Thứ sáu 10/04/2026 18:47
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Đề cập tới vai trò của cấp xã, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Cấp xã là gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi”. Thực hiện quan điểm của Người, trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc hướng mạnh về cơ sở và đề cao vai trò, trách nhiệm của hệ thống chính trị cơ sở, trong đó có chính quyền địa phương: Xã, phường, thị trấn (chính quyền cấp xã). Để tăng cường trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong thực thi chính sách, pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân và phục vụ người dân, Bộ Tư pháp đã tham mưu Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 619/QĐ-TTg ngày 08/5/2017 ban hành quy định về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật (Quyết định số 619/QĐ-TTg).


1. Vai trò của xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân

Những năm qua, công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện theo hướng thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch. Nhiều đạo luật được ban hành sau ngày Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực thi hành đã thể chế hóa kịp thời và tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ, thực hiện quyền con người, quyền công dân. Pháp luật không chỉ có vai trò trong quản lý nhà nước mà còn là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra và giám sát quyền lực nhà nước. Việc đề ra và triển khai các quy định về xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận là một trong những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó. Vai trò của việc thực hiện xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân được thể hiện như sau:

Thứ nhất, thông qua xây dựng, đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật giúp chính quyền cấp xã đánh giá toàn diện thực trạng quản lý, thực hiện nhiệm vụ trên các lĩnh vực về bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở và thực hiện dân chủ ở cơ sở. Từ đó, có giải pháp thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của chính quyền cấp xã trong việc đưa pháp luật tới người dân, đáp ứng nhu cầu nâng cao nhận thức pháp luật, khẳng định vị trí, phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, bảo vệ các quyền con người, quyền công dân.

Thứ hai, góp phần nâng cao nhận thức pháp luật, ý thức tôn trọng, tuân thủ và chấp hành pháp luật của người dân, kịp thời tháo gỡ mâu thuẫn, tranh chấp, vướng mắc, kiến nghị trong thi hành pháp luật trên địa bàn; tổ chức và bảo đảm hiệu lực, hiệu quả thi hành Hiến pháp, pháp luật, quản lý nhà nước và xã hội bằng pháp luật.

Thứ ba, cải thiện điều kiện tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải cơ sở, giải quyết thủ tục hành chính, phát huy dân chủ ở cơ sở nhằm giúp người dân kịp thời được tiếp cận với pháp luật, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đời sống văn hóa pháp lý của người dân.

Thứ tư, việc đánh giá, công nhận xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cũng tạo cơ sở thực tiễn trong việc đề xuất, kiến nghị hoàn thiện thể chế, chính sách có liên quan đến trách nhiệm và hoạt động của chính quyền, góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, cải cách thủ tục hành chính.

2. Thực trạng triển khai nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật

Sau hơn 03 năm thực hiện Quyết định số 619/QĐ-TTg, đến nay, việc triển khai các nhiệm vụ xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ, lĩnh vực và mục tiêu quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin, hòa giải ở cơ sở, thi hành pháp luật, thực hiện dân chủ ở cơ sở… Bộ Tư pháp, chính quyền địa phương các cấp đã chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Việc thực hiện nhiệm vụ này tại các địa phương cơ bản đã đi vào nền nếp, được bổ sung vào chức năng, nhiệm vụ của Bộ Tư pháp tại Nghị định số 96/2017/NĐ-CP ngày 16/8/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp, Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 của Bộ Tư pháp, Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng ban hành Thông tư số 07/2017/TT-BTP[1] hướng dẫn một số nội dung xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Thực hiện nhiệm vụ được giao, hàng năm, Bộ Tư pháp đã ban hành kế hoạch, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương thực hiện các tiêu chí và xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; biên soạn tài liệu, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho lãnh đạo, công chức tư pháp các cấp; thực hiện sơ kết Quyết định số 619/QĐ-TTg. Các địa phương đã tổ chức triển khai nhiệm vụ đến cơ sở, năm 2017 có 6.858 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 61,47%), năm 2018 có 9.059 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 81,2%), năm 2019 có 9.687 chính quyền cấp xã đạt chuẩn (đạt 88,2%). Số chính quyền cấp xã đạt chuẩn năm sau cao hơn năm trước. Qua đó khẳng định sự chủ động, tích cực, trách nhiệm của các địa phương trong xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, dù thời gian triển khai thực hiện nhiệm vụ và kinh nghiệm thực tiễn chưa có nhiều nhưng đã tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương và cán bộ, công chức ở cơ sở, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn triển khai thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 619/QĐ-TTg cũng như thực hiện nội dung thành phần “xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật” trong Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới vẫn còn một số tồn tại, hạn chế như sau:

- Một số quy định trong Quyết định số 619/QĐ-TTg đã bộc lộ bất cập, vướng mắc, không còn phù hợp với thực tế, đặc biệt là các tiêu chí, chỉ tiêu nhiều nội dung, một số nội dung còn định tính, khó đánh giá, trùng lắp, chồng chéo; thời hạn đánh giá, công nhận cấp xã đạt chuẩn chưa phù hợp, quá ngắn, tạo áp lực cho địa phương; việc đánh giá sự hài lòng chưa bảo đảm khách quan, minh bạch; các bộ, ngành, địa phương có liên quan chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các tiêu chí và nhiệm vụ được giao; nguồn lực, nhất là kinh phí chưa được quan tâm đúng mức.

- Việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật tại nhiều địa phương, nhất là ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn, trước hết cấp ủy và lãnh đạo chính quyền địa phương các cấp chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sát sao, kịp thời, thường xuyên; cơ quan tư pháp chưa chủ động và phát huy tốt vai trò tham mưu, huy động các ngành, các cấp vào cuộc theo tinh thần là nhiệm vụ của hệ thống chính trị; hiệu quả so với yêu cầu chưa cao, có nơi, có lúc còn hình thức, thiếu thực chất, việc đánh giá, công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật có biểu hiện chạy theo nông thôn mới; nhiều địa phương chưa thực sự chú trọng giải pháp, biện pháp khắc phục, thúc đẩy các tiêu chí đạt chuẩn và nhiệm vụ được giao, dẫn tới kết quả đạt được còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu và mục tiêu đề ra.

- Việc tổ chức thực thi chính sách, pháp luật đến người dân của chính quyền cấp xã, bảo đảm và thực hiện các quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ đôi lúc còn chưa nghiêm chỉnh, vẫn còn cán bộ, công chức vi phạm pháp luật trong thực thi công vụ, chưa nghiêm túc trong triển khai thực hiện các quy định và chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên về chuẩn tiếp cận pháp luật, thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn mang tính hình thức, có nguy cơ làm giảm lòng tin của nhân dân...

Những tồn tại, hạn chế nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do một số cấp ủy, chính quyền địa phương chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, mục đích, vai trò và trách nhiệm tổ chức thực hiện chuẩn tiếp cận pháp luật; nguồn lực thực hiện công tác này ở các địa phương còn hạn chế. Đặc biệt, chuẩn tiếp cận pháp luật và các quy định về xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, cần được hoàn thiện kịp thời, phù hợp.

3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ đánh giá, công nhận tiếp cận pháp luật

Một là, đẩy mạnh thông tin, truyền thông về vị trí, vai trò, mục tiêu thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật, qua đó thống nhất về nhận thức và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, nhân dân; xác định đây là nhiệm vụ của hệ thống chính trị, liên quan đến trách nhiệm và phạm vi quản lý của các ngành, các cấp.

Hai là, tổng kết thực tiễn; có giải pháp tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc trên thực tế. Bên cạnh đó, ủy ban nhân dân các cấp với trách nhiệm được giao cần bám sát quy định của các văn bản có liên quan để chỉ đạo, hướng dẫn triển khai nhiệm vụ phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương. Các tiêu chí tiếp cận pháp luật có liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều cơ quan, tổ chức, do đó, cần phân công rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của từng cơ quan, tổ chức đó.

Ba là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện quan tâm bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ đánh giá, chấm điểm các tiêu chí tiếp cận pháp luật và công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức được giao theo dõi, triển khai đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu tiếp cận pháp luật. Qua đó, nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ, chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ xây dựng cấp xã đạt chuẩn pháp luật, góp phần vào việc thực hiện thành công nhiệm vụ này.

Bốn là, quan tâm bố trí kinh phí triển khai nhiệm vụ được giao. Kinh phí xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được bảo đảm, bố trí trong dự toán chi ngân sách thường xuyên hàng năm của các cơ quan, tổ chức liên quan và các địa phương theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành. Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ưu tiên bố trí kinh phí để hỗ trợ chính quyền cấp xã còn nhiều chỉ tiêu, tiêu chí chưa đạt chuẩn tiếp cận pháp luật từ nguồn ngân sách địa phương theo phân cấp ngân sách hiện hành. Ngoài ra, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật. Đối với các xã thực hiện xét công nhận, xây dựng nông thôn mới thì nguồn kinh phí cho nhiệm vụ xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật được cấp chung trong tổng thể nguồn vốn triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Sở Tư pháp cần phối hợp với các sở, ban, ngành liên quan tham mưu, đề xuất ủy ban nhân dân và Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh cấp kinh phí tổ chức triển khai thực hiện các tiêu chí tiếp cận pháp luật và xây dựng xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong tổng thể kinh phí xây dựng nông thôn mới để ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định phân bổ để làm căn cứ chỉ đạo, điều hành cụ thể.

Năm là, thường xuyên kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết, đánh giá thực tiễn thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo chức năng, nhiệm vụ được giao.

Sáu là, ngày 20/6/2020, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 80-KL/TW về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, trong đó nhấn mạnh “bảo đảm tính đồng bộ, xuyên suốt, hiệu quả giữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với xây dựng, tổ chức thi hành pháp luật, hướng mạnh về cơ sở, gắn với xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật”. Yêu cầu này đặt ra cho Bộ Tư pháp và Ngành Tư pháp khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện thể chế về chuẩn tiếp cận pháp luật phù hợp với tình hình mới, nhằm chuẩn hóa các tiêu chí đánh giá chính quyền địa phương cấp xã trong thực hiện, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân cũng như quyền tiếp cận thông tin pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong đời sống chính trị, kinh tế, pháp lý, văn hóa tại cơ sở. Các tiêu chí đánh giá chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật cần được xây dựng, sửa đổi theo hướng phù hợp, khả thi, phổ quát, khoa học, trọng tâm, trọng điểm. Những kết quả, số liệu tạo ra thông qua các tiêu chí phải phản ánh một cách trung thực, khách quan, chính xác kết quả thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền cấp xã trong thực thi chính sách, pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, giải quyết thủ tục hành chính, hòa giải ở cơ sở, thực hiện dân chủ ở cơ sở. Việc tiếp tục hoàn thiện thể chế về xây dựng, đánh giá, công nhận chính quyền cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật sẽ góp phần quan trọng trong tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho tổ chức triển khai công tác này được khả thi, thực chất, hiệu quả, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tìm hiểu, nâng cao nhận thức, hành vi tuân thủ pháp luật trong nhân dân; nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, chính quyền, đặc biệt là hệ thống chính trị cơ sở trong đảm bảo quyền con người, quyền công dân.

ThS. Ngô Quỳnh Hoa

Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp



[1]. Thông tư số 07/2017/TT-BTP ngày 28/7/2017 của Bộ Tư pháp quy định về điểm số, hướng dẫn cách tính điểm các chỉ tiêu tiếp cận pháp luật, Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật và một số nội dung về xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.

Theo dõi chúng tôi trên: