Thứ tư 26/08/2026 16:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đảm bảo thực thi quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013

Tóm tắt: Hiến pháp năm 2013 được ban hành đã thể hiện sự phát triển trong nhận thức, tư duy và kỹ thuật lập hiến của Việt Nam. So với các bản Hiến pháp trước đây. Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm mới trong các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Bài viết này phản ánh những quy định mới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp và chỉ ra những điều kiện, giải pháp đảm bảo thực thi có hiệu quả những quyền này.

Abstract: The Constitution of 2013 shows the development in awareness, thinking and constitutional technics of Vietnam. In comparison with previous constitutions, the Constitution has many new points in regulations on human rights, fundamental rights and obligations of citizens. This article reflects new regulations on human rights, fundamental rights and obligations of citizens in the Constitution and points out conditions, solutions ensuring effective implementation of these rights.

1. Những quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân

Hiến pháp năm 2013 có nhiều điểm đổi mới cả về cơ cấu và hình thức so với Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiếp pháp trước đó. Một trong những thay đổi lớn nhất và đáng chú ý nhất là những quy định về quyền con người, quyền công dân với 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49). Nội dung của các điều luật này đã quán xuyến được hầu hết các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa được ghi nhận trong Luật Nhân quyền quốc tế, cụ thể như sau:

Thứ nhất, hình thức các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:

Về tên chương, thay vì chỉ gọi là “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” như Hiến pháp năm 1992 và các bản Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 đã ghi rõ “quyền con người” trong tên gọi của chương. Chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đưa lên và đặt trang trọng tại Chương II, ngay sau Chương I quy định về chế độ chính trị. Việc chuyển đổi vị trí của chương không thuần túy là kỹ thuật mà cho thấy, các nhà lập hiến đã nhận thức rõ về tầm quan trọng quyền con người, quyền công dân trong đời sống xã hội và trong thể chế Nhà nước pháp quyền. Xuất phát từ tư duy mới về Hiến pháp, kinh nghiệm lập hiến và tình hình thực tiễn Việt Nam, nội dung quyền con người, quyền công dân đã được đưa lên vị trí trang trọng trong Hiến pháp. Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung 05 quyền hoàn toàn mới và sửa đổi, bổ sung hơn 30 quyền còn lại.

- Các quyền hoàn toàn mới: Với Điều 19 (quyền sống), Điều 40 (quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó), Điều 41 (quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa), Điều 42 (quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp), Điều 43 (quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường), Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ trong chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền này đều nằm trong hai nhóm quyền cơ bản được ghi nhận trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên. Trong 05 quyền mới được hiến định lần này, có quy định về quyền sống. Đây là khẳng định rõ nét quan điểm của Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền sống của tất cả mọi người, trong đó có cả các nhóm người dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật…

- Các quyền được sửa đổi, bổ sung: Hiến pháp năm 2013 cũng sửa đổi, bổ sung hơn 30 điều cụ thể. Đây cũng được coi là bước tiến mới trong việc hiến định các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đồng thời, cũng là sự phản ánh thành tựu gần 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước, thể hiện trách nhiệm ngày càng cao của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Những quy định về thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác (Điều 20), quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình (Điều 21), quyền có nơi ở hợp pháp (Điều 22), quyền tiếp cận thông tin (Điều 25), quyền được bảo đảm an sinh xã hội (Điều 34), quyền kết hôn, ly hôn (Điều 36)… Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên khẳng định mọi người không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm (khoản 1 Điều 20).

- Các nghĩa vụ cơ bản của công dân: Hiến pháp năm 2013 giữ nguyên như quy định của Hiến pháp năm 1992, riêng nghĩa vụ nộp thuế đã sửa đổi về chủ thể, thay cụm từ “công dân” bằng cụm từ “mọi người” cho phù hợp (mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định, chứ không chỉ có công dân Việt Nam như quy định tại Điều 80 Hiến pháp năm 1992). Bên cạnh đó, trong Chương II của Hiến pháp năm 2013, một số điều quy định quyền gắn với nghĩa vụ cơ bản của công dân, như quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, bình đẳng trong việc sử dụng các dịch vụ y tế và nghĩa vụ thực hiện các quy định về phòng bệnh, khám bệnh, chữa bệnh (Điều 38), quyền và nghĩa vụ học tập của công dân (Điều 39); quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc (Điều 45)…

Thứ hai, nội dung các quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:

Về tư duy, thay vì quan điểm cho rằng, Nhà nước có quyền “quyết định” và “trao” quyền cho người dân như trước đây, Hiến pháp năm 2013 thể hiện nhận thức đúng đắn và sâu sắc hơn, đó là Hiến pháp ghi nhận các quyền con người là tự nhiên, vốn có. Nhà nước phải ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm thực hiện, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính. Nếu như trong Hiến pháp năm 1992, các quyền con người chỉ được thể hiện ở các quyền công dân, thì khoản 1 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sự phát triển về nhận thức lý luận và tư duy lập hiến trong việc ghi nhận quyền con người, quyền công dân so với Hiến pháp năm 1992, quy định cụ thể và phân biệt rõ quyền con người với quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 cũng tiếp tục khẳng định và làm rõ hơn các nguyên tắc về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Điều này được thể hiện cụ thể tại Điều 15 và Điều 16 Hiến pháp.

Hiến pháp năm 2013 nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân, nhất là các quyền về kinh tế, văn hóa, xã hội; bổ sung các thiết chế độc lập nhằm tăng cường cơ chế thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, như quy định về Hội đồng Bầu cử quốc gia (Điều 117), về “cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định” (đoạn 2, khoản 2 Điều 119).

Lần đầu tiên giới hạn của các quyền được quy định thành nguyên tắc trong Hiến pháp. Theo khoản 2 Điều 14, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

2. Điều kiện và giải pháp đảm bảo thực thi hiệu quả các quyền con người, quyền công dân được quy định trong Hiến pháp năm 2013

2.1. Điều kiện đảm bảo thực hiện hiệu quả quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam

Quyền con người, quyền công dân đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp và trong nhiều văn bản luật, đó là điều kiện pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, điều kiện pháp lý cho công tác bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay, cơ bản tùy thuộc vào việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với 05 đặc điểm: (i) Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp hành pháp và tư pháp; (ii) Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; (iii) Sự bình đẳng của mọi người trong thụ hưởng và phát triển quyền, trước tiên và chủ yếu trong việc tham gia vào công tác quản lý nhà nước và xã hội; (iv) Sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; (v) Bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân.

Một vấn đề đặt ra là, khi các quyền con người, quyền công dân được quy định rõ ràng trong Hiến pháp thì đâu là những điều kiện để hiện thực hóa các quyền ấy một cách tốt nhất? Thiết nghĩ, để đảm bảo thực thi hiệu quả quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp cần những điều kiện cụ thể sau:

- Sự thống nhất nhận thức và quyết tâm chính trị cao của cả hệ thống chính trị trong việc đảm bảo thực thi hiệu quả quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp.

- Cần những cơ chế cụ thể, phù hợp, thiết thực và dễ thực hiện để khơi dậy và phát huy tính chủ động, tích cực, tự nguyện, tự giác của người dân trong việc thực hiện các quyền cơ bản của mình.

- Người dân cần nâng cao trình độ (tri thức, kỹ năng), ý thức (bản lĩnh) để nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc các quyền, nghĩa vụ của mình. Bên cạnh đó, người dân cũng cần phải được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, toàn diện, kịp thời để tăng khả năng đưa ra những quyết định đúng đắn.

- Cần một môi trường để thực hành dân chủ với những tiêu chí và giá trị của dân chủ thực hành để nuôi dưỡng, thúc đẩy các biểu hiện tích cực trong thể hiện và thực hiện quyền con người, quyền công dân của mỗi người.

2.2. Những giải pháp đảm bảo thực hiện hiệu quả quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013

Một là, tiếp tục thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giải thích Hiến pháp để nâng cao nhận thức của người dân về Hiến pháp, pháp luật.

Suy cho cùng, đảm bảo quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là vì mỗi người dân. Nhưng từ trong nhận thức, quyền con người là quyền tự nhiên, vốn có từ khi con người sinh ra, do đó, mỗi con người, mỗi công dân cần phải hiểu, ý thức sâu sắc về nó để thực hiện. Nhưng để hành động đúng đắn cần thiết phải trải qua quá trình từ nhận thức đến tình cảm, thái độ. Muốn thay đổi nhận thức của người dân, cần coi trọng việc tuyên truyền, giải thích. Có làm tốt công tác này mới giúp người dân nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm và định hướng hành động của họ một cách đúng đắn nhất. Trong thực hiện nhiệm vụ này cần nghiên cứu đặc thù đối tượng để xử lý linh hoạt theo hướng đa dạng hóa và sinh động hóa các hình thức tuyên truyền, giải thích Hiến pháp, đảm bảo tính cụ thể, chính xác và thiết thực, phù hợp với từng đối tượng. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu dưới dạng các bài thi viết hoặc các trò chơi cũng là một gợi ý cần được quan tâm.

Hai là, đẩy mạnh hoạt động cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp thành những quy định pháp luật tạo cơ sở để thực hiện hiệu quả quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Dù đã được khẳng định và quy định trong Hiến pháp, nhưng để những quy định đó thực sự có sức sống trong thực tiễn thì cần có sự nỗ lực trong công tác cụ thể hóa Hiến pháp. Quyền con người cần được phản ánh đầy đủ trong hoạch định và triển khai thực hiện đường lối, chủ trương và chính sách, pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia. Nhà nước cần ban hành kịp thời văn bản quy định chi tiết, có tính đến những điều kiện thực hiện để đảm bảo tinh thần của Hiến pháp được phản ánh một cách đầy đủ, chính xác và thể hiện hiệu quả trong thực tế. Muốn xây dựng và hoàn thiện được hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện tốt quyền con người, quyền công dân, Nhà nước cần không ngừng cải tiến và nâng cao trình độ cũng như kỹ thuật lập pháp và xây dựng chính sách.

Ba là, chủ động tạo ra các điều kiện và cơ chế để người dân thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa của mình.

Như trên đã chỉ ra, để đảm bảo thực thi một cách hiệu quả quyền con người, quyền công dân trong thực tế cần rất nhiều điều kiện. Trong trường hợp cụ thể ở Việt Nam hiện nay, các điều kiện ấy chưa hẳn đã đầy đủ hoặc nếu đã xuất hiện cũng chưa phải đã hoàn thiện. Mặc dù chúng ta đã có quyết tâm chính trị cao; điều này được thể hiện ở việc Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán khẳng định sự quan tâm, chăm lo, bảo vệ quyền con người; luôn đề cao sự tôn vinh, tôn trọng quyền con người và thực hiện có hiệu quả quyền con người song cũng không có nghĩa là ở mọi lúc, mọi nơi, quyền con người và quyền công dân đều đã được nhận thức đầy đủ và tôn trọng đúng mức. Do đó, chỉ quyết tâm chính trị của hệ thống là hoàn toàn chưa đủ. Chúng ta vẫn cần hoàn thiện các điều kiện khác. Cần có cơ chế cụ thể để khuyến khích và thúc đẩy thực hiện quyền dân chủ, quyền công dân, nâng cao nhận thức và ý thức thực hiện quyền con người của người dân. Chúng ta cũng cần tiếp tục phát huy dân chủ để thực hành một cách đẩy đủ các quyền của người dân. Nhà nước cần chú ý đến các nhóm yếu thế trong xã hội và tạo cho họ nhiều cơ hội hơn trong sự phát triển của mỗi con người, mỗi công dân, khắc phục dần sự cách biệt về cơ hội và điều kiện trong sự phát triển. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả hơn quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường tiếng nói cũng như cơ hội để người dân thể hiện và thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình.

Bốn là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực, nhiệt tình, gần gũi với nhân dân, nhất là bộ phận trực tiếp tiếp xúc và phục vụ nhân dân.

Có quyết tâm chính trị, có môi trường, có cơ chế để đảm bảo thực thi quyền con người, quyền công dân nhưng nếu đội ngũ cán bộ yếu về năng lực, kém về phẩm chất thì khó đạt được thành công. Nói cách khác, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân được đảm bảo đến đâu, phần không kém quan trọng thuộc về đội ngũ cán bộ, những người trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, quy định đến người dân và các đối tượng khác. Chính vì vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ phải được coi là một khâu quan trọng nhằm khuyến khích, phát huy hiệu quả thực hiện quyền con người, quyền công dân. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhất là bộ phận trực tiếp tiếp xúc và phục vụ nhân dân theo hướng đảm bảo đủ năng lực, nhiệt tình, gần gũi và giúp đỡ dân là hướng quan trọng nhằm đẩy mạnh việc phát huy dân chủ ở cơ sở, tạo sinh khí và động lực để cổ vũ việc thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân hiện nay ở nước ta.

TS. Lưu Ngọc Tố Tâm

Học viện Báo chí và Tuyên truyền

Tài liệu tham khảo:

[1]. Hoàng Hùng Hải: Bảo đảm quyền con người - tư tưởng chủ đạo của Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6 năm 2014.

[2]. Lê Trang Hùng: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2013”, http://cand.com.vn, 2015.

[3]. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013”, http://moj.gov.vn, 2013.

[4]. Đinh Xuân Lý: “Những điểm mới trong Hiến pháp 2013 về Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6 năm 2015.

[5]. Chu Hồng Thanh: “Một số điểm mới về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, http://www.moj.gov.vn, 2015.

[6]. Thái Vĩnh Thắng: “Những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992”, http://www.moj.gov.vn, 2015.

[7]. Nguyễn Trần Minh Trí: “Nhân quyền - điểm nhấn trong Hiến pháp sửa đổi”, Báo Nhân dân điện tử, http://www.nhandan.com.vn, 2013.

[8]. Phan Thanh Tuấn: “Bảo đảm quyền con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay”, http://www.tapchicongsan.org.vn, 2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: