Thứ năm 27/08/2026 02:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Đề cập tới vai trò của cấp xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Thực hiện quan điểm của Người, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc hướng mạnh về cơ sở và đề cao vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị cơ sở, trong đó có chính quyền địa phương: Xã, phường, thị trấn (chính quyền cấp xã). Để tăng cường trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong thực thi chính sách, pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và phục vụ người dân, Bộ Tư pháp đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 619/QĐ-TTg).


1. Vai trò của xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Những năm qua, công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch. Nhiều đạo luật được ban hành sau ngày Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành đã thể chế hóa kịp thời và tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ, thực hiện quyền con người, quyền công dân. Pháp luật không chỉ có vai trò trong quản lý nhà nước mà còn là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra và giám sát quyền lực nhà nước. Việc đề ra và triển khai các quy định về xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận là một trong những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó. Vai trò của việc thực hiện xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thể hiện như sau:

Thứ nhất, thông qua xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật giúp chính quyền cấp xã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý, thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực về bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Từ đó, có giải pháp thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc đưa pháp luật tới người dân, đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, khẳng định vị trí, phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Thứ hai, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật của người dân, kịp thời tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc, kiến nghị trong thi hành pháp luật trên địa bàn; tổ chức và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành Hiến pháp, pháp luật, quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật.

Thứ ba, cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở nhằm giúp người dân kịp thời được tiếp cận với pháp luật, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa pháp lý của người dân.

Thứ tư, việc đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cũng tạo cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất, kiến nghị hoàn thiện thể chế, chính sách có liên quan đến trách nhiệm và hoạt động của chính quyền, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, cải cách thủ tục hành chính.

2. Thực trạng triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Sau hơn 03 năm thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg, đến nay, việc triển khai các nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ, lĩnh vực và mục tiêu quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin, hòa giải ở cơ sở, thi hành pháp luật, thực hiện dân chủ ở cơ sở… Bộ Tư pháp, chính quyền địa phương các cấp đã chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Việc thực hiện nhiệm vụ này tại các địa phương cơ bản đã đi vào nền nếp, được bổ sung vào chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp tại Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng ban hành Thông tư số 07/2017/TT-BTP[1] hướng dẫn một số nội dung xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, hàng năm, Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các tiêu chí và xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lãnh đạo, công chức tư pháp các cấp; thực hiện sơ kết Quyết định số 619/QĐ-TTg. Các địa phương đã tổ chức triển khai nhiệm vụ đến cơ sở, năm 2017 có 6.858 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 61,47%), năm 2018 có 9.059 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 81,2%), năm 2019 có 9.687 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 88,2%). Số chính quyền cấp xã đạt chuẩn năm sau cao hơn năm trước. Qua đó khẳng định sự chủ động, tích cực, trách nhiệm của các địa phương trong xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, dù thời gian triển khai thực hiện nhiệm vụ và kinh nghiệm thực tiễn chưa có nhiều nhưng đã tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương và cán bộ, công chức ở cơ sở, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 619/QĐ-TTg cũng như thực hiện nội dung thành phần “xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

- Một số quy định trong Quyết định số 619/QĐ-TTg đã bộc lộ bất cập, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tế, đặc biệt là các tiêu chí, chỉ tiêu nhiều nội dung, một số nội dung còn định tính, khó đánh giá, trùng lắp, chồng chéo; thời hạn đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn chưa phù hợp, quá ngắn, tạo áp lực cho địa phương; việc đánh giá sự hài lòng chưa bảo đảm khách quan, minh bạch; các bộ, ngành, địa phương có liên quan chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các tiêu chí và nhiệm vụ được giao; nguồn lực, nhất là kinh phí chưa được quan tâm đúng mức.

- Việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại nhiều địa phương, nhất là ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, trước hết cấp ủy và lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời, thường xuyên; cơ quan tư pháp chưa chủ động và phát huy tốt vai trò tham mưu, huy động các ngành, các cấp vào cuộc theo tinh thần là nhiệm vụ của hệ thống chính trị; hiệu quả so với yêu cầu chưa cao, có nơi, có lúc còn hình thức, thiếu thực chất, việc đánh giá, công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có biểu hiện chạy theo nông thôn mới; nhiều địa phương chưa thực sự chú trọng giải pháp, biện pháp khắc phục, thúc đẩy các tiêu chí đạt chuẩn và nhiệm vụ được giao, dẫn tới kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đề ra.

- Việc tổ chức thực thi chính sách, pháp luật đến người dân của chính quyền cấp xã, bảo đảm và thực hiện các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ đôi lúc còn chưa nghiêm chỉnh, vẫn còn cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, chưa nghiêm túc trong triển khai thực hiện các quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên về chuẩn tiếp cận pháp luật, thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn mang tính hình thức, có nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân...

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, mục đích, vai trò và trách nhiệm tổ chức thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật; nguồn lực thực hiện công tác này ở các địa phương còn hạn chế. Đặc biệt, chuẩn tiếp cận pháp luật và các quy định về xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần được hoàn thiện kịp thời, phù hợp.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đánh giá, công nhận tiếp cận pháp luật

Một là, đẩy mạnh thông tin, truyền thông về vị trí, vai trò, mục tiêu thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, qua đó thống nhất về nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, liên quan đến trách nhiệm và phạm vi quản lý của các ngành, các cấp.

Hai là, tổng kết thực tiễn; có giải pháp tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trên thực tế. Bên cạnh đó, ủy ban nhân dân các cấp với trách nhiệm được giao cần bám sát quy định của các văn bản có liên quan để chỉ đạo, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Các tiêu chí tiếp cận pháp luật có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức, do đó, cần phân công rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức đó.

Ba là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện quan tâm bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ đánh giá, chấm điểm các tiêu chí tiếp cận pháp luật và công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức được giao theo dõi, triển khai đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật. Qua đó, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn pháp luật, góp phần vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ này.

Bốn là, quan tâm bố trí kinh phí triển khai nhiệm vụ được giao. Kinh phí xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được bảo đảm, bố trí trong dự toán chi ngân sách thường xuyên hàng năm của các cơ quan, tổ chức liên quan và các địa phương theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ưu tiên bố trí kinh phí để hỗ trợ chính quyền cấp xã còn nhiều chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật từ nguồn ngân sách địa phương theo phân cấp ngân sách hiện hành. Ngoài ra, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Đối với các xã thực hiện xét công nhận, xây dựng nông thôn mới thì nguồn kinh phí cho nhiệm vụ xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được cấp chung trong tổng thể nguồn vốn triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Sở Tư pháp cần phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tham mưu, đề xuất ủy ban nhân dân và Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh cấp kinh phí tổ chức triển khai thực hiện các tiêu chí tiếp cận pháp luật và xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong tổng thể kinh phí xây dựng nông thôn mới để ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phân bổ để làm căn cứ chỉ đạo, điều hành cụ thể.

Năm là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá thực tiễn thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Sáu là, ngày 20/6/2020, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 80-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, trong đó nhấn mạnh “bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả giữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, hướng mạnh về cơ sở, gắn với xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật”. Yêu cầu này đặt ra cho Bộ Tư pháp và Ngành Tư pháp khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về chuẩn tiếp cận pháp luật phù hợp với tình hình mới, nhằm chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá chính quyền địa phương cấp xã trong thực hiện, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân cũng như quyền tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hóa tại cơ sở. Các tiêu chí đánh giá chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cần được xây dựng, sửa đổi theo hướng phù hợp, khả thi, phổ quát, khoa học, trọng tâm, trọng điểm. Những kết quả, số liệu tạo ra thông qua các tiêu chí phải phản ánh một cách trung thực, khách quan, chính xác kết quả thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã trong thực thi chính sách, pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở, thực hiện dân chủ ở cơ sở. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế về xây dựng, đánh giá, công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật sẽ góp phần quan trọng trong tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức triển khai công tác này được khả thi, thực chất, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tìm hiểu, nâng cao nhận thức, hành vi tuân thủ pháp luật trong nhân dân; nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là hệ thống chính trị cơ sở trong đảm bảo quyền con người, quyền công dân.

ThS. Ngô Quỳnh Hoa

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp



[1]. Thông tư số 07/2017/TT-BTP ngày 28/7/2017 của Bộ Tư pháp quy định về điểm số, hướng dẫn cách tính điểm các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật và một số nội dung về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: