Thứ sáu 13/03/2026 04:46
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Điện Biên

Tóm tắt: Bài viết nêu và phân tích thực trạng công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở tỉnh Điện Biên, từ đó, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này.


Abstract: The paper points out and analyses the real situation of the work of handling administrative violations in the area of environment protection in the Dien Bien Province, from which, to put forward solutions for improving effect of law implementation in this area.

1. Thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Điện Biên

Trong những năm qua, tình hình vi phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Điện Biên đã có những diễn biến phức tạp, trong đó có vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại, khai thác tài nguyên khoáng sản, an toàn vệ sinh thực phẩm; tình trạng một số doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không chấp hành tốt các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn mà nguyên nhân chính là do một số tổ chức, cá nhân chưa có ý thức về bảo vệ môi trường. Qua các cuộc kiểm tra, thanh tra của Phòng Cảnh sát môi trường phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền liên quan và Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố đã cho thấy những hành vi vi phạm liên quan đến môi trường ngày càng nghiêm trọng, môi trường đang dần bị hủy hoại: Tình trạng đất đai bị xói mòn rửa trôi, khô hạn, mất chất hữu cơ... đã và đang xảy ra ở một số khu vực. Hiện trạng lạm dụng thuốc trừ sâu, phân bón hóa học, thuốc kích thích sinh trưởng trong nông nghiệp chưa được kiểm soát. Tài nguyên nước suy giảm, một số vùng thiếu nước vào mùa khô, rác thải, nước thải công nghiệp và sinh hoạt thải ra môi trường chưa được thu gom, xử lý dẫn đến ô nhiễm cục bộ tại một số điểm tiếp nhận[1].

Tình hình vi phạm trong hoạt động khoáng sản chưa được kiểm soát chặt chẽ, làm thất thoát nguồn tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Đáng chú ý là tình trạng khai thác cát, sỏi lòng sông, suối trái phép gây sạt lở, mất đất sản xuất của nhân dân; tình trạng sử dụng hóa chất độc hại để chế biến khoáng sản (vàng, chì, kẽm) chưa xử lý chất thải, nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường; không thực hiện cải tạo phục hồi môi trường sau khai thác, chậm kê khai, kê khai thiếu thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản; không quan trắc môi trường định kỳ; không lập phương án trồng rừng thay thế... gây bức xúc trong dư luận.

Qua các cuộc thanh, kiểm tra, các cơ quan chức năng của tỉnh phát hiện 739 vụ vi phạm pháp luật về môi trường. Thu giữ: 128,753 m3 gỗ; 308 kg động vật, sản phẩm động vật rừng; 1000 kg cafein, 4,5 kg bột phụ gia thực phẩm không rõ nguồn gốc xuất xứ để làm kem; 41kg salbutamol (chất cấm trong chăn nuôi); 300 kg thức ăn chăn nuôi hết hạn sử dụng; 205 kg thức ăn tẩy hạn sử dụng trên bao bì; 44354 kg lâm sản (củ bách bộ, củ lá thuyển, cây máu chó, cây khúc khắc, phong lan ...). Lập hồ sơ chuyển cơ quan điều tra khởi tố 10 vụ, 14 bị can về các hành vi hủy hoại, vận chuyển lâm sản trái phép; lập hồ sơ xử phạt và chuyển các ngành chức năng xử phạt vi phạm hành chính 705 vụ, với số tiền 3.528.227.000 đồng[2].

2. Khó khăn, vướng mắc khi xử lý hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

Những điểm mới trong Bộ luật Hình sự năm 2015 về các tội phạm về môi trường được đánh giá là những nội dung sửa đổi, bổ sung hợp lý, cần thiết được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tổng kết lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở nước ta trong những năm gần đây nhằm tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho việc xử lý các tội phạm về môi trường. Tuy nhiên, những quy định về nhóm tội này vẫn còn có một số điểm chưa thật sự hợp lý về khoa học và có thể dẫn đến sự không thống nhất trong thực tiễn áp dụng.

Thứ nhất, Điều 238 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông quy định về hành vi tại điểm c khoản 1 “khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép” là không phù hợp với tính chất của tội này. Hành vi khoan, đào thăm dò, khảo sát, khai thác đất, đá, cát, sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép không phải trong mọi trường hợp đều ảnh hưởng đến an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai hay thuộc trường hợp vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông. Hành vi này chỉ có thể được giữ lại khi sửa theo hướng quy định chúng được thực hiện trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, đê điều, phòng, chống thiên tai, công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng, quan trắc, giám sát tài nguyên nước, công trình phòng, chống và khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra.

Thứ hai, với quy định liệt kê tại khoản 1 của Điều 242 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người nào vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc một trong các trường hợp sau đây” sau đó liệt kê các hành vi khách quan của tội phạm thì việc bổ sung hành vi “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%” là không hợp lý. Bản thân hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% không thể là hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Việc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ có thể được quy định là một loại dấu hiệu kèm theo hành vi khách quan của tội này với tính cách là hậu quả do hành vi đó gây ra. Với quy định hiện nay, trường hợp người thực hiện các hành vi vi phạm quy định về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (như: Sử dụng chất độc, chất nổ, các hóa chất khác, dòng điện để khai thác thủy sản hoặc làm hủy hoại nguồn lợi thủy sản…) gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% mà không thoả mãn các điều kiện khác thì lại không bị xử lý về hình sự. Tình trạng này vừa bỏ lọt những trường hợp cần xử lý hình sự vừa bất hợp lý so với trường hợp người có hành vi đó gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên bị xử lý theo khung tăng nặng của Điều luật này. Để khắc phục, dấu hiệu gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% phải được chuyển lên quy định liền sau dấu hiệu về trị giá thủy sản thu được ở khoản 1. Sự dịch chuyển đó không chỉ bảo đảm tính khoa học mà còn bảo đảm hiệu quả áp dụng của quy định này.

Thứ ba, hành vi vi phạm quy định về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường là những hành vi khác nhau, gây ra những hậu quả khác nhau: “Để xẩy ra sự cố môi trường”, “làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng” hoặc các thiệt hại khác về tính mạng, sức khoẻ con người hoặc tài sản. Các dạng hậu quả này thực chất và suy cho cùng chỉ là một. Vì “sự cố môi trường” chính là việc/sự kiện gây ô nhiễm, suy thoái, biến đổi môi trường nghiêm trọng[3]. Còn ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường… gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật[4]. Nói cách khác, “sự cố môi trường”, “ô nhiễm môi trường” có chung bản chất và được đánh giá thông qua việc gây ra hậu quả thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ con người, tài sản của Nhà nước, tổ chức hoặc công dân. Như vậy, việc mô tả các dấu hiệu hậu quả tại điểm a, b khoản 1 Điều 237 Bộ luật Hình sự năm 2015 là: “Để xảy ra sự cố môi trường”, “làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng”, “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác…” là chồng chéo và không chính xác, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền khi áp dụng các quy định này để xác định hành vi của người vi phạm.

Thứ tư, một số hành vi phạm tội được mô tả trong điều luật chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến trùng lặp với quy định ở tội danh khác. Điểm c khoản 1 Điều 238 quy định người nào thực hiện hành vi thăm dò, khai thác đất, đá, cát sỏi, khoáng sản, nước dưới đất trái phép gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121% thì sẽ bị xử lí hình sự. Tuy nhiên, điểm c, điểm d khoản 1 Điều 227 tội vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên cũng có mô tả hành vi phạm tội và hậu quả của tội phạm tương tự như Điều 238. Hành vi khách quan của tội phạm được mô tả tại khoản 1 Điều 227 là hành vi vi phạm quy định về thăm dò, khai thác tài nguyên không có giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép. Hậu quả của tội phạm theo quy định tại điểm c, d khoản 1 ĐIều 227 là gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%. Như vậy, có sự trùng lặp một số hành vi khách quan của hai tội danh, từ đó, việc áp dụng pháp luật trên thực tiễn trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt sẽ gặp nhiều khó khăn.

Thứ năm, cần sửa đổi nghị định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm để có sự thống nhất với Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, tại Điều 21, Điều 22, Điều 23 Nghị định số 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chỉ dựa vào mức giá trị của động vật hoang dã, sản phẩm của chúng trong khi đó, Điều 244 Bộ luật Hình sự năm 2015 lại căn cứ vào số lượng cá thể, bộ phận cơ thể. Như vậy, căn cứ để xử lý vi phạm về cùng đối tượng giữa hai luật này không thống nhất với nhau. Việc không thể căn cứ vào giá thị trường để định giá với đối tượng tác động này dẫn đến không thể xác định được giá trị hoặc nếu có cũng không chính xác.

3. Một số kiến nghị, đề xuất

Để nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về công tác bảo vệ môi trường, xin đề xuất một số kiến nghị như sau:

3.1. Đối với các bộ, ngành trung ương

Một là, các chính sách và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường sẽ có hiệu quả cao hơn nếu việc sử dụng môi trường của các tổ chức, cá nhân được tính thành chi phí sản xuất. Đây là một trong những tiêu chí cạnh tranh trong việc sử dụng môi trường. Có như vậy, ý thức tiết kiệm và bảo vệ môi trường của các tổ chức và cá nhân sẽ được nâng lên. Cụ thể hơn nữa là, các doanh nghiệp kinh doanh phải trả tiền cho việc thải nước và khí độc ra môi trường; ngược lại, nếu các doanh nghiệp sẽ được giảm, miễn hoặc thoái thuế nếu sử dụng công nghệ sạch, thân thiện với môi trường. Các hộ gia đình, cá nhân sử dụng môi trường tiết kiệm và có thức bảo vệ môi trường sẽ có chính sách tuyên dương và khen thưởng kịp thời.

Hai là, cần xã hội hóa việc bảo vệ môi trường, biến việc bảo vệ môi trường thành mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội, nhất là tăng cường trách nhiệm của cộng đồng dân cư, làng xã trong công tác bảo vệ môi trường.

Ba là, cần nghiên cứu hoàn thiện các văn bản, chính sách bảo vệ môi trường, cụ thể: Khung hướng dẫn về trình tự thực hiện đối với các dự án sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường; thông tư hướng dẫn triển khai Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/06/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đa dạng sinh học; định mức kinh tế kỹ thuật hoạt động quan trắc môi trường nước thải.

Bốn là, cần tăng mức xử phạt hành chính và các hình phạt nghiêm khắc nhất quy định của pháp luật đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Không chỉ áp dụng cho các cá nhân vi phạm mà phải áp dụng cho các tổ chức có tư cách pháp nhân gây ô nhiễm môi trường và hủy hoại môi sinh, đặc biệt phải dùng hình thức áp dụng xử phạt liên quan đến tài chính, tịch biên, phá hủy hoặc thậm chí có thể giải thể hoạt động trong trường hợp cần thiết. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, đặc biệt đối với các cơ sở hoạt động liên quan đến môi trường nhưng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải xử lý triệt để.

3.2. Đối với tỉnh Điện Biên

Một là, quan tâm tăng tỷ lệ chi ngân sách trên 1% ngân sách của địa phương chi cho hoạt động bảo vệ môi trường đảm bảo yêu cầu trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt tăng chi ngân sách cho các hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, trong đó có công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát.

Hai là, đối với công tác quản lý chất thải nguy hại, cần xem xét việc đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn nguy hại theo vùng.

Ba là, đề xuất Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam nên tạo điều kiện hỗ trợ, cho vay lãi xuất ưu đãi đối với các dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp chất thải.

Bốn là, tỉnh Điện Biên cần quan tâm hơn nữa trong việc xây dựng Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn tỉnh.

Năm là, các địa phương phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường thực tế của địa phương. Rà soát, khoanh vùng các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ hoạt động xả thải, phòng ngừa các sự cố môi trường bằng các biện pháp phù hợp với tình hình thực tiễn.

Sáu là, tỉnh cần có chính sách về tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cho ngành tài nguyên và môi trường, đặc biệt là tuyến huyện và xã; chú trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn cán bộ có chuyên môn phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý môi trường.

ThS. Vũ Ngọc Hà

Sở Tư pháp tỉnh Điện Biên

Tài liệu tham khảo:

[1]. Báo cáo số 311/BC-CAT ngày 20/10/2016 của Công an tỉnh Điện Biên về công tác phòng chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Điện Biên năm 2016.

[2]. Kết quả này được tổng hợp từ các báo cáo năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016 của Công an tỉnh Điện Biên, cụ thể: Báo cáo số 231/BC-CAT ngày 15/10/2012; Báo cáo số 218/BC-CAT ngày 17/10/2013; Báo cáo số 256/BC-CAT ngày 15/10/2014; Báo cáo số 212/BC-CAT ngày 18/10/2015; Báo cáo số 311/BC-CAT ngày 20/10/2016.

[3]. Xem: Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

[4]. Xem: Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: