Thứ tư 11/03/2026 09:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc trưng của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và một số kiến nghị

Xã hội hóa mạnh mẽ việc cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở nước ta thể hiện sự thay đổi nhanh chóng trong nhận thức của các cơ quan công quyền, phản ánh mức độ phát triển của xã hội. Quá trình này cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển, đem lại sự thuận lợi cho người dân trong việc thụ hưởng những chính sách công của Nhà nước.

Bài viết dưới đây, tác giả muốn giới thiệu đến bạn đọc hai nội dung chính: (1) Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và (2) Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như: Nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công; tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp...

1. Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam

Cung cấp dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Một cách chung nhất, dịch vụ công được hiểu là “những dịch vụ gắn với lợi ích chung, thiết yếu của đa số nhân dân hay dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước đối với dân chúng”[1] Dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước và hiện nay xã hội hóa dịch vụ công (XHHDVC) đang trở thành một xu hướng phổ biến của các nhà nước trong một thế giới chuyển đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Yêu cầu xã hội hóa cung ứng dịch vụ công là Nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện một số loại dịch vụ công quan trọng và thông qua các cơ chế cụ thể dần chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ công còn lại cho các chủ thể khác đồng thời có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ chất lượng của việc cung ứng các loại dịch vụ công này[2].

Ở Việt Nam, XHHDVC được khởi xướng thực hiện trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Cùng với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thì XHHDVC đã được mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, XHHDVC được nghiên cứu và đẩy mạnh thực hiện cùng với tiến trình cải cách pháp luật, cải cách tư pháp với các nội dung trọng tâm được xác định tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp có những tác động tích cực trong việc cải thiện, nâng cao chất lượng và phát triển ổn định, bền vững các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Thực tiễn cho thấy, lĩnh vực tư pháp là lĩnh vực hoạt động có nhiều đặc thù. Đây là lĩnh vực mà theo quan điểm truyền thống là địa hạt của Nhà nước, gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật, duy trì công lý trong xã hội. Mặc dù, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn có những quan điểm khác nhau về phạm vi, phương thức, cách thức, hình thức... xã hội hóa cũng như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của XHHDVC như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện bằng việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động cung ứng dịch vụ công

Việc huy động này được thực hiện dưới hình thức chuyển giao cho khu vực tư cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp từng phần hoặc toàn bộ tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của các tổ chức, cá nhân[3]. Thông qua việc chuyển giao cung cấp dịch vụ công, Nhà nước đã cho phép hình thành hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ ngoài công lập như văn phòng luật sư, công ty luật, Văn phòng Thừa phát lại, văn phòng công chứng, công ty bán đấu giá tài sản… Cùng với đó, trong một mức độ và giới hạn ở những phạm vi nhất định, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn bao hàm ý nghĩa động viên sự đóng góp nguồn lực cho hoạt động cung cấp dịch vụ công của Nhà nước, trong đó bao gồm hình thức thu phí, qua đó làm giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp. Trong trường hợp này, các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được cung cấp bởi các tổ chức dịch vụ sự nghiệp công lập do Nhà nước thành lập và tổ chức hoạt động như Phòng công chứng, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản, Trung tâm Trợ giúp pháp lý…

Thứ hai, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào quan điểm chính trị, pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ, nhận thức pháp luật của người dân và của mỗi nước trong từng thời kỳ

Quan điểm chính trị, pháp lý là những quan niệm, quan điểm của mỗi Nhà nước về vai trò của Nhà nước, quyền lực nhà nước và về pháp luật với vai trò là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Những quan điểm chính trị, pháp lý này sẽ xác định những lĩnh vực cốt lõi mà Nhà nước phải thực hiện và những lĩnh vực mà Nhà nước có thể xã hội hóa và phạm vi, mức độ xã hội hóa. Cùng với đó, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng miền, từng quốc gia và phụ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể. Điều kiện kinh tế - xã hội phát triển tạo điều kiện cho người dân không chỉ có thể chi trả nhiều hơn cho các dịch vụ mà họ có nhu cầu sử dụng mà còn có khả năng tham gia vào quá trình cung ứng các dịch vụ đó. Do vậy, đối với những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nguồn lực phong phú thì Nhà nước có thể thúc đẩy thực hiện xã hội hóa trên cơ sở phát huy vai trò tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia cung ứng dịch vụ công. Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bằng việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động, có các chính sách ưu đãi khi các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, tại một số lĩnh vực, địa bàn có điều kiện khó khăn, Nhà nước sẽ phải trực tiếp tổ chức bộ máy và nhân lực cung cấp các dịch vụ công để bảo đảm cho người dân được bình đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công. Đồng thời, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào trình độ, nhận thức pháp luật của người dân. Khi trình độ, nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên, người dân không chỉ có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn mà còn có nhu cầu sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và hỗ trợ người khác trong thực hiện pháp luật. Đây chính là môi trường thuận lợi cho việc thực hiện XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bao gồm hoạt động có liên quan trực tiếp đến quá trình xét xử, cung cấp chứng cứ, hỗ trợ, tư vấn cho người tham gia tố tụng hay thực hiện pháp luật và phán quyết của Tòa án, qua đó bảo đảm tính đúng đắn trong các phán quyết của Tòa án cũng như củng cố, xây dựng niềm tin của người dân đối với pháp luật, công bằng, công lý trong xã hội. Do đó, quá trình tổ chức huy động, thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài Nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công được tổ chức chặt chẽ hơn. Các chủ thể phi Nhà nước tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp trên cơ sở kết quả của quá trình xã hội hóa, chuyển giao là phụ thuộc vào năng lực, khả năng của các chủ thể này. Nhà nước có nhu cầu chuyển giao cung ứng dịch vụ công nhưng quá trình này chỉ có thể được thực hiện khi các chủ thể đó có khả năng tiếp nhận. Khả năng này được nhìn nhận ở năng lực nói chung trong việc tham gia vào quá trình quản lý xã hội của các chủ thể phi Nhà nước và cũng đồng thời được nhìn nhận ở các điều kiện chuyên môn, kỹ thuật gắn với đạo đức nghề nghiệp mà các chủ thể phải đáp ứng khi tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cụ thể.

Thứ ba, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp đề cao vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng, tổ chức việc cung ứng dịch vụ công và bảo đảm cho người dân có thể bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công, qua đó, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân

XHHDVC hướng đến việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công thông qua việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của Nhà nước và người dân trong việc cung ứng dịch vụ công. Việc chuyển giao những dịch vụ công các tổ chức ngoài khu vực Nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ công và tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất. Việc xã hội hóa cũng tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy chủ động, tích cực của người dân, nhờ đó, đa dạng hóa và tăng nguồn cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, các dịch vụ công gắn với việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp luật, công bằng và công lý trong xã hội. Khi thực hiện xã hội hóa, Nhà nước chuyển giao một phần hoặc toàn bộ việc cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức, cá nhân, trong đó có những dịch vụ được các tổ chức, cá nhân thực hiện trên cơ sở ủy quyền của Nhà nước như việc xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt giấy tờ, tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án… Bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong những trường hợp này không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân mà còn góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin, tình cảm, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, giảm bớt gánh nặng công việc cho Nhà nước không phải là ưu tiên trong XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Điều quan trọng là phải tạo ra được lợi ích và trách nhiệm được chia sẻ giữa Nhà nước, người cung cấp dịch vụ công và công dân. Do vậy, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước vẫn phải là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung cấp dịch vụ công và chất lượng của các dịch vụ công được cung cấp thông qua việc thiết kế, vận hành hiệu quả cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát việc cung cấp các dịch vụ công của các tổ chức, cá nhân.

Thứ tư, đề cao vai trò của các tổ chức nghề nghiệp trong quản lý và bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp

Trong lĩnh vực tư pháp, hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và việc cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp nói riêng phải bảo đảm tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trong thực hiện quyền tư pháp, đặc biệt là nguyên tắc thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật[4]. Các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ công cũng phải bảo đảm tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, đề cao trách nhiệm cá nhân và đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền tư pháp được thực thi đúng đắn.

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp là các tổ chức được thành lập trên cơ sở tập hợp những tổ chức, cá nhân có cùng mục đích, hành nghề trong cùng lĩnh vực. Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cũng như hỗ trợ cho các thành viên trong hành nghề. Thông qua những nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của mình, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực hành nghề và thực hiện chức năng tự quản, quản lý việc chấp hành pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân trong cung ứng các dịch vụ công. Ví dụ như Luật Luật sư quy định trách nhiệm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc ban hành và bảo đảm thực hiện Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, kiểm tra tập sự hành nghề luật sư. Với đặc thù của các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp, việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp góp phần quan trọng vào việc duy trì và thúc đẩy các giá trị tích cực, tốt đẹp của các thành viên trong hành nghề. Do đó, Nhà nước cũng giao cho các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc quản lý nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ công trên nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nhà nước với tự quản của tổ chức hành nghề, bảo đảm tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải bảo đảm quyền tự do, dân chủ và công lý. Yêu cầu cơ bản của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là hoàn thiện hệ thống pháp luật[5]. Trong quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp, pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự tham gia cung cấp dịch vụ công của các chủ thể trong xã hội và bảo đảm sự tham gia một cách bình đẳng giữa các chủ thể Nhà nước và phi Nhà nước. Yêu cầu đặt ra là pháp luật phải bảo đảm tính ổn định, khả thi, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp và bảo đảm người dân ngày càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công cũng như góp phần đắc lực phục vụ cho quá trình cải cách tư pháp, bảo vệ pháp luật. Pháp luật không phải chỉ thể hiện cam kết của Nhà nước trước xã hội về việc bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức và cá nhân khi tham gia cung cấp dịch vụ công, mà còn là thể hiện cam kết của Nhà nước trước nhân dân về việc cung cấp dịch vụ công có chất lượng gắn với nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, duy trì công bằng, lẽ phải trong xã hội dù trong bối cảnh Nhà nước không tham gia trực tiếp vào việc cung cấp dịch vụ công. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp cần quan tâm đến một số nội dung sau:

Một là, nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công

Thực tiễn cho thấy, các quy định về XHHDVC nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, ở các lĩnh vực và cấp độ văn bản khác nhau. Do đó, việc pháp điển hóa các quy định pháp luật thành một văn bản chung, thống nhất quy định về XHHDVC là một giải pháp khá khó khăn, đòi hỏi phải có bước đi và hình thức phù hợp. Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quá trình XHHDVC đang được triển khai hết sức mạnh mẽ, quyết liệt với nỗ lực của Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành hàng loạt các văn bản, chính sách để thực hiện XHHDVC trong các lĩnh vực nói chung, trong đó có dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất ban hành luật về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp là hết sức cần thiết và sẽ là động lực cho việc thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ công trong giai đoạn tiếp theo. Luật về xã hội hóa dịch vụ công cần bao gồm các quy định có tính nguyên tắc trong XHHDVC, nội dung, phương thức pháp lý cho việc thực hiện XHHDVC, các chính sách, biện pháp khuyến khích, ưu đãi thực hiện XHHDVC. Các quy định này sẽ là cơ sở, định hướng cho việc thực hiện XHHDVC trong từng lĩnh vực cụ thể. Các văn bản pháp luật chuyên ngành cùng với nội dung văn bản quy định những vấn đề chung về XHHDVC sẽ tạo ra hành lang pháp lý để tổ chức hiệu quả việc cung ứng dịch vụ công.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp

Rà soát các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tư pháp cho thấy, các quy định về XHHDVC đã từng bước mở rộng đối tượng, chủ thể được tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn những quy định trong một số lĩnh vực chưa thực sự thu hút được sự tham gia này hoặc có những quy định theo hướng chuyển giao hẳn việc cung cấp dịch vụ công cho xã hội, nên dẫn đến những hạn chế trong hoạt động và tiếp cận với dịch vụ công của người dân. Do vậy, nhiều quy định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện như ban hành nghị định và tiến tới là luật về Thừa phát lại, tăng cường sự tham gia của luật sư trong công tác trợ giúp pháp lý, cho phép hình thành các tổ chức giám định ngoài công lập để thực hiện đối với những lĩnh vực giám định mà xã hội có nhu cầu và năng lực để đảm nhận… Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về hợp đồng như một hình thức cam kết về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong tham gia cung cấp dịch vụ công theo đúng quy định và có chất lượng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp (theo vụ việc), bán đấu giá tài sản (đối với các công ty kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có bán đấu giá tài sản)…

Ba là, rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là trách nhiệm trong việc quy hoạch và phát triển các tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp; nội dung, cách thức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dịch vụ công phù hợp với đặc thù hoạt động tư pháp; có quy định riêng về tổ chức dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực tư pháp bên cạnh Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Điều đáng lưu ý là, rà soát quy định về trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý dịch vụ công cho thấy Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, Điều 10 của Nghị định này chỉ quy định về nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ sự nghiệp công. Do đó, cần thiết phải sửa đổi Nghị định số 123/2016/NĐ-CP để bổ sung quy định về quản lý dịch vụ công nói chung của các Bộ, ngành làm cơ sở cho việc xây dựng và ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng Bộ trong bối cảnh đang triển khai chung việc sửa đổi, bổ sung quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành theo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.

ThS. Trần Thu Hường

Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Nội vụ, Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính - ban hành kèm theo Quyết định số 2367/QĐ-BNV ngày 31/12/2013.

[2]. Nguyễn Văn Quang (2010), Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, LH-08-06-ĐHLHN, 2010.

[3]. Trần Thu Hường (2013), Pháp luật XHHDVC trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 8 (25) năm 2013.

[4]. Bộ Tư pháp (2013), Cải cách tư pháp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Chuyên đề phục vụ nghiên cứu tổng kết 30 năm đổi mới của Hội đồng Lý luận Trung ương, Hà Nội.

[5]. PGS.TS. Hà Hùng Cường (2009), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, https://thongtinphapluatdansu.com/2009/02/26/2393/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.

Theo dõi chúng tôi trên: