Thứ sáu 16/01/2026 22:02
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đảm bảo quyền bào chữa cho đối tượng trợ giúp pháp lý là người bị buộc tội dưới 18 tuổi cho đến khi kết thúc vụ án

Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi - người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về nhận thức và hành vi của mình, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, toàn diện, không làm oan người vô tội, đồng thời, để thực hiện chính sách trợ giúp pháp lý (TGPL) miễn phí theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015), thì Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định người bị buộc tội dưới 18 tuổi là đối tượng được hưởng chính sách TGPL và được trung tâm TGPL cử trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư tham gia bào chữa miễn phí trong quá trình giải quyết vụ án hình sự (từ giai đoạn điều tra cho đến khi kết thúc vụ án).

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện TGPL cho các đối tượng nói trên, người thực hiện TGPL đã gặp phải một số vụ án mà cách hiểu và áp dụng quy định của pháp luật về việc xác định đối tượng được tiếp tục hưởng chính sách TGPL khi đã quá 18 tuổi của các cơ quan tố tụng là khác nhau, dẫn đến trường hợp nhiều đối tượng là người bị buộc tội dưới 18 không được tiếp tục có người bào chữa trong các giai đoạn tố tụng cho đến khi kết thúc vụ án hình sự.

Theo đó, một số Tòa án khi thụ lý vụ án, chỉ cần có bị can, bị cáo là người bị buộc tội dưới 18 tuổi đã có trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư đủ điều kiện tham gia bào chữa và đã được cấp giấy đăng ký tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra thì đương nhiên được tham gia bào chữa cho đối tượng đến khi kết thúc vụ án, kể cả khi đối tượng đã trên 18 tuổi tại thời điểm mở phiên tòa. Trong khi đó, một số Tòa án thì lại căn cứ vào Điều 76 BLTTHS năm 2015 quy định về các trường hợp phải chỉ định người bào chữa cho rằng, khi đối tượng này trên 18 tuổi tại thời điểm mở phiên tòa thì đủ tư cách tham gia tố tụng độc lập nên không cần có người bào chữa, người đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nữa, do đó, các cơ quan tố tụng ở một số địa phương đã từ chối tư cách tham gia tố tụng của người bào chữa là trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư do trung tâm TGPL cử tại phiên tòa, dẫn đến việc không đảm bảo quyền được bào chữa cho các đối tượng này cho đến khi kết thúc vụ án.

Trên cơ sở cụ thể hóa nguyên tắc quy định tại Điều 16 và Điều 414 BLTTHS năm 2015 quy định về bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội dưới 18 tuổi như sau: “Người dưới 18 tuổi có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người dưới 18 tuổi, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này. Bảo đảm quyền bào chữa, quyền được TGPL của người dưới 18 tuổi”. Điều 422 BLTTHS năm 2015 cũng quy định: “Trường hợp người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi không có người bào chữa hoặc người đại diện của họ không lựa chọn người bào chữa thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án phải chỉ định người bào chữa theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật này” và tại Điều 76 BLTTHS năm 2015, Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 quy định: “Cơ quan tiến hành tố tụng phải yêu cầu hoặc đề nghị trung tâm TGPL nhà nước cử trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho người thuộc diện được TGPL là người bị buộc tội dưới 18 tuổi”. Như vậy, pháp luật về tố tụng hình sự và pháp luật về TGPL đã quy định rất rõ quyền được bào chữa, quyền được TGPL miễn phí của người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi - là đối tượng chưa phát triển đầy đủ về nhận thức và hành vi, đồng thời, thể hiện bản chất nhân đạo, bảo vệ người yếu thế của Đảng và Nhà nước ta.

Để dự liệu trường hợp này và bảo đảm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho đối tượng được TGPL, tại khoản 3 Điều 37 của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã quy định: “Trường hợp vụ việc TGPL đang được thực hiện mà người được TGPL không còn là đối tượng được hưởng chính sách TGPL thì vụ việc được tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc” và tại khoản 1 Điều 10 Thông tư số 12/2018/TT-BTP ngày 28/8/2018 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ trợ giúp pháp lý và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý đã quy định về vụ việc TGPL kết thúc như sau: “Vụ việc TGPL kết thúc khi thực hiện xong yêu cầu hợp pháp của người được TGPL theo hình thức TGPL thể hiện trong đơn yêu cầu TGPL”. Như vậy, trong thực tế, tại các đơn yêu cầu TGPL của người bị buộc tội dưới 18 tuổi thì hầu hết các đối tượng này đều đề nghị Trung tâm TGPL cử người bào chữa mình cho đến khi kết thúc vụ án và căn cứ vào đơn yêu cầu trung tâm TGPL cũng đã ban hành quyết định cử người bào chữa từ giai đoạn điều tra cho đến khi kết thúc vụ án, tuy nhiên, quan điểm này vẫn không được một số tòa án chấp nhận.

Thiết nghĩ, trong trường này, pháp luật về TGPL đã có dự liệu và cho phép kéo dài quyền được hưởng chính sách TGPL đối với các vụ việc TGPL phải giải quyết trong thời gian dài khi mà chưa kết thúc vụ việc thì đối tượng không còn được hưởng chính sách TGPL miễn phí nữa nhằm bảo đảm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp tốt nhất cho đối tượng TGPL, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật TGPL và khi người được TGPL đã có đơn yêu cầu được bào chữa cho đến khi kết thúc vụ án thì cũng có thể hiểu họ đương nhiên được Nhà nước “cử người bào chữa miễn phí thay vì phải thuê người bào chữa khi không còn được TGPL miễn phí nữa mặc dù có nhu cầu” vì theo quy định của pháp luật về dân sự họ vẫn có quyền thuê người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên tòa khi không còn được Nhà nước miễn phí và Tòa án phải chấp nhận tư cách tham gia bào chữa của luật sư khi người đã quá 18 tuổi thuê người bào chữa.

Do đó, để áp dụng pháp luật thống nhất, tại các phiên tòa có người bị buộc tội quá 18 tuổi song đã có trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, tòa án không viện dẫn áp dụng quy định tại Điều 76 BLTTHS năm 2015 về các trường hợp phải chỉ định người bào chữa để xác định tư cách tham gia tố tụng của trợ giúp viên pháp lý hoặc luật sư mà áp dụng quy định của Luật Trợ giúp pháp lý để xác định tư cách tham gia bào chữa của trợ giúp viên hoặc luật sư do trung tâm TGPL cử cho người bị buộc tội dưới 18 tuổi tại phiên tòa. Đồng thời, Tòa án nhân dân tối cao cần kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn về vấn đề này nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho người được TGPL là người bị buộc tội dưới 18 tuổi trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Trần Trung Hiếu
Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đắk Lắk

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: