Chủ nhật 07/12/2025 14:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác thống kê thi hành án dân sự hiện nay và một số giải pháp

Tóm tắt: Bài viết phân tích một số bất cập trong các quy định về thống kê thi hành án dân sự; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm góp phần tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự.


Abstract: The paper analyzes some inadequacies of regulations on civil judgment execution statistics, from there, puts forward solutions for further contribution to completion of civil jugment execution regime.

Thống kê là một trong những công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng nhu cầu thông tin thống kê của các tổ chức, cá nhân. Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự cũng vậy, thống kê thi hành án dân sự từ lâu đã thực sự là công cụ quản lý vĩ mô quan trọng, có vai trò cung cấp thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, kịp thời phục vụ cho Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, các cơ quan thi hành án dân sự địa phương đánh giá, dự báo tình hình, hoạch định chiến lược, chính sách liên quan đến thi hành án dân sự, kịp thời đánh giá, xử lý những khó khăn, vướng mắc, bất cập, hạn chế trong công tác thi hành án dân sự để có biện pháp, giải pháp xử lý kịp thời. Với tầm quan trọng như vậy của công tác thống kê thi hành án dân sự và với mục đích góp phần tiếp tục hoàn thiện thể chế về thi hành án dân sự, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thống kê thống nhất, đầy đủ, thực chất, hiệu quả hơn trong tất cả các lĩnh vực của công tác thi hành án dân sự và thi hành án hành chính, góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thi hành án dân sự, bảo đảm lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành án dân sự, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập một số khía cạnh như sau:

1. Bất cập trong các quy định về thống kê thi hành án dân sự

Thứ nhất, hoãn, tạm đình chỉ thi hành án dân sự có được coi là có điều kiện thi hành án hay không? Liên quan đến vấn đề này, theo quy định tại Điều 48 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 (Luật Thi hành án dân sự) và Điều 14 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự thì căn cứ hoãn thi hành án dân sự cần được phân biệt bởi hai trường hợp hoãn khi xuất hiện một số căn cứ theo quy định của pháp luật. Trường hợp thứ nhất, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án chủ yếu vì lý do khách quan khi có căn cứ quy định của pháp luật. Trường hợp thứ hai, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn thi hành án khi nhận được yêu cầu hoãn của người có thẩm quyền kháng nghị. Đối với trường hợp này, Luật quy định rõ về thời điểm tiếp nhận yêu cầu cũng như thời hạn hoãn. Theo đó, thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định hoãn ít nhất 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế thi hành án đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự nhận được yêu cầu hoãn thi hành án của người có thẩm quyền kháng nghị ít hơn 24 giờ trước thời điểm cưỡng chế đã được ấn định trong quyết định cưỡng chế thi hành án thì thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn thi hành án khi xét thấy cần thiết. Trường hợp này được hiểu là thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có quyền quyết định hoãn hoặc không. Thời hạn hoãn thi hành án theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị không quá 03 tháng, kể từ ngày ra văn bản yêu cầu hoãn thi hành án. Như vậy, khi đó, đương nhiên cơ quan thi hành án dân sự không được thi hành án. Tuy nhiên, trong các quy định thống kê thi hành án dân sự hiện hành lại không loại trừ trường hợp này, dẫn đến một thực tế việc không được phép thi hành nhưng lại được đưa vào thống kê có điều kiện thi hành. Điều này không phản ánh trung thực, khách quan theo đúng nguyên tắc của thống kê. Nguyên nhân chính của vấn đề là do quy định tại Điều 44a Luật Thi hành án dân sự không xác định những trường hợp hoãn, tạm đình chỉ thi hành án dân sự của người có thẩm quyền kháng nghị. Cùng với đó, theo quy định tại Thông tư số 08/2015/TT-BTP ngày 26/6/2015 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 01/2013/TT-BTP ngày 03/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự (Thông tư số 08/2015/TT-BTP), nhiều vụ việc mà cơ quan thi hành án không thể tổ chức thi hành án được như hoãn, tạm đình chỉ, lý do khác lại được thống kê là việc có điều kiện thi hành, nên tỷ lệ số việc có điều kiện thi hành trên tổng số phải thi hành cao, ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ giải quyết trên số việc có điều kiện giải quyết của các cơ quan thi hành án. Chính vì vậy, quy định về thống kê thi hành án dân sự cũng không đưa các trường hợp hoãn, tạm đình chỉ của người có thẩm quyền kháng nghị vào diện án không hoặc chưa có điều kiện thi hành. Điều này đồng nghĩa với việc thống kê cả những vụ việc không có điều kiện thi hành án vào trường hợp có điều kiện thi hành, dẫn đến việc thống kê chưa phản ánh đúng hiện thực khách quan của sự việc như nguyên tắc của thống kê.

Thứ hai, việc thống kê tiền có điều kiện và chưa có điều kiện thi hành án cũng đang có những vấn đề cần phải nghiên cứu để có giải pháp phù hợp. Theo tác giả Nguyễn Cường: Với cách tính thống kê thi hành án dân sự như hiện nay, thì án có điều kiện đang tính theo nghĩa vụ thi hành án chứ không phải tính theo điều kiện về tài sản, thu nhập thực tế của đương sự. Một đương sự có nghĩa vụ thi hành án 100 tỷ đồng, mặc dù qua xác minh, đương sự này chỉ có tài sản duy nhất trị giá 10 tỷ đồng, thì cơ quan thi hành án dân sự vẫn phải xác định có điều kiện 100 tỷ đồng chứ không phải là 10 tỷ đồng như điều kiện tài sản thực tế của đương sự. Ví dụ, Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh đang thi hành việc thi hành án giữa Công ty cổ phần Công nghiệp hóa cốc Hà Tĩnh phải trả nợ vay cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hà Tĩnh 180 tỷ đồng. Mặc dù qua xác minh, thẩm định giá, Công ty cổ phần Công nghiệp hóa cốc Hà Tĩnh chỉ có tài sản duy nhất là nhà xưởng và máy móc trị giá 30 tỷ đồng nhưng do tài sản bán đấu giá không có người mua, cho nên hơn 01 năm nay Cục Thi hành án dân sự vẫn đang phải thống kê vụ việc này là án có điều kiện với số tiền là 180 tỷ đồng. Như vậy, với cách tính thống kê như hiện nay thì số án có điều kiện đang được thống kê “ảo” là rất lớn. Điều này vừa không phù hợp với tình hình tài sản, thu nhập thực tế của đương sự, vừa làm cho việc hoàn thành chỉ tiêu của các cơ quan thi hành án dân sự trở nên khó khăn hơn rất nhiều[1]. Nguyên nhân chính là do theo quy định tại Thông tư số 08/2015/TT-BTP chưa phân định rõ cách thống kê để xác định một vụ việc thi hành án dân sự được coi là có điều kiện một phần hay có điều kiện toàn bộ.

Thứ ba, thời gian tự nguyện thi hành án của đương sự có được coi là thời hạn để xác định người phải thi hành án có điều kiện thi hành và thống kê vào diện án có điều kiện thi hành án hay không? Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì đương sự có một khoảng thời gian là 10 ngày để tự nguyện thi hành án. Trong thời gian này, cơ quan thi hành án dân sự về cơ bản chưa được áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án (chỉ áp dụng biện pháp cưỡng chế khi phát hiện đương sự có dấu hiệu tẩu tán tài sản). Tuy nhiên, về mặt thống kê, thời gian tự nguyện thi hành của đương sự nói trên cũng phải tính vào thời gian tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án dân sự. Do vậy, dẫn đến một thực tế, cuối năm khi đến kỳ báo cáo, cơ quan thi hành án dân sự nhận được một bản án, quyết định của Tòa án hoặc nhận được đề nghị thi hành án dân sự từ phía người được thi hành án với số tiền lớn hàng ngàn tỷ đồng, vừa ra quyết định thi hành án, chưa làm bất cứ một biện pháp tác nghiệp nào, nhưng vẫn phải đưa vào diện thống kê án có điều kiện thi hành. Đồng nghĩa với việc công sức cả năm làm việc của chấp hành viên nói riêng và cơ quan thi hành án dân sự nói chung đã về đích, đạt tỷ lệ theo quy định nhưng chỉ một vài việc đã biến cơ quan thi hành án và chấp hành viên từ hoàn thành nhiệm vụ trở thành không hoàn thành nhiệm vụ. Nguyên nhân chính của vấn đề này cũng xuất phát từ các quy định về thống kê. Hệ quả này gây ra áp lực rất lớn không chỉ cho cơ quan thi hành án mà nhất là đối với chấp hành viên, không thể chủ động được xem mình một năm có hoàn thành nhiệm vụ hay không hoàn thành nhiệm vụ. Trường hợp hai năm liền không hoàn thành hoặc hoàn thành nhưng còn hạn chế về năng lực cũng có thể có nguy cơ về tinh giản biên chế.

2. Một số giải pháp

Từ những vấn đề nêu trên, chúng tôi cho rằng, giải pháp quan trọng nhất đó là sửa đổi toàn diện chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự, theo hướng ban hành thông tư mới thay thế Thông tư số 01/2013/TT-BTP và Thông tư số 08/2015/TT-BTP; phạm vi điều chỉnh gồm tất cả các lĩnh vực của công tác thi hành án dân sự, thi hành án hành chính và liên quan. Các quy định về thống kê thi hành án dân sự phải đảm bảo tính khả thi, đáp ứng yêu cầu quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cơ quan có thẩm quyền; cụ thể, dễ thực hiện và phản ánh được nhiều thông tin nhất; trong đó:

Một là, cần nghiên cứu, quy định rõ hoãn, tạm đình chỉ thi hành án dân sự, nhất là hoãn, tạm đình chỉ thi hành án dân sự theo yêu cầu của người có thẩm quyền kháng nghị thì không thể xác định là có điều kiện thi hành. Bởi hoãn, tạm đình chỉ đồng nghĩa với việc buộc cơ quan thi hành án dân sự không được phép làm. Tuy nhiên, để bảo đảm không trái với quy định của Luật Thi hành án dân sự, chúng tôi cho rằng, cần xác định rõ trong thông tư thay thế Thông tư số 01/2013/TT-BTP và Thông tư số 08/2015/TT-BTP theo hướng tách riêng một mục để quy định về những trường hợp cơ quan thi hành án dân sự không được phép làm bên cạnh quy định về không có điều kiện thi hành. Trong trường hợp này, cần thiết thì cũng công khai, minh bạch để các bên có liên quan cùng theo dõi, giám sát.

Hai là, cần nghiên cứu để quy định rõ trường hợp có điều kiện thi hành và có điều kiện thi hành một phần. Quy định này để tránh tình trạng quy định con số ảo, rất dễ dẫn đến dư luận xã hội hiểu chưa đúng bản chất về kết quả thực hiện của cơ quan thi hành án dân sự. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề khó khăn, dễ bị lợi dụng trong quá trình thực thi nhiệm vụ của lực lượng chức năng, do đó, cần đưa ra các tiêu chí thật rõ ràng để xác định rõ khi nào thì được xác định có điều kiện thi hành một phần ở mức độ chính xác nhất. Ví dụ, trên thực tế, các vụ việc đã được đưa ra thẩm định giá, bán đấu giá, lần thứ nhất, lần thứ hai không bán được, có thể thẩm định giá lại lần thứ ba và lấy kết quả thẩm định giá ở lần này để làm căn xác định điều kiện thi hành án. Như vậy, vừa kiểm soát được tình hình, vừa hạn chế được con số ảo mà các cơ quan thi hành án dân sự phải gánh.

Ba là, cần quy định cụ thể, chính xác thời điểm để xác định một vụ việc thi hành án dân sự được coi là có điều kiện thi hành để đưa vào thống kê. Theo chúng tôi, nếu xác định hết thời hạn tự nguyện, cùng với đó xác định khoảng thời gian để cơ quan thi hành án dân sự tiến hành xác minh theo thời hạn luật định để kết luận người phải thi hành án dân sự có điều kiện thi hành mới đưa vào diện thống kê có điều kiện hoặc không có điều kiện. Tránh tình trạng vụ việc vừa thụ lý thi hành, chưa làm bất cứ tác nghiệp nào thì đều xác định là có điều kiện thi hành, trong khi đó thực tế lại không phải là như vậy. Tuy nhiên, để tránh tình trạng chấp hành viên chậm thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để xác minh thì tăng cường công tác kiểm tra trong nội bộ của cấp trên đối với cấp dưới, kiểm sát của Viện kiểm sát và sử dụng hỗ trợ từ công nghệ thông tin liên quan đến theo dõi quá trình thi hành án của chấp hành viên thông qua phần mềm thống kê thi hành án dân sự.

Ngoài những vấn đề trên, cần cải cách thủ tục hành chính trong thống kê thi hành án dân sự theo hướng giảm số lượng, thời gian báo cáo thống kê. Tránh tình trạng chế độ thống kê thi hành án dân sự hiện nay theo Thông tư số 01/2013/TT-BTP và Thông tư số 08/2015/TT-BTP nêu trên quy định Chi cục, Cục thi hành án dân sự phải báo cáo 19 biểu mẫu theo kỳ 03 tháng, 06 tháng, 09 tháng, 12 tháng. Chấp hành viên phải thực hiện 04 biểu mẫu thống kê hàng tháng từ biểu số 01/TK-THA đến biểu số 04/TK-THA, ngoài ra, hàng quý, chấp hành viên phải thực hiện thống kê thêm biểu mẫu số 05/TK-THA về khoản tiền thu cho ngân sách nhà nước. Số lượng biểu mẫu báo cáo quá nhiều, gây khó khăn, vất vả cho chấp hành viên. Chưa kể tuy nhiều biểu mẫu, chỉ tiêu báo cáo nhưng các quy định trong thông tư hướng dẫn chế độ thống kê thi hành án dân sự chưa thực sự “trúng”. Thông tư chủ yếu chỉ thống kê về hoạt động nghiệp vụ thi hành án dân sự mà chưa điều chỉnh hết các lĩnh vực của công tác thi hành án dân sự (thông báo về tài sản đã kê biên...), vì thế dẫn đến tình trạng nhiều lĩnh vực còn bỏ ngỏ, chưa được tập hợp hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh tất cả các lĩnh vực thống kê về thi hành án dân sự, gây khó khăn cho việc theo dõi, quản lý, chỉ đạo chung về thống kê thi hành án dân sự. Mặt khác, nhiều vấn đề liên quan đến thống kê thi hành án dân sự chưa được quy định, như: Chưa có quy định trình tự, thủ tục, nội dung thẩm tra thống kê thi hành án dân sự theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP hoặc về phân tích và dự báo thống kê thi hành án dân sự...

TS. Nguyễn Quang Thái & Phạm Thị Phương Mai

Bộ Tư pháp



[1]. Nguyễn Cường: Những bất cập trong thống kê thi hành án dân sự; nguồn http://baophapluat.vn/nhip-song-hom-nay/nhung-bat-cap-trong-thong-ke-thi-hanh-an-dan-su-331049.html (truy cập ngày 06/11/2018).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: