Thứ bảy 24/10/2026 14:59
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc trưng của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và một số kiến nghị

Xã hội hóa mạnh mẽ việc cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở nước ta thể hiện sự thay đổi nhanh chóng trong nhận thức của các cơ quan công quyền, phản ánh mức độ phát triển của xã hội. Quá trình này cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển, đem lại sự thuận lợi cho người dân trong việc thụ hưởng những chính sách công của Nhà nước.

Bài viết dưới đây, tác giả muốn giới thiệu đến bạn đọc hai nội dung chính: (1) Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và (2) Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như: Nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công; tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp...

1. Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam

Cung cấp dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Một cách chung nhất, dịch vụ công được hiểu là “những dịch vụ gắn với lợi ích chung, thiết yếu của đa số nhân dân hay dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước đối với dân chúng”[1] Dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước và hiện nay xã hội hóa dịch vụ công (XHHDVC) đang trở thành một xu hướng phổ biến của các nhà nước trong một thế giới chuyển đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Yêu cầu xã hội hóa cung ứng dịch vụ công là Nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện một số loại dịch vụ công quan trọng và thông qua các cơ chế cụ thể dần chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ công còn lại cho các chủ thể khác đồng thời có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ chất lượng của việc cung ứng các loại dịch vụ công này[2].

Ở Việt Nam, XHHDVC được khởi xướng thực hiện trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Cùng với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thì XHHDVC đã được mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, XHHDVC được nghiên cứu và đẩy mạnh thực hiện cùng với tiến trình cải cách pháp luật, cải cách tư pháp với các nội dung trọng tâm được xác định tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp có những tác động tích cực trong việc cải thiện, nâng cao chất lượng và phát triển ổn định, bền vững các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Thực tiễn cho thấy, lĩnh vực tư pháp là lĩnh vực hoạt động có nhiều đặc thù. Đây là lĩnh vực mà theo quan điểm truyền thống là địa hạt của Nhà nước, gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật, duy trì công lý trong xã hội. Mặc dù, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn có những quan điểm khác nhau về phạm vi, phương thức, cách thức, hình thức... xã hội hóa cũng như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của XHHDVC như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện bằng việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động cung ứng dịch vụ công

Việc huy động này được thực hiện dưới hình thức chuyển giao cho khu vực tư cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp từng phần hoặc toàn bộ tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của các tổ chức, cá nhân[3]. Thông qua việc chuyển giao cung cấp dịch vụ công, Nhà nước đã cho phép hình thành hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ ngoài công lập như văn phòng luật sư, công ty luật, Văn phòng Thừa phát lại, văn phòng công chứng, công ty bán đấu giá tài sản… Cùng với đó, trong một mức độ và giới hạn ở những phạm vi nhất định, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn bao hàm ý nghĩa động viên sự đóng góp nguồn lực cho hoạt động cung cấp dịch vụ công của Nhà nước, trong đó bao gồm hình thức thu phí, qua đó làm giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp. Trong trường hợp này, các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được cung cấp bởi các tổ chức dịch vụ sự nghiệp công lập do Nhà nước thành lập và tổ chức hoạt động như Phòng công chứng, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản, Trung tâm Trợ giúp pháp lý…

Thứ hai, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào quan điểm chính trị, pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ, nhận thức pháp luật của người dân và của mỗi nước trong từng thời kỳ

Quan điểm chính trị, pháp lý là những quan niệm, quan điểm của mỗi Nhà nước về vai trò của Nhà nước, quyền lực nhà nước và về pháp luật với vai trò là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Những quan điểm chính trị, pháp lý này sẽ xác định những lĩnh vực cốt lõi mà Nhà nước phải thực hiện và những lĩnh vực mà Nhà nước có thể xã hội hóa và phạm vi, mức độ xã hội hóa. Cùng với đó, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng miền, từng quốc gia và phụ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể. Điều kiện kinh tế - xã hội phát triển tạo điều kiện cho người dân không chỉ có thể chi trả nhiều hơn cho các dịch vụ mà họ có nhu cầu sử dụng mà còn có khả năng tham gia vào quá trình cung ứng các dịch vụ đó. Do vậy, đối với những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nguồn lực phong phú thì Nhà nước có thể thúc đẩy thực hiện xã hội hóa trên cơ sở phát huy vai trò tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia cung ứng dịch vụ công. Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bằng việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động, có các chính sách ưu đãi khi các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, tại một số lĩnh vực, địa bàn có điều kiện khó khăn, Nhà nước sẽ phải trực tiếp tổ chức bộ máy và nhân lực cung cấp các dịch vụ công để bảo đảm cho người dân được bình đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công. Đồng thời, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào trình độ, nhận thức pháp luật của người dân. Khi trình độ, nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên, người dân không chỉ có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn mà còn có nhu cầu sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và hỗ trợ người khác trong thực hiện pháp luật. Đây chính là môi trường thuận lợi cho việc thực hiện XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bao gồm hoạt động có liên quan trực tiếp đến quá trình xét xử, cung cấp chứng cứ, hỗ trợ, tư vấn cho người tham gia tố tụng hay thực hiện pháp luật và phán quyết của Tòa án, qua đó bảo đảm tính đúng đắn trong các phán quyết của Tòa án cũng như củng cố, xây dựng niềm tin của người dân đối với pháp luật, công bằng, công lý trong xã hội. Do đó, quá trình tổ chức huy động, thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài Nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công được tổ chức chặt chẽ hơn. Các chủ thể phi Nhà nước tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp trên cơ sở kết quả của quá trình xã hội hóa, chuyển giao là phụ thuộc vào năng lực, khả năng của các chủ thể này. Nhà nước có nhu cầu chuyển giao cung ứng dịch vụ công nhưng quá trình này chỉ có thể được thực hiện khi các chủ thể đó có khả năng tiếp nhận. Khả năng này được nhìn nhận ở năng lực nói chung trong việc tham gia vào quá trình quản lý xã hội của các chủ thể phi Nhà nước và cũng đồng thời được nhìn nhận ở các điều kiện chuyên môn, kỹ thuật gắn với đạo đức nghề nghiệp mà các chủ thể phải đáp ứng khi tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cụ thể.

Thứ ba, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp đề cao vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng, tổ chức việc cung ứng dịch vụ công và bảo đảm cho người dân có thể bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công, qua đó, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân

XHHDVC hướng đến việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công thông qua việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của Nhà nước và người dân trong việc cung ứng dịch vụ công. Việc chuyển giao những dịch vụ công các tổ chức ngoài khu vực Nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ công và tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất. Việc xã hội hóa cũng tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy chủ động, tích cực của người dân, nhờ đó, đa dạng hóa và tăng nguồn cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, các dịch vụ công gắn với việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp luật, công bằng và công lý trong xã hội. Khi thực hiện xã hội hóa, Nhà nước chuyển giao một phần hoặc toàn bộ việc cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức, cá nhân, trong đó có những dịch vụ được các tổ chức, cá nhân thực hiện trên cơ sở ủy quyền của Nhà nước như việc xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt giấy tờ, tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án… Bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong những trường hợp này không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân mà còn góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin, tình cảm, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, giảm bớt gánh nặng công việc cho Nhà nước không phải là ưu tiên trong XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Điều quan trọng là phải tạo ra được lợi ích và trách nhiệm được chia sẻ giữa Nhà nước, người cung cấp dịch vụ công và công dân. Do vậy, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước vẫn phải là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung cấp dịch vụ công và chất lượng của các dịch vụ công được cung cấp thông qua việc thiết kế, vận hành hiệu quả cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát việc cung cấp các dịch vụ công của các tổ chức, cá nhân.

Thứ tư, đề cao vai trò của các tổ chức nghề nghiệp trong quản lý và bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp

Trong lĩnh vực tư pháp, hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và việc cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp nói riêng phải bảo đảm tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trong thực hiện quyền tư pháp, đặc biệt là nguyên tắc thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật[4]. Các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ công cũng phải bảo đảm tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, đề cao trách nhiệm cá nhân và đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền tư pháp được thực thi đúng đắn.

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp là các tổ chức được thành lập trên cơ sở tập hợp những tổ chức, cá nhân có cùng mục đích, hành nghề trong cùng lĩnh vực. Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cũng như hỗ trợ cho các thành viên trong hành nghề. Thông qua những nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của mình, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực hành nghề và thực hiện chức năng tự quản, quản lý việc chấp hành pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân trong cung ứng các dịch vụ công. Ví dụ như Luật Luật sư quy định trách nhiệm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc ban hành và bảo đảm thực hiện Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, kiểm tra tập sự hành nghề luật sư. Với đặc thù của các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp, việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp góp phần quan trọng vào việc duy trì và thúc đẩy các giá trị tích cực, tốt đẹp của các thành viên trong hành nghề. Do đó, Nhà nước cũng giao cho các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc quản lý nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ công trên nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nhà nước với tự quản của tổ chức hành nghề, bảo đảm tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải bảo đảm quyền tự do, dân chủ và công lý. Yêu cầu cơ bản của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là hoàn thiện hệ thống pháp luật[5]. Trong quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp, pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự tham gia cung cấp dịch vụ công của các chủ thể trong xã hội và bảo đảm sự tham gia một cách bình đẳng giữa các chủ thể Nhà nước và phi Nhà nước. Yêu cầu đặt ra là pháp luật phải bảo đảm tính ổn định, khả thi, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp và bảo đảm người dân ngày càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công cũng như góp phần đắc lực phục vụ cho quá trình cải cách tư pháp, bảo vệ pháp luật. Pháp luật không phải chỉ thể hiện cam kết của Nhà nước trước xã hội về việc bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức và cá nhân khi tham gia cung cấp dịch vụ công, mà còn là thể hiện cam kết của Nhà nước trước nhân dân về việc cung cấp dịch vụ công có chất lượng gắn với nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, duy trì công bằng, lẽ phải trong xã hội dù trong bối cảnh Nhà nước không tham gia trực tiếp vào việc cung cấp dịch vụ công. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp cần quan tâm đến một số nội dung sau:

Một là, nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công

Thực tiễn cho thấy, các quy định về XHHDVC nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, ở các lĩnh vực và cấp độ văn bản khác nhau. Do đó, việc pháp điển hóa các quy định pháp luật thành một văn bản chung, thống nhất quy định về XHHDVC là một giải pháp khá khó khăn, đòi hỏi phải có bước đi và hình thức phù hợp. Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quá trình XHHDVC đang được triển khai hết sức mạnh mẽ, quyết liệt với nỗ lực của Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành hàng loạt các văn bản, chính sách để thực hiện XHHDVC trong các lĩnh vực nói chung, trong đó có dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất ban hành luật về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp là hết sức cần thiết và sẽ là động lực cho việc thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ công trong giai đoạn tiếp theo. Luật về xã hội hóa dịch vụ công cần bao gồm các quy định có tính nguyên tắc trong XHHDVC, nội dung, phương thức pháp lý cho việc thực hiện XHHDVC, các chính sách, biện pháp khuyến khích, ưu đãi thực hiện XHHDVC. Các quy định này sẽ là cơ sở, định hướng cho việc thực hiện XHHDVC trong từng lĩnh vực cụ thể. Các văn bản pháp luật chuyên ngành cùng với nội dung văn bản quy định những vấn đề chung về XHHDVC sẽ tạo ra hành lang pháp lý để tổ chức hiệu quả việc cung ứng dịch vụ công.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp

Rà soát các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tư pháp cho thấy, các quy định về XHHDVC đã từng bước mở rộng đối tượng, chủ thể được tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn những quy định trong một số lĩnh vực chưa thực sự thu hút được sự tham gia này hoặc có những quy định theo hướng chuyển giao hẳn việc cung cấp dịch vụ công cho xã hội, nên dẫn đến những hạn chế trong hoạt động và tiếp cận với dịch vụ công của người dân. Do vậy, nhiều quy định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện như ban hành nghị định và tiến tới là luật về Thừa phát lại, tăng cường sự tham gia của luật sư trong công tác trợ giúp pháp lý, cho phép hình thành các tổ chức giám định ngoài công lập để thực hiện đối với những lĩnh vực giám định mà xã hội có nhu cầu và năng lực để đảm nhận… Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về hợp đồng như một hình thức cam kết về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong tham gia cung cấp dịch vụ công theo đúng quy định và có chất lượng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp (theo vụ việc), bán đấu giá tài sản (đối với các công ty kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có bán đấu giá tài sản)…

Ba là, rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là trách nhiệm trong việc quy hoạch và phát triển các tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp; nội dung, cách thức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dịch vụ công phù hợp với đặc thù hoạt động tư pháp; có quy định riêng về tổ chức dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực tư pháp bên cạnh Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Điều đáng lưu ý là, rà soát quy định về trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý dịch vụ công cho thấy Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, Điều 10 của Nghị định này chỉ quy định về nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ sự nghiệp công. Do đó, cần thiết phải sửa đổi Nghị định số 123/2016/NĐ-CP để bổ sung quy định về quản lý dịch vụ công nói chung của các Bộ, ngành làm cơ sở cho việc xây dựng và ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng Bộ trong bối cảnh đang triển khai chung việc sửa đổi, bổ sung quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành theo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.

ThS. Trần Thu Hường

Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Nội vụ, Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính - ban hành kèm theo Quyết định số 2367/QĐ-BNV ngày 31/12/2013.

[2]. Nguyễn Văn Quang (2010), Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, LH-08-06-ĐHLHN, 2010.

[3]. Trần Thu Hường (2013), Pháp luật XHHDVC trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 8 (25) năm 2013.

[4]. Bộ Tư pháp (2013), Cải cách tư pháp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Chuyên đề phục vụ nghiên cứu tổng kết 30 năm đổi mới của Hội đồng Lý luận Trung ương, Hà Nội.

[5]. PGS.TS. Hà Hùng Cường (2009), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, https://thongtinphapluatdansu.com/2009/02/26/2393/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: