Thứ sáu 16/01/2026 10:08
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đặc trưng của xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và một số kiến nghị

Xã hội hóa mạnh mẽ việc cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở nước ta thể hiện sự thay đổi nhanh chóng trong nhận thức của các cơ quan công quyền, phản ánh mức độ phát triển của xã hội. Quá trình này cũng tạo ra môi trường cạnh tranh, thúc đẩy xã hội phát triển, đem lại sự thuận lợi cho người dân trong việc thụ hưởng những chính sách công của Nhà nước.

Bài viết dưới đây, tác giả muốn giới thiệu đến bạn đọc hai nội dung chính: (1) Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam và (2) Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật như: Nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công; tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp; rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp...

1. Đặc trưng xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp ở Việt Nam

Cung cấp dịch vụ công là một trong những nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước. Một cách chung nhất, dịch vụ công được hiểu là “những dịch vụ gắn với lợi ích chung, thiết yếu của đa số nhân dân hay dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước đối với dân chúng”[1] Dịch vụ công gắn với trách nhiệm của Nhà nước và hiện nay xã hội hóa dịch vụ công (XHHDVC) đang trở thành một xu hướng phổ biến của các nhà nước trong một thế giới chuyển đổi nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội. Yêu cầu xã hội hóa cung ứng dịch vụ công là Nhà nước chỉ trực tiếp thực hiện một số loại dịch vụ công quan trọng và thông qua các cơ chế cụ thể dần chuyển giao việc cung ứng các dịch vụ công còn lại cho các chủ thể khác đồng thời có trách nhiệm kiểm soát chặt chẽ chất lượng của việc cung ứng các loại dịch vụ công này[2].

Ở Việt Nam, XHHDVC được khởi xướng thực hiện trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Cùng với quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, thì XHHDVC đã được mở rộng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, XHHDVC được nghiên cứu và đẩy mạnh thực hiện cùng với tiến trình cải cách pháp luật, cải cách tư pháp với các nội dung trọng tâm được xác định tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2006 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp có những tác động tích cực trong việc cải thiện, nâng cao chất lượng và phát triển ổn định, bền vững các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân. Thực tiễn cho thấy, lĩnh vực tư pháp là lĩnh vực hoạt động có nhiều đặc thù. Đây là lĩnh vực mà theo quan điểm truyền thống là địa hạt của Nhà nước, gắn với việc thực hiện quyền lực nhà nước, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật, duy trì công lý trong xã hội. Mặc dù, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn có những quan điểm khác nhau về phạm vi, phương thức, cách thức, hình thức... xã hội hóa cũng như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước nhưng có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của XHHDVC như sau:

Thứ nhất, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được thực hiện bằng việc huy động, tổ chức sự tham gia rộng rãi, chủ động của các tổ chức, cá nhân vào hoạt động cung ứng dịch vụ công

Việc huy động này được thực hiện dưới hình thức chuyển giao cho khu vực tư cung ứng các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp từng phần hoặc toàn bộ tùy thuộc vào điều kiện và năng lực của các tổ chức, cá nhân[3]. Thông qua việc chuyển giao cung cấp dịch vụ công, Nhà nước đã cho phép hình thành hệ thống các tổ chức cung cấp dịch vụ ngoài công lập như văn phòng luật sư, công ty luật, Văn phòng Thừa phát lại, văn phòng công chứng, công ty bán đấu giá tài sản… Cùng với đó, trong một mức độ và giới hạn ở những phạm vi nhất định, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp còn bao hàm ý nghĩa động viên sự đóng góp nguồn lực cho hoạt động cung cấp dịch vụ công của Nhà nước, trong đó bao gồm hình thức thu phí, qua đó làm giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước trong điều kiện ngân sách còn hạn hẹp. Trong trường hợp này, các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp được cung cấp bởi các tổ chức dịch vụ sự nghiệp công lập do Nhà nước thành lập và tổ chức hoạt động như Phòng công chứng, Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản, Trung tâm Trợ giúp pháp lý…

Thứ hai, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào quan điểm chính trị, pháp lý, điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ, nhận thức pháp luật của người dân và của mỗi nước trong từng thời kỳ

Quan điểm chính trị, pháp lý là những quan niệm, quan điểm của mỗi Nhà nước về vai trò của Nhà nước, quyền lực nhà nước và về pháp luật với vai trò là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội. Những quan điểm chính trị, pháp lý này sẽ xác định những lĩnh vực cốt lõi mà Nhà nước phải thực hiện và những lĩnh vực mà Nhà nước có thể xã hội hóa và phạm vi, mức độ xã hội hóa. Cùng với đó, XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng miền, từng quốc gia và phụ thuộc vào từng lĩnh vực cụ thể. Điều kiện kinh tế - xã hội phát triển tạo điều kiện cho người dân không chỉ có thể chi trả nhiều hơn cho các dịch vụ mà họ có nhu cầu sử dụng mà còn có khả năng tham gia vào quá trình cung ứng các dịch vụ đó. Do vậy, đối với những nơi có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển, nguồn lực phong phú thì Nhà nước có thể thúc đẩy thực hiện xã hội hóa trên cơ sở phát huy vai trò tích cực, chủ động của người dân trong việc tham gia cung ứng dịch vụ công. Nhà nước sẽ có chính sách hỗ trợ nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bằng việc hỗ trợ tài chính cho hoạt động, có các chính sách ưu đãi khi các tổ chức, cá nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Tuy nhiên, tại một số lĩnh vực, địa bàn có điều kiện khó khăn, Nhà nước sẽ phải trực tiếp tổ chức bộ máy và nhân lực cung cấp các dịch vụ công để bảo đảm cho người dân được bình đẳng trong tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công. Đồng thời, quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp phụ thuộc vào trình độ, nhận thức pháp luật của người dân. Khi trình độ, nhận thức pháp luật của người dân được nâng lên, người dân không chỉ có ý thức tuân thủ pháp luật tốt hơn mà còn có nhu cầu sử dụng pháp luật trong việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình và hỗ trợ người khác trong thực hiện pháp luật. Đây chính là môi trường thuận lợi cho việc thực hiện XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Tuy nhiên, dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp bao gồm hoạt động có liên quan trực tiếp đến quá trình xét xử, cung cấp chứng cứ, hỗ trợ, tư vấn cho người tham gia tố tụng hay thực hiện pháp luật và phán quyết của Tòa án, qua đó bảo đảm tính đúng đắn trong các phán quyết của Tòa án cũng như củng cố, xây dựng niềm tin của người dân đối với pháp luật, công bằng, công lý trong xã hội. Do đó, quá trình tổ chức huy động, thu hút sự tham gia của các tổ chức, cá nhân ở khu vực ngoài Nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công được tổ chức chặt chẽ hơn. Các chủ thể phi Nhà nước tham gia vào cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp trên cơ sở kết quả của quá trình xã hội hóa, chuyển giao là phụ thuộc vào năng lực, khả năng của các chủ thể này. Nhà nước có nhu cầu chuyển giao cung ứng dịch vụ công nhưng quá trình này chỉ có thể được thực hiện khi các chủ thể đó có khả năng tiếp nhận. Khả năng này được nhìn nhận ở năng lực nói chung trong việc tham gia vào quá trình quản lý xã hội của các chủ thể phi Nhà nước và cũng đồng thời được nhìn nhận ở các điều kiện chuyên môn, kỹ thuật gắn với đạo đức nghề nghiệp mà các chủ thể phải đáp ứng khi tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công cụ thể.

Thứ ba, xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp đề cao vai trò của Nhà nước trong việc cung ứng, tổ chức việc cung ứng dịch vụ công và bảo đảm cho người dân có thể bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ công, qua đó, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của công dân

XHHDVC hướng đến việc nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ công thông qua việc xây dựng cộng đồng trách nhiệm của Nhà nước và người dân trong việc cung ứng dịch vụ công. Việc chuyển giao những dịch vụ công các tổ chức ngoài khu vực Nhà nước sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các tổ chức cung ứng dịch vụ công và tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ tốt nhất. Việc xã hội hóa cũng tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào hoạt động này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội, khơi dậy chủ động, tích cực của người dân, nhờ đó, đa dạng hóa và tăng nguồn cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Trong lĩnh vực tư pháp, các dịch vụ công gắn với việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích chính đáng của công dân, bảo vệ pháp luật, công bằng và công lý trong xã hội. Khi thực hiện xã hội hóa, Nhà nước chuyển giao một phần hoặc toàn bộ việc cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức, cá nhân, trong đó có những dịch vụ được các tổ chức, cá nhân thực hiện trên cơ sở ủy quyền của Nhà nước như việc xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch; xác minh điều kiện thi hành án, tống đạt giấy tờ, tổ chức thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án… Bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong những trường hợp này không chỉ phục vụ cho nhu cầu của người dân mà còn góp phần quan trọng vào việc củng cố niềm tin, tình cảm, nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, giảm bớt gánh nặng công việc cho Nhà nước không phải là ưu tiên trong XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp. Điều quan trọng là phải tạo ra được lợi ích và trách nhiệm được chia sẻ giữa Nhà nước, người cung cấp dịch vụ công và công dân. Do vậy, hoạt động cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp dù được tiến hành dưới hình thức nào thì Nhà nước vẫn phải là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc bảo đảm cung cấp dịch vụ công và chất lượng của các dịch vụ công được cung cấp thông qua việc thiết kế, vận hành hiệu quả cơ chế kiểm tra, đánh giá, giám sát việc cung cấp các dịch vụ công của các tổ chức, cá nhân.

Thứ tư, đề cao vai trò của các tổ chức nghề nghiệp trong quản lý và bảo đảm chất lượng cung ứng các dịch vụ công trong quá trình xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp

Trong lĩnh vực tư pháp, hoạt động của các cơ quan tư pháp nói chung và việc cung cấp các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp nói riêng phải bảo đảm tuân thủ theo những nguyên tắc cơ bản trong thực hiện quyền tư pháp, đặc biệt là nguyên tắc thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật[4]. Các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ công cũng phải bảo đảm tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật, đề cao trách nhiệm cá nhân và đạo đức nghề nghiệp để bảo đảm quyền tư pháp được thực thi đúng đắn.

Các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp là các tổ chức được thành lập trên cơ sở tập hợp những tổ chức, cá nhân có cùng mục đích, hành nghề trong cùng lĩnh vực. Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng cũng như hỗ trợ cho các thành viên trong hành nghề. Thông qua những nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của mình, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực hành nghề và thực hiện chức năng tự quản, quản lý việc chấp hành pháp luật, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân trong cung ứng các dịch vụ công. Ví dụ như Luật Luật sư quy định trách nhiệm của Liên đoàn Luật sư Việt Nam trong việc ban hành và bảo đảm thực hiện Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư, kiểm tra tập sự hành nghề luật sư. Với đặc thù của các dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp, việc phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp góp phần quan trọng vào việc duy trì và thúc đẩy các giá trị tích cực, tốt đẹp của các thành viên trong hành nghề. Do đó, Nhà nước cũng giao cho các tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong việc quản lý nhà nước đối với việc cung ứng dịch vụ công trên nguyên tắc kết hợp giữa quản lý nhà nước với tự quản của tổ chức hành nghề, bảo đảm tuân thủ pháp luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của các tổ chức, cá nhân.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Pháp luật là nền tảng của Nhà nước pháp quyền và pháp luật trong Nhà nước pháp quyền phải bảo đảm quyền tự do, dân chủ và công lý. Yêu cầu cơ bản của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là hoàn thiện hệ thống pháp luật[5]. Trong quá trình XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp, pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự tham gia cung cấp dịch vụ công của các chủ thể trong xã hội và bảo đảm sự tham gia một cách bình đẳng giữa các chủ thể Nhà nước và phi Nhà nước. Yêu cầu đặt ra là pháp luật phải bảo đảm tính ổn định, khả thi, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp và bảo đảm người dân ngày càng dễ dàng hơn trong việc tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ công cũng như góp phần đắc lực phục vụ cho quá trình cải cách tư pháp, bảo vệ pháp luật. Pháp luật không phải chỉ thể hiện cam kết của Nhà nước trước xã hội về việc bảo đảm quyền và lợi ích của các tổ chức và cá nhân khi tham gia cung cấp dịch vụ công, mà còn là thể hiện cam kết của Nhà nước trước nhân dân về việc cung cấp dịch vụ công có chất lượng gắn với nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, duy trì công bằng, lẽ phải trong xã hội dù trong bối cảnh Nhà nước không tham gia trực tiếp vào việc cung cấp dịch vụ công. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về XHHDVC trong lĩnh vực tư pháp cần quan tâm đến một số nội dung sau:

Một là, nghiên cứu để xây dựng luật về xã hội hóa dịch vụ công

Thực tiễn cho thấy, các quy định về XHHDVC nằm trong các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, ở các lĩnh vực và cấp độ văn bản khác nhau. Do đó, việc pháp điển hóa các quy định pháp luật thành một văn bản chung, thống nhất quy định về XHHDVC là một giải pháp khá khó khăn, đòi hỏi phải có bước đi và hình thức phù hợp. Tuy nhiên, trong bối cảnh đẩy mạnh hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thì quá trình XHHDVC đang được triển khai hết sức mạnh mẽ, quyết liệt với nỗ lực của Chính phủ trong việc xây dựng và ban hành hàng loạt các văn bản, chính sách để thực hiện XHHDVC trong các lĩnh vực nói chung, trong đó có dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp. Vì vậy, việc nghiên cứu, đề xuất ban hành luật về xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp là hết sức cần thiết và sẽ là động lực cho việc thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ công trong giai đoạn tiếp theo. Luật về xã hội hóa dịch vụ công cần bao gồm các quy định có tính nguyên tắc trong XHHDVC, nội dung, phương thức pháp lý cho việc thực hiện XHHDVC, các chính sách, biện pháp khuyến khích, ưu đãi thực hiện XHHDVC. Các quy định này sẽ là cơ sở, định hướng cho việc thực hiện XHHDVC trong từng lĩnh vực cụ thể. Các văn bản pháp luật chuyên ngành cùng với nội dung văn bản quy định những vấn đề chung về XHHDVC sẽ tạo ra hành lang pháp lý để tổ chức hiệu quả việc cung ứng dịch vụ công.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện các quy định về nội dung, hình thức xã hội hóa dịch vụ công phù hợp với từng lĩnh vực hoạt động tư pháp

Rà soát các văn bản pháp luật trong lĩnh vực tư pháp cho thấy, các quy định về XHHDVC đã từng bước mở rộng đối tượng, chủ thể được tham gia vào việc cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, vẫn còn những quy định trong một số lĩnh vực chưa thực sự thu hút được sự tham gia này hoặc có những quy định theo hướng chuyển giao hẳn việc cung cấp dịch vụ công cho xã hội, nên dẫn đến những hạn chế trong hoạt động và tiếp cận với dịch vụ công của người dân. Do vậy, nhiều quy định vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện như ban hành nghị định và tiến tới là luật về Thừa phát lại, tăng cường sự tham gia của luật sư trong công tác trợ giúp pháp lý, cho phép hình thành các tổ chức giám định ngoài công lập để thực hiện đối với những lĩnh vực giám định mà xã hội có nhu cầu và năng lực để đảm nhận… Bên cạnh đó, cũng cần nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về hợp đồng như một hình thức cam kết về trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong tham gia cung cấp dịch vụ công theo đúng quy định và có chất lượng trong lĩnh vực trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp (theo vụ việc), bán đấu giá tài sản (đối với các công ty kinh doanh nhiều ngành nghề, trong đó có bán đấu giá tài sản)…

Ba là, rà soát, sửa đổi hoặc quy định cụ thể hơn về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với xã hội hóa dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp, đặc biệt là trách nhiệm trong việc quy hoạch và phát triển các tổ chức hành nghề cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực tư pháp; nội dung, cách thức thanh tra, kiểm tra việc thực hiện dịch vụ công phù hợp với đặc thù hoạt động tư pháp; có quy định riêng về tổ chức dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực tư pháp bên cạnh Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Điều đáng lưu ý là, rà soát quy định về trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong quản lý dịch vụ công cho thấy Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ về quản lý nhà nước đối với dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, Điều 10 của Nghị định này chỉ quy định về nội dung quản lý nhà nước về dịch vụ sự nghiệp công. Do đó, cần thiết phải sửa đổi Nghị định số 123/2016/NĐ-CP để bổ sung quy định về quản lý dịch vụ công nói chung của các Bộ, ngành làm cơ sở cho việc xây dựng và ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng Bộ trong bối cảnh đang triển khai chung việc sửa đổi, bổ sung quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, ngành theo nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV.

ThS. Trần Thu Hường

Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp

Tài liệu tham khảo:

[1]. Bộ Nội vụ, Tài liệu bồi dưỡng ngạch chuyên viên chính - ban hành kèm theo Quyết định số 2367/QĐ-BNV ngày 31/12/2013.

[2]. Nguyễn Văn Quang (2010), Hoàn thiện pháp luật về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam, Đề tài khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội, LH-08-06-ĐHLHN, 2010.

[3]. Trần Thu Hường (2013), Pháp luật XHHDVC trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 8 (25) năm 2013.

[4]. Bộ Tư pháp (2013), Cải cách tư pháp - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Chuyên đề phục vụ nghiên cứu tổng kết 30 năm đổi mới của Hội đồng Lý luận Trung ương, Hà Nội.

[5]. PGS.TS. Hà Hùng Cường (2009), Hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, https://thongtinphapluatdansu.com/2009/02/26/2393/.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: