lĩnh vực: Thuế, phí và lệ phí; đăng ký kinh doanh; trật tự an toàn giao thông. Qua đó, đánh giá việc ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, văn bản chỉ đạo, đôn đốc, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và địa phương; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật; rà soát, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; mức độ tuân thủ văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức và cá nhân; tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với đời sống xã hội... Bên cạnh đó, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật từng bước được nghiên cứu, xác định nội dung, cách thức thực hiện và trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị nhằm tăng cường hiệu quả trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại địa phương.

Tuy nhiên, ở một số lĩnh vực việc thi hành pháp luật còn những hạn chế. Việc triển khai thực hiện các văn bản pháp luật thực tế còn chậm, công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng chưa chặt chẽ; việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật được quan tâm chỉ đạo nhưng việc thực hiện chưa thường xuyên, sâu sát đến cơ sở; việc thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện thường xuyên; vẫn có trường hợp vi phạm pháp luật. Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành quyết định thành lập Phòng Pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn của thành phố nhưng do biên chế không được tăng thêm, hơn nữa cán bộ làm công tác pháp chế phải đạt các tiêu chuẩn theo quy định nên việc bố trí nhân sự thành lập các Phòng này gặp khó khăn, chưa đều khắp, vì vậy, công tác theo dõi thi hành pháp luật cũng bị ảnh hưởng phần nào do thiếu đầu mối theo dõi ở cấp sở, ngành của thành phố. Công tác điều tra, khảo sát việc thi hành pháp luật còn hạn chế. Việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật có một số khó khăn, vướng mắc do những hướng dẫn về nội dung, cơ chế, cách thức thực hiện theo quy định tại Thông tư 03/2010/TT-BTP chưa cụ thể và khó áp dụng thực hiện như:

- Chưa quy định các tiêu chí làm cơ sở theo dõi, đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, tác động của văn bản quy phạm pháp luật đối với đời sống xã hội, hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

- Về cách thức thực hiện công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, Thông tư số 03/2010/TT-BTP quy định còn chưa cụ thể cách thức tổ chức điều tra, khảo sát; kiểm tra tình hình thi hành pháp luật. Mặt khác, chưa có những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan tiến hành kiểm tra và của các đối tượng được kiểm tra.

- Về cơ chế phối hợp, chưa có những quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành.

- Chưa có cơ sở để xác định nội dung theo dõi thi hành pháp luật hàng năm ở mỗi địa phương.

- Chưa có những quy định hướng dẫn cụ thể về nhân sự, kinh phí để thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật, nhất là kinh phí phục vụ hoạt động điều tra, khảo sát tại địa phương.

Từ những vướng mắc trong việc thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật thời gian qua, chúng tôi đề ra những giải pháp để thực hiện tốt hơn công tác theo dõi thi hành pháp luật trong thời gian tới:

- Theo dõi, đôn đốc và kiểm tra các sở, ngành, Uỷ ban nhân dân quận, huyện trong việc thực hiện kế hoạch thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật của thành phố theo các cách thức do Thông tư 03 quy định, nhất là việc tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực được phân công, tại địa phương và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật; cùng với các sở, ngành, quận, huyện tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật;

- Hướng dẫn nghiệp vụ, tập huấn cho cán bộ làm công tác theo dõi thi hành pháp luật ở các sở, ngành, quận, huyện;

- Tăng cường công tác thu thập thông tin để tham mưu đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố kiểm tra, xử lý kịp thời những vấn đề “nóng” tại địa phương.

- Phối hợp với cơ quan chức năng liên quan tham mưu đề xuất với Ủy ban nhân dân thành phố về biên chế, kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật.

Bên cạnh đó, cần có văn bản pháp luật quy định cụ thể về phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của các cấp, các ngành trong thực hiện đánh giá, theo dõi tình hình thi hành pháp luật; quy định cụ thể các tiêu chí làm cơ sở theo dõi, đánh giá tình hình thi hành pháp luật; nhiệm vụ theo dõi thi hành pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã; cơ chế phối hợp của các cấp, các ngành trong công tác theo dõi thi hành pháp luật; cơ chế hỗ trợ, kinh phí thực hiện công tác theo dõi thi hành pháp luật tại địa phương; trách nhiệm thông tin, báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; cơ chế xử lý thông tin...

Để đánh giá được thực trạng và hiệu quả thi hành pháp luật, thì việc theo dõi phải được thực hiện cùng lúc bằng nhiều cách thức, thu thập được thông tin đa dạng, nhiều chiều. Đối với cùng một vấn đề, nhưng cách thức thực hiện theo dõi khác nhau, lượng thông tin thu thập được khác nhau, thì kết quả đánh giá khác nhau.

Báo cáo đánh giá đó là cơ sở để cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời đôn đốc, tổ chức và hướng dẫn thực hiện; sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật có liên quan; đưa ra chính sách mới và nhiều khi cũng là cơ sở để cấp trên đánh giá hiệu quả hoạt động của cấp dưới từ việc so sánh giữa các ngành, các địa phương.

Do đó, để tạo sự thống nhất, đề nghị Bộ Tư pháp ban hành văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn định lượng thông tin cần thu thập; quy trình kiểm tra tình hình thi hành pháp luật; quy trình thu thập, xử lý thông tin về tình hình thi hành pháp luật.

Ngoài ra, công tác tập huấn, bồi dưỡng và kiện toàn đội ngũ công chức làm công tác theo dõi thi hành pháp luật tại các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp cần được quan tâm nhiều hơn, nhất là nghiệp vụ điều tra, khảo sát và xử lý thông tin được cung cấp, để việc thực hiện công tác này đạt hiệu quả cao hơn.

Sở Tư Pháp TP. Cần Thơ

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: