Thứ ba 17/03/2026 02:41
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu và phân tích các tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trên cơ sở xem xét những khó khăn trong công tác đánh giá kết luận giám định, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong quá trình điều tra và xét xử vụ án hình sự.

Abstract: The article researches and analyzes the criteria for evaluating expertise conclusions of assessors by competent authorities conducting proceedings such as the investigating agencies, the procuracies, and the courts in accordance with the provisions of the current Criminal Procedure Code. On the basis of considering the difficulties in the assessment of expertise conclusions, the author makes recommendations to improve the effectiveness of this activity in the investigation and trial of criminal cases.

Đánh giá kết luận giám định là một hoạt động quan trọng được tiến hành bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Kết quả của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét xử vụ án hình sự và trong nhiều trường hợp, việc đánh giá sai kết luận giám định làm giảm tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc đánh giá kết luận giám định còn gặp nhiều khó khăn và dẫn đến oan sai. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích các tiêu chí trong đánh giá kết luận giám định và đưa ra một quy trình đánh giá cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là rất cần thiết.

1. Tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Kết luận giám định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Cũng theo khoản 1 Điều 100 của Bộ luật này, kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định. Nội dung của kết luận giám định được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Giám định tư pháp năm 2012).

Hiện nay, việc đánh giá chứng cứ nói chung và đánh giá kết luận giám định nói riêng được quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá theo 03 tiêu chí gồm: Tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Người có thẩm quyền khi đánh giá kết luận giám định phải tuân thủ 03 tiêu chí nêu trên.

Thứ nhất, tính hợp pháp:

Giám định tư pháp là một hoạt động sáng tạo của giám định viên và bản kết luận giám định là kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khác với các hoạt động nghiên cứu khoa học khác thì giám định tư pháp phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Vì thế, việc đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định đóng vai trò rất quan trọng trong đánh giá chứng cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Như vậy, tính hợp pháp là tiêu chí tiên quyết để có thể sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự.

Trong quá trình kiểm tra tính hợp pháp của kết luận giám định cần làm rõ các vấn đề như: Việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động trưng cầu và tiến hành giám định; hồ sơ giám định có được thiết lập theo quy định của pháp luật hay không. Ngoài ra, khi đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định, cần làm rõ giám định viên có đủ chuyên môn thực hiện giám định hoặc có thuộc các trường hợp phải từ chối thực hiện giám định theo khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không. Cụ thể, giám định viên phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau: Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó. Kết luận giám định do giám định viên tiến hành trong trường hợp giám định viên bắt buộc phải từ chối tiến hành giám định không có giá trị pháp lý và không được sử dụng để xét xử vụ án.

Tính hợp pháp của kết luận giám định còn được thể hiện ở việc tuân thủ các quy định của pháp luật về việc thu mẫu so sánh để tiến hành giám định truy nguyên và những quy định trong việc thu và bảo quản mẫu vật cần giám định. Lưu ý, trong quá trình thu mẫu so sánh có nguồn gốc từ con người để tiến hành giám định cần bảo đảm các quyền hiến định của đối tượng tình nghi như các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm…

Thứ hai, tính xác thực:

Tiêu chí tính xác thực trong đánh giá kết luận giám định có thể được hiểu là tính khoa học hoặc tính chính xác của kết luận giám định. Nói cách khác, kết luận giám định phải được đưa ra dựa trên nghiên cứu có cơ sở khoa học đã được chứng minh. Để đánh giá tính khoa học của kết luận giám định, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu các vấn đề sau: Lựa chọn đúng và hợp lý phương pháp và phương tiện giám định; đánh giá số lượng và kết quả thực nghiệm giám định; kết luận giám định có dựa trên việc đánh giá đầy đủ các đặc điểm chung và đặc điểm riêng hay không; việc nghiên cứu có được thực hiện đầy đủ theo quy trình giám định hay không…

Thứ ba, tính liên quan đến vụ án:

Đây là tiêu chí đánh giá chứng cứ rất quan trọng vì nội dung kết luận giám định phải có ý nghĩa chứng minh những vấn đề quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các đối tượng gửi giám định như dấu vết, tài liệu, vật chứng phải có liên quan trực tiếp đến vụ việc đang được xem xét. Các loại đối tượng so sánh trong giám đinh phải được thu đúng quy trình từ các đối tượng tình nghi có nguồn gốc rõ ràng.

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, chứng cứ có thể được phân loại thành: (i) Chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp; (ii) Chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; (iii) Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại. Với cách phân loại (iii) nêu trên thì kết luận giám định thuộc loại chứng cứ sao chép, thuật lại. Nghiên cứu khái niệm và bản chất của kết luận giám định cho thấy rằng, kết luận giám định vừa là một nguồn chứng cứ có giá trị pháp lý trong tố tụng hình sự, đồng thời là kết quả của hoạt động sáng tạo của giám định viên. Nói cách khác, kết luận giám định vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính khoa học. Do đó, việc đưa ra kết luận giám định phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của con người, tư duy của giám định viên và trong nhiều trường hợp không thể tránh khỏi những sai sót.

2. Thực tiễn hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Việc đánh giá kết luận giám định với tư cách là một nguồn chứng cứ cũng mang nhiều đặc điểm đặc trưng khác biệt so với các nguồn chứng cứ khác. Thực tiễn hoạt động đánh giá bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, các chủ thể có thẩm quyền đánh giá kết luận giám định như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thường không có kiến thức chuyên môn sâu về các lĩnh vực giám định cụ thể, do đó, việc đánh giá tính khoa học của kết luận giám định nhiều khi còn gặp nhiều khó khăn. Trong hầu hết các trường hợp, nội dung trong kết luận giám định sẽ được công nhận về tính khoa học và được sử dụng trong giải quyết vụ án hình sự.

Thứ hai, nghiên cứu nội dung của bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy, kết luận giám định là văn bản phản ánh những nội dung ngắn gọn về vấn đề được trưng cầu và kết quả thực hiện giám định. Cụ thể, theo Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, kết luận giám định chỉ thể hiện vắn tắt về nội dung trưng cầu giám định, phương pháp và phương tiện giám định, kết luận giám định. Bản kết luận giám định không phản ánh những thông tin chi tiết về quy trình giám định cụ thể. Theo quy định tại Điều 31 Luật Giám định tư pháp năm 2012, trong quá trình tiến hành giám định, giám định viên lập biên bản giám định, trong đó ghi nhận kịp thời, đầy đủ, trung thực toàn bộ quá trình và kết quả thực hiện giám định. Ngoài ra, giám định viên còn lập bản ảnh giám định như một tài liệu minh họa cho biên bản giám định. Biên bản giám định cùng bản ảnh giám định là một loại tài liệu trong hồ sơ giám định và chỉ lưu tại cơ quan giám định. Tuy nhiên, theo quy định của pháp tố tụng hình sự hiện hành thì biên bản giám định và bản ảnh giám định không phải là một nguồn chứng cứ, do đó, không được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều này gây một số khó khăn trong việc đánh giá tính xác thực (tính khoa học) của kết luận giám định bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không thể theo dõi toàn bộ quá trình tiến hành giám định.

3. Một số kiến nghị

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả công tác đánh giá kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, trong quá trình đánh giá kết luận giám định bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, ở các giai đoạn khác nhau, có thể mời các chuyên gia khác thuộc cùng lĩnh vực trưng cầu giám định cùng tham gia đánh giá tính khoa học của bản kết luận giám định. Những chuyên gia này có thể là những giám định viên thuộc các cơ sở giám định công lập hoặc ngoài công lập, giám định viên theo vụ việc hoặc những người có chuyên môn sâu ở lĩnh vực được trưng cầu. Trong quá trình đánh giá bản kết luận giám định, các chuyên gia có thể đặt câu hỏi hoặc gợi ý cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án về việc đặt câu hỏi cho các giám định viên đã tiến hành giám định trả lời. Ví dụ, theo Điều 294 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người giám định có thể được Tòa án triệu tập ở phiên tòa để trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung kết luận giám định. Trong trường hợp này, Tòa án có thể mời các chuyên gia thuộc cùng lĩnh vực giám tham gia phiên tòa để đặt câu hỏi cho giám định viên.

Thứ hai, đưa biên bản giám định trở thành một bộ phận của bản kết luận giám định và được xem như một nguồn chứng cứ, được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp không thể đưa biên bản giám định thành một nguồn chứng cứ thì trong kết luận giám định cần thể hiện chi tiết hơn về quy trình tiến hành giám định. Bên cạnh đó, cần gửi biên bản giám định và bản ảnh giám định kèm theo bản kết luận giám định đến cơ quan trưng cầu giám định để tiện theo dõi và kiểm tra quá trình tiến hành nghiên cứu giám định của giám định viên.

Thứ ba, vì giám định tư pháp là một hoạt động khoa học, do đó, nội dung luận giám định hoặc biên bản giám định thường sử dụng các thuật ngữ khoa học chuyên ngành, có thể gây khó hiểu cho người đánh giá, đặc biệt là một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực kỹ thuật số, điện tử, giám định hóa, giám định sinh... Vì vậy, ngoài những tiêu chí đánh giá kết luận giám định như tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án, cần bổ sung tiêu chí tính dễ hiểu của kết luận giám định. Trong kết luận giám định cần sử dụng những từ ngữ dễ hiểu, trình bày rõ ràng và lô gíc, tránh sử dụng những từ địa phương, từ nhiều nghĩa.

Thứ tư, để bảo đảm hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên đạt được kết quả tối ưu dựa trên các tiêu chí đã nêu, tác giả đề xuất quy trình đánh giá kết luận giám định bao gồm các bước sau đây:

Bước 1: Xác minh việc tuân thủ các yêu cầu của pháp luật trong trưng cầu và tiến hành giám định;

Bước 2: Xác minh tính xác thực về tính đầy đủ của các đối tượng giám định, bao gồm cả mẫu cần giám định và mẫu so sánh;

Bước 3: Đánh giá về giá trị khoa học và phù hợp của phương pháp được sử dụng để đưa ra kết luận giám định và việc tuân thủ phương pháp này trong trường hợp cụ thể;

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, toàn diện ở giai đoạn kết luận, chú ý đến số lượng trùng khớp các đặc điểm riêng trong trường hợp kết luận khẳng định đồng nhất;

Bước 5: Đánh giá tính hợp lý logic của toàn bộ quy trình tiến hành giám định;

Bước 6: Xác minh sự liên quan của kết quả nghiên cứu giám định đối với vụ việc đang được xem xét;

Bước 7: Xác minh sự phù hợp của kết luận giám định với các chứng cứ khác có được trong vụ án.

Phan Thành Đông

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.

Theo dõi chúng tôi trên: