Chủ nhật 18/01/2026 20:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Đề cập tới vai trò của cấp xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Thực hiện quan điểm của Người, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc hướng mạnh về cơ sở và đề cao vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị cơ sở, trong đó có chính quyền địa phương: Xã, phường, thị trấn (chính quyền cấp xã). Để tăng cường trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong thực thi chính sách, pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và phục vụ người dân, Bộ Tư pháp đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 619/QĐ-TTg).


1. Vai trò của xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Những năm qua, công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch. Nhiều đạo luật được ban hành sau ngày Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành đã thể chế hóa kịp thời và tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ, thực hiện quyền con người, quyền công dân. Pháp luật không chỉ có vai trò trong quản lý nhà nước mà còn là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra và giám sát quyền lực nhà nước. Việc đề ra và triển khai các quy định về xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận là một trong những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó. Vai trò của việc thực hiện xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thể hiện như sau:

Thứ nhất, thông qua xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật giúp chính quyền cấp xã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý, thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực về bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Từ đó, có giải pháp thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc đưa pháp luật tới người dân, đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, khẳng định vị trí, phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Thứ hai, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật của người dân, kịp thời tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc, kiến nghị trong thi hành pháp luật trên địa bàn; tổ chức và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành Hiến pháp, pháp luật, quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật.

Thứ ba, cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở nhằm giúp người dân kịp thời được tiếp cận với pháp luật, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa pháp lý của người dân.

Thứ tư, việc đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cũng tạo cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất, kiến nghị hoàn thiện thể chế, chính sách có liên quan đến trách nhiệm và hoạt động của chính quyền, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, cải cách thủ tục hành chính.

2. Thực trạng triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Sau hơn 03 năm thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg, đến nay, việc triển khai các nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ, lĩnh vực và mục tiêu quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin, hòa giải ở cơ sở, thi hành pháp luật, thực hiện dân chủ ở cơ sở… Bộ Tư pháp, chính quyền địa phương các cấp đã chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Việc thực hiện nhiệm vụ này tại các địa phương cơ bản đã đi vào nền nếp, được bổ sung vào chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp tại Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng ban hành Thông tư số 07/2017/TT-BTP[1] hướng dẫn một số nội dung xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, hàng năm, Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các tiêu chí và xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lãnh đạo, công chức tư pháp các cấp; thực hiện sơ kết Quyết định số 619/QĐ-TTg. Các địa phương đã tổ chức triển khai nhiệm vụ đến cơ sở, năm 2017 có 6.858 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 61,47%), năm 2018 có 9.059 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 81,2%), năm 2019 có 9.687 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 88,2%). Số chính quyền cấp xã đạt chuẩn năm sau cao hơn năm trước. Qua đó khẳng định sự chủ động, tích cực, trách nhiệm của các địa phương trong xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, dù thời gian triển khai thực hiện nhiệm vụ và kinh nghiệm thực tiễn chưa có nhiều nhưng đã tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương và cán bộ, công chức ở cơ sở, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 619/QĐ-TTg cũng như thực hiện nội dung thành phần “xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

- Một số quy định trong Quyết định số 619/QĐ-TTg đã bộc lộ bất cập, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tế, đặc biệt là các tiêu chí, chỉ tiêu nhiều nội dung, một số nội dung còn định tính, khó đánh giá, trùng lắp, chồng chéo; thời hạn đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn chưa phù hợp, quá ngắn, tạo áp lực cho địa phương; việc đánh giá sự hài lòng chưa bảo đảm khách quan, minh bạch; các bộ, ngành, địa phương có liên quan chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các tiêu chí và nhiệm vụ được giao; nguồn lực, nhất là kinh phí chưa được quan tâm đúng mức.

- Việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại nhiều địa phương, nhất là ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, trước hết cấp ủy và lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời, thường xuyên; cơ quan tư pháp chưa chủ động và phát huy tốt vai trò tham mưu, huy động các ngành, các cấp vào cuộc theo tinh thần là nhiệm vụ của hệ thống chính trị; hiệu quả so với yêu cầu chưa cao, có nơi, có lúc còn hình thức, thiếu thực chất, việc đánh giá, công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có biểu hiện chạy theo nông thôn mới; nhiều địa phương chưa thực sự chú trọng giải pháp, biện pháp khắc phục, thúc đẩy các tiêu chí đạt chuẩn và nhiệm vụ được giao, dẫn tới kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đề ra.

- Việc tổ chức thực thi chính sách, pháp luật đến người dân của chính quyền cấp xã, bảo đảm và thực hiện các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ đôi lúc còn chưa nghiêm chỉnh, vẫn còn cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, chưa nghiêm túc trong triển khai thực hiện các quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên về chuẩn tiếp cận pháp luật, thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn mang tính hình thức, có nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân...

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, mục đích, vai trò và trách nhiệm tổ chức thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật; nguồn lực thực hiện công tác này ở các địa phương còn hạn chế. Đặc biệt, chuẩn tiếp cận pháp luật và các quy định về xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần được hoàn thiện kịp thời, phù hợp.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đánh giá, công nhận tiếp cận pháp luật

Một là, đẩy mạnh thông tin, truyền thông về vị trí, vai trò, mục tiêu thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, qua đó thống nhất về nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, liên quan đến trách nhiệm và phạm vi quản lý của các ngành, các cấp.

Hai là, tổng kết thực tiễn; có giải pháp tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trên thực tế. Bên cạnh đó, ủy ban nhân dân các cấp với trách nhiệm được giao cần bám sát quy định của các văn bản có liên quan để chỉ đạo, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Các tiêu chí tiếp cận pháp luật có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức, do đó, cần phân công rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức đó.

Ba là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện quan tâm bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ đánh giá, chấm điểm các tiêu chí tiếp cận pháp luật và công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức được giao theo dõi, triển khai đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật. Qua đó, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn pháp luật, góp phần vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ này.

Bốn là, quan tâm bố trí kinh phí triển khai nhiệm vụ được giao. Kinh phí xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được bảo đảm, bố trí trong dự toán chi ngân sách thường xuyên hàng năm của các cơ quan, tổ chức liên quan và các địa phương theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ưu tiên bố trí kinh phí để hỗ trợ chính quyền cấp xã còn nhiều chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật từ nguồn ngân sách địa phương theo phân cấp ngân sách hiện hành. Ngoài ra, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Đối với các xã thực hiện xét công nhận, xây dựng nông thôn mới thì nguồn kinh phí cho nhiệm vụ xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được cấp chung trong tổng thể nguồn vốn triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Sở Tư pháp cần phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tham mưu, đề xuất ủy ban nhân dân và Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh cấp kinh phí tổ chức triển khai thực hiện các tiêu chí tiếp cận pháp luật và xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong tổng thể kinh phí xây dựng nông thôn mới để ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phân bổ để làm căn cứ chỉ đạo, điều hành cụ thể.

Năm là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá thực tiễn thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Sáu là, ngày 20/6/2020, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 80-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, trong đó nhấn mạnh “bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả giữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, hướng mạnh về cơ sở, gắn với xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật”. Yêu cầu này đặt ra cho Bộ Tư pháp và Ngành Tư pháp khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về chuẩn tiếp cận pháp luật phù hợp với tình hình mới, nhằm chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá chính quyền địa phương cấp xã trong thực hiện, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân cũng như quyền tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hóa tại cơ sở. Các tiêu chí đánh giá chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cần được xây dựng, sửa đổi theo hướng phù hợp, khả thi, phổ quát, khoa học, trọng tâm, trọng điểm. Những kết quả, số liệu tạo ra thông qua các tiêu chí phải phản ánh một cách trung thực, khách quan, chính xác kết quả thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã trong thực thi chính sách, pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở, thực hiện dân chủ ở cơ sở. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế về xây dựng, đánh giá, công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật sẽ góp phần quan trọng trong tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức triển khai công tác này được khả thi, thực chất, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tìm hiểu, nâng cao nhận thức, hành vi tuân thủ pháp luật trong nhân dân; nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là hệ thống chính trị cơ sở trong đảm bảo quyền con người, quyền công dân.

ThS. Ngô Quỳnh Hoa

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp



[1]. Thông tư số 07/2017/TT-BTP ngày 28/7/2017 của Bộ Tư pháp quy định về điểm số, hướng dẫn cách tính điểm các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật và một số nội dung về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: