Thứ ba 26/05/2026 01:05
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc trưng của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và một số kiến nghị

Xã hội hóa mạnh mẽ việc cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở nước ta thể hiện sự thay đổi nhanh chóng trong nhận thức của các cơ quan công quyền, phản ánh mức độ phát triển của xã hội. Quá trình này cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển, đem lại sự thuận lợi cho người dân trong việc thụ hưởng những chính sách công của Nhà nước.

Bài viết dưới đây, tác giả muốn giới thiệu đến bạn đọc hai nội dung chính: (1) Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và (2) Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như: Nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công; tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp...

1. Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam

Cung cấp dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Một cách chung nhất, dịch vụ công được hiểu là “những dịch vụ gắn với lợi ích chung, thiết yếu của đa số nhân dân hay dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước đối với dân chúng”[1] Dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước và hiện nay xã hội hóa dịch vụ công (XHHDVC) đang trở thành một xu hướng phổ biến của các nhà nước trong một thế giới chuyển đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Yêu cầu xã hội hóa cung ứng dịch vụ công là Nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện một số loại dịch vụ công quan trọng và thông qua các cơ chế cụ thể dần chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ công còn lại cho các chủ thể khác đồng thời có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ chất lượng của việc cung ứng các loại dịch vụ công này[2].

Ở Việt Nam, XHHDVC được khởi xướng thực hiện trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Cùng với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thì XHHDVC đã được mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, XHHDVC được nghiên cứu và đẩy mạnh thực hiện cùng với tiến trình cải cách pháp luật, cải cách tư pháp với các nội dung trọng tâm được xác định tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp có những tác động tích cực trong việc cải thiện, nâng cao chất lượng và phát triển ổn định, bền vững các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Thực tiễn cho thấy, lĩnh vực tư pháp là lĩnh vực hoạt động có nhiều đặc thù. Đây là lĩnh vực mà theo quan điểm truyền thống là địa hạt của Nhà nước, gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật, duy trì công lý trong xã hội. Mặc dù, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn có những quan điểm khác nhau về phạm vi, phương thức, cách thức, hình thức... xã hội hóa cũng như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của XHHDVC như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện bằng việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động cung ứng dịch vụ công

Việc huy động này được thực hiện dưới hình thức chuyển giao cho khu vực tư cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp từng phần hoặc toàn bộ tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của các tổ chức, cá nhân[3]. Thông qua việc chuyển giao cung cấp dịch vụ công, Nhà nước đã cho phép hình thành hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ ngoài công lập như văn phòng luật sư, công ty luật, Văn phòng Thừa phát lại, văn phòng công chứng, công ty bán đấu giá tài sản… Cùng với đó, trong một mức độ và giới hạn ở những phạm vi nhất định, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn bao hàm ý nghĩa động viên sự đóng góp nguồn lực cho hoạt động cung cấp dịch vụ công của Nhà nước, trong đó bao gồm hình thức thu phí, qua đó làm giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp. Trong trường hợp này, các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được cung cấp bởi các tổ chức dịch vụ sự nghiệp công lập do Nhà nước thành lập và tổ chức hoạt động như Phòng công chứng, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản, Trung tâm Trợ giúp pháp lý…

Thứ hai, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào quan điểm chính trị, pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ, nhận thức pháp luật của người dân và của mỗi nước trong từng thời kỳ

Quan điểm chính trị, pháp lý là những quan niệm, quan điểm của mỗi Nhà nước về vai trò của Nhà nước, quyền lực nhà nước và về pháp luật với vai trò là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Những quan điểm chính trị, pháp lý này sẽ xác định những lĩnh vực cốt lõi mà Nhà nước phải thực hiện và những lĩnh vực mà Nhà nước có thể xã hội hóa và phạm vi, mức độ xã hội hóa. Cùng với đó, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng miền, từng quốc gia và phụ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể. Điều kiện kinh tế - xã hội phát triển tạo điều kiện cho người dân không chỉ có thể chi trả nhiều hơn cho các dịch vụ mà họ có nhu cầu sử dụng mà còn có khả năng tham gia vào quá trình cung ứng các dịch vụ đó. Do vậy, đối với những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nguồn lực phong phú thì Nhà nước có thể thúc đẩy thực hiện xã hội hóa trên cơ sở phát huy vai trò tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia cung ứng dịch vụ công. Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bằng việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động, có các chính sách ưu đãi khi các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, tại một số lĩnh vực, địa bàn có điều kiện khó khăn, Nhà nước sẽ phải trực tiếp tổ chức bộ máy và nhân lực cung cấp các dịch vụ công để bảo đảm cho người dân được bình đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công. Đồng thời, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào trình độ, nhận thức pháp luật của người dân. Khi trình độ, nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên, người dân không chỉ có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn mà còn có nhu cầu sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và hỗ trợ người khác trong thực hiện pháp luật. Đây chính là môi trường thuận lợi cho việc thực hiện XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bao gồm hoạt động có liên quan trực tiếp đến quá trình xét xử, cung cấp chứng cứ, hỗ trợ, tư vấn cho người tham gia tố tụng hay thực hiện pháp luật và phán quyết của Tòa án, qua đó bảo đảm tính đúng đắn trong các phán quyết của Tòa án cũng như củng cố, xây dựng niềm tin của người dân đối với pháp luật, công bằng, công lý trong xã hội. Do đó, quá trình tổ chức huy động, thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài Nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công được tổ chức chặt chẽ hơn. Các chủ thể phi Nhà nước tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp trên cơ sở kết quả của quá trình xã hội hóa, chuyển giao là phụ thuộc vào năng lực, khả năng của các chủ thể này. Nhà nước có nhu cầu chuyển giao cung ứng dịch vụ công nhưng quá trình này chỉ có thể được thực hiện khi các chủ thể đó có khả năng tiếp nhận. Khả năng này được nhìn nhận ở năng lực nói chung trong việc tham gia vào quá trình quản lý xã hội của các chủ thể phi Nhà nước và cũng đồng thời được nhìn nhận ở các điều kiện chuyên môn, kỹ thuật gắn với đạo đức nghề nghiệp mà các chủ thể phải đáp ứng khi tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cụ thể.

Thứ ba, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp đề cao vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng, tổ chức việc cung ứng dịch vụ công và bảo đảm cho người dân có thể bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công, qua đó, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân

XHHDVC hướng đến việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công thông qua việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của Nhà nước và người dân trong việc cung ứng dịch vụ công. Việc chuyển giao những dịch vụ công các tổ chức ngoài khu vực Nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ công và tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất. Việc xã hội hóa cũng tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy chủ động, tích cực của người dân, nhờ đó, đa dạng hóa và tăng nguồn cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, các dịch vụ công gắn với việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp luật, công bằng và công lý trong xã hội. Khi thực hiện xã hội hóa, Nhà nước chuyển giao một phần hoặc toàn bộ việc cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức, cá nhân, trong đó có những dịch vụ được các tổ chức, cá nhân thực hiện trên cơ sở ủy quyền của Nhà nước như việc xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt giấy tờ, tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án… Bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong những trường hợp này không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân mà còn góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin, tình cảm, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, giảm bớt gánh nặng công việc cho Nhà nước không phải là ưu tiên trong XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Điều quan trọng là phải tạo ra được lợi ích và trách nhiệm được chia sẻ giữa Nhà nước, người cung cấp dịch vụ công và công dân. Do vậy, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước vẫn phải là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung cấp dịch vụ công và chất lượng của các dịch vụ công được cung cấp thông qua việc thiết kế, vận hành hiệu quả cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát việc cung cấp các dịch vụ công của các tổ chức, cá nhân.

Thứ tư, đề cao vai trò của các tổ chức nghề nghiệp trong quản lý và bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp

Trong lĩnh vực tư pháp, hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và việc cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp nói riêng phải bảo đảm tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trong thực hiện quyền tư pháp, đặc biệt là nguyên tắc thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật[4]. Các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ công cũng phải bảo đảm tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, đề cao trách nhiệm cá nhân và đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền tư pháp được thực thi đúng đắn.

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp là các tổ chức được thành lập trên cơ sở tập hợp những tổ chức, cá nhân có cùng mục đích, hành nghề trong cùng lĩnh vực. Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cũng như hỗ trợ cho các thành viên trong hành nghề. Thông qua những nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của mình, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực hành nghề và thực hiện chức năng tự quản, quản lý việc chấp hành pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân trong cung ứng các dịch vụ công. Ví dụ như Luật Luật sư quy định trách nhiệm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc ban hành và bảo đảm thực hiện Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, kiểm tra tập sự hành nghề luật sư. Với đặc thù của các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp, việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp góp phần quan trọng vào việc duy trì và thúc đẩy các giá trị tích cực, tốt đẹp của các thành viên trong hành nghề. Do đó, Nhà nước cũng giao cho các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc quản lý nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ công trên nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nhà nước với tự quản của tổ chức hành nghề, bảo đảm tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải bảo đảm quyền tự do, dân chủ và công lý. Yêu cầu cơ bản của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là hoàn thiện hệ thống pháp luật[5]. Trong quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp, pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự tham gia cung cấp dịch vụ công của các chủ thể trong xã hội và bảo đảm sự tham gia một cách bình đẳng giữa các chủ thể Nhà nước và phi Nhà nước. Yêu cầu đặt ra là pháp luật phải bảo đảm tính ổn định, khả thi, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp và bảo đảm người dân ngày càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công cũng như góp phần đắc lực phục vụ cho quá trình cải cách tư pháp, bảo vệ pháp luật. Pháp luật không phải chỉ thể hiện cam kết của Nhà nước trước xã hội về việc bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức và cá nhân khi tham gia cung cấp dịch vụ công, mà còn là thể hiện cam kết của Nhà nước trước nhân dân về việc cung cấp dịch vụ công có chất lượng gắn với nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, duy trì công bằng, lẽ phải trong xã hội dù trong bối cảnh Nhà nước không tham gia trực tiếp vào việc cung cấp dịch vụ công. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp cần quan tâm đến một số nội dung sau:

Một là, nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công

Thực tiễn cho thấy, các quy định về XHHDVC nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, ở các lĩnh vực và cấp độ văn bản khác nhau. Do đó, việc pháp điển hóa các quy định pháp luật thành một văn bản chung, thống nhất quy định về XHHDVC là một giải pháp khá khó khăn, đòi hỏi phải có bước đi và hình thức phù hợp. Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quá trình XHHDVC đang được triển khai hết sức mạnh mẽ, quyết liệt với nỗ lực của Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành hàng loạt các văn bản, chính sách để thực hiện XHHDVC trong các lĩnh vực nói chung, trong đó có dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất ban hành luật về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp là hết sức cần thiết và sẽ là động lực cho việc thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ công trong giai đoạn tiếp theo. Luật về xã hội hóa dịch vụ công cần bao gồm các quy định có tính nguyên tắc trong XHHDVC, nội dung, phương thức pháp lý cho việc thực hiện XHHDVC, các chính sách, biện pháp khuyến khích, ưu đãi thực hiện XHHDVC. Các quy định này sẽ là cơ sở, định hướng cho việc thực hiện XHHDVC trong từng lĩnh vực cụ thể. Các văn bản pháp luật chuyên ngành cùng với nội dung văn bản quy định những vấn đề chung về XHHDVC sẽ tạo ra hành lang pháp lý để tổ chức hiệu quả việc cung ứng dịch vụ công.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp

Rà soát các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tư pháp cho thấy, các quy định về XHHDVC đã từng bước mở rộng đối tượng, chủ thể được tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn những quy định trong một số lĩnh vực chưa thực sự thu hút được sự tham gia này hoặc có những quy định theo hướng chuyển giao hẳn việc cung cấp dịch vụ công cho xã hội, nên dẫn đến những hạn chế trong hoạt động và tiếp cận với dịch vụ công của người dân. Do vậy, nhiều quy định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện như ban hành nghị định và tiến tới là luật về Thừa phát lại, tăng cường sự tham gia của luật sư trong công tác trợ giúp pháp lý, cho phép hình thành các tổ chức giám định ngoài công lập để thực hiện đối với những lĩnh vực giám định mà xã hội có nhu cầu và năng lực để đảm nhận… Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về hợp đồng như một hình thức cam kết về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong tham gia cung cấp dịch vụ công theo đúng quy định và có chất lượng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp (theo vụ việc), bán đấu giá tài sản (đối với các công ty kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có bán đấu giá tài sản)…

Ba là, rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là trách nhiệm trong việc quy hoạch và phát triển các tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp; nội dung, cách thức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dịch vụ công phù hợp với đặc thù hoạt động tư pháp; có quy định riêng về tổ chức dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực tư pháp bên cạnh Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Điều đáng lưu ý là, rà soát quy định về trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý dịch vụ công cho thấy Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, Điều 10 của Nghị định này chỉ quy định về nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ sự nghiệp công. Do đó, cần thiết phải sửa đổi Nghị định số 123/2016/NĐ-CP để bổ sung quy định về quản lý dịch vụ công nói chung của các Bộ, ngành làm cơ sở cho việc xây dựng và ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng Bộ trong bối cảnh đang triển khai chung việc sửa đổi, bổ sung quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành theo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.

ThS. Trần Thu Hường

Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Nội vụ, Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính - ban hành kèm theo Quyết định số 2367/QĐ-BNV ngày 31/12/2013.

[2]. Nguyễn Văn Quang (2010), Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, LH-08-06-ĐHLHN, 2010.

[3]. Trần Thu Hường (2013), Pháp luật XHHDVC trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 8 (25) năm 2013.

[4]. Bộ Tư pháp (2013), Cải cách tư pháp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Chuyên đề phục vụ nghiên cứu tổng kết 30 năm đổi mới của Hội đồng Lý luận Trung ương, Hà Nội.

[5]. PGS.TS. Hà Hùng Cường (2009), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, https://thongtinphapluatdansu.com/2009/02/26/2393/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: