Thứ ba 22/09/2026 15:18
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu và phân tích các tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trên cơ sở xem xét những khó khăn trong công tác đánh giá kết luận giám định, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong quá trình điều tra và xét xử vụ án hình sự.

Abstract: The article researches and analyzes the criteria for evaluating expertise conclusions of assessors by competent authorities conducting proceedings such as the investigating agencies, the procuracies, and the courts in accordance with the provisions of the current Criminal Procedure Code. On the basis of considering the difficulties in the assessment of expertise conclusions, the author makes recommendations to improve the effectiveness of this activity in the investigation and trial of criminal cases.

Đánh giá kết luận giám định là một hoạt động quan trọng được tiến hành bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Kết quả của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét xử vụ án hình sự và trong nhiều trường hợp, việc đánh giá sai kết luận giám định làm giảm tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc đánh giá kết luận giám định còn gặp nhiều khó khăn và dẫn đến oan sai. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích các tiêu chí trong đánh giá kết luận giám định và đưa ra một quy trình đánh giá cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là rất cần thiết.

1. Tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Kết luận giám định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Cũng theo khoản 1 Điều 100 của Bộ luật này, kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định. Nội dung của kết luận giám định được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Giám định tư pháp năm 2012).

Hiện nay, việc đánh giá chứng cứ nói chung và đánh giá kết luận giám định nói riêng được quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá theo 03 tiêu chí gồm: Tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Người có thẩm quyền khi đánh giá kết luận giám định phải tuân thủ 03 tiêu chí nêu trên.

Thứ nhất, tính hợp pháp:

Giám định tư pháp là một hoạt động sáng tạo của giám định viên và bản kết luận giám định là kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khác với các hoạt động nghiên cứu khoa học khác thì giám định tư pháp phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Vì thế, việc đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định đóng vai trò rất quan trọng trong đánh giá chứng cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Như vậy, tính hợp pháp là tiêu chí tiên quyết để có thể sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự.

Trong quá trình kiểm tra tính hợp pháp của kết luận giám định cần làm rõ các vấn đề như: Việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động trưng cầu và tiến hành giám định; hồ sơ giám định có được thiết lập theo quy định của pháp luật hay không. Ngoài ra, khi đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định, cần làm rõ giám định viên có đủ chuyên môn thực hiện giám định hoặc có thuộc các trường hợp phải từ chối thực hiện giám định theo khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không. Cụ thể, giám định viên phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau: Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó. Kết luận giám định do giám định viên tiến hành trong trường hợp giám định viên bắt buộc phải từ chối tiến hành giám định không có giá trị pháp lý và không được sử dụng để xét xử vụ án.

Tính hợp pháp của kết luận giám định còn được thể hiện ở việc tuân thủ các quy định của pháp luật về việc thu mẫu so sánh để tiến hành giám định truy nguyên và những quy định trong việc thu và bảo quản mẫu vật cần giám định. Lưu ý, trong quá trình thu mẫu so sánh có nguồn gốc từ con người để tiến hành giám định cần bảo đảm các quyền hiến định của đối tượng tình nghi như các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm…

Thứ hai, tính xác thực:

Tiêu chí tính xác thực trong đánh giá kết luận giám định có thể được hiểu là tính khoa học hoặc tính chính xác của kết luận giám định. Nói cách khác, kết luận giám định phải được đưa ra dựa trên nghiên cứu có cơ sở khoa học đã được chứng minh. Để đánh giá tính khoa học của kết luận giám định, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu các vấn đề sau: Lựa chọn đúng và hợp lý phương pháp và phương tiện giám định; đánh giá số lượng và kết quả thực nghiệm giám định; kết luận giám định có dựa trên việc đánh giá đầy đủ các đặc điểm chung và đặc điểm riêng hay không; việc nghiên cứu có được thực hiện đầy đủ theo quy trình giám định hay không…

Thứ ba, tính liên quan đến vụ án:

Đây là tiêu chí đánh giá chứng cứ rất quan trọng vì nội dung kết luận giám định phải có ý nghĩa chứng minh những vấn đề quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các đối tượng gửi giám định như dấu vết, tài liệu, vật chứng phải có liên quan trực tiếp đến vụ việc đang được xem xét. Các loại đối tượng so sánh trong giám đinh phải được thu đúng quy trình từ các đối tượng tình nghi có nguồn gốc rõ ràng.

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, chứng cứ có thể được phân loại thành: (i) Chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp; (ii) Chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; (iii) Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại. Với cách phân loại (iii) nêu trên thì kết luận giám định thuộc loại chứng cứ sao chép, thuật lại. Nghiên cứu khái niệm và bản chất của kết luận giám định cho thấy rằng, kết luận giám định vừa là một nguồn chứng cứ có giá trị pháp lý trong tố tụng hình sự, đồng thời là kết quả của hoạt động sáng tạo của giám định viên. Nói cách khác, kết luận giám định vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính khoa học. Do đó, việc đưa ra kết luận giám định phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của con người, tư duy của giám định viên và trong nhiều trường hợp không thể tránh khỏi những sai sót.

2. Thực tiễn hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Việc đánh giá kết luận giám định với tư cách là một nguồn chứng cứ cũng mang nhiều đặc điểm đặc trưng khác biệt so với các nguồn chứng cứ khác. Thực tiễn hoạt động đánh giá bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, các chủ thể có thẩm quyền đánh giá kết luận giám định như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thường không có kiến thức chuyên môn sâu về các lĩnh vực giám định cụ thể, do đó, việc đánh giá tính khoa học của kết luận giám định nhiều khi còn gặp nhiều khó khăn. Trong hầu hết các trường hợp, nội dung trong kết luận giám định sẽ được công nhận về tính khoa học và được sử dụng trong giải quyết vụ án hình sự.

Thứ hai, nghiên cứu nội dung của bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy, kết luận giám định là văn bản phản ánh những nội dung ngắn gọn về vấn đề được trưng cầu và kết quả thực hiện giám định. Cụ thể, theo Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, kết luận giám định chỉ thể hiện vắn tắt về nội dung trưng cầu giám định, phương pháp và phương tiện giám định, kết luận giám định. Bản kết luận giám định không phản ánh những thông tin chi tiết về quy trình giám định cụ thể. Theo quy định tại Điều 31 Luật Giám định tư pháp năm 2012, trong quá trình tiến hành giám định, giám định viên lập biên bản giám định, trong đó ghi nhận kịp thời, đầy đủ, trung thực toàn bộ quá trình và kết quả thực hiện giám định. Ngoài ra, giám định viên còn lập bản ảnh giám định như một tài liệu minh họa cho biên bản giám định. Biên bản giám định cùng bản ảnh giám định là một loại tài liệu trong hồ sơ giám định và chỉ lưu tại cơ quan giám định. Tuy nhiên, theo quy định của pháp tố tụng hình sự hiện hành thì biên bản giám định và bản ảnh giám định không phải là một nguồn chứng cứ, do đó, không được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều này gây một số khó khăn trong việc đánh giá tính xác thực (tính khoa học) của kết luận giám định bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không thể theo dõi toàn bộ quá trình tiến hành giám định.

3. Một số kiến nghị

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả công tác đánh giá kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, trong quá trình đánh giá kết luận giám định bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, ở các giai đoạn khác nhau, có thể mời các chuyên gia khác thuộc cùng lĩnh vực trưng cầu giám định cùng tham gia đánh giá tính khoa học của bản kết luận giám định. Những chuyên gia này có thể là những giám định viên thuộc các cơ sở giám định công lập hoặc ngoài công lập, giám định viên theo vụ việc hoặc những người có chuyên môn sâu ở lĩnh vực được trưng cầu. Trong quá trình đánh giá bản kết luận giám định, các chuyên gia có thể đặt câu hỏi hoặc gợi ý cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án về việc đặt câu hỏi cho các giám định viên đã tiến hành giám định trả lời. Ví dụ, theo Điều 294 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người giám định có thể được Tòa án triệu tập ở phiên tòa để trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung kết luận giám định. Trong trường hợp này, Tòa án có thể mời các chuyên gia thuộc cùng lĩnh vực giám tham gia phiên tòa để đặt câu hỏi cho giám định viên.

Thứ hai, đưa biên bản giám định trở thành một bộ phận của bản kết luận giám định và được xem như một nguồn chứng cứ, được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp không thể đưa biên bản giám định thành một nguồn chứng cứ thì trong kết luận giám định cần thể hiện chi tiết hơn về quy trình tiến hành giám định. Bên cạnh đó, cần gửi biên bản giám định và bản ảnh giám định kèm theo bản kết luận giám định đến cơ quan trưng cầu giám định để tiện theo dõi và kiểm tra quá trình tiến hành nghiên cứu giám định của giám định viên.

Thứ ba, vì giám định tư pháp là một hoạt động khoa học, do đó, nội dung luận giám định hoặc biên bản giám định thường sử dụng các thuật ngữ khoa học chuyên ngành, có thể gây khó hiểu cho người đánh giá, đặc biệt là một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực kỹ thuật số, điện tử, giám định hóa, giám định sinh... Vì vậy, ngoài những tiêu chí đánh giá kết luận giám định như tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án, cần bổ sung tiêu chí tính dễ hiểu của kết luận giám định. Trong kết luận giám định cần sử dụng những từ ngữ dễ hiểu, trình bày rõ ràng và lô gíc, tránh sử dụng những từ địa phương, từ nhiều nghĩa.

Thứ tư, để bảo đảm hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên đạt được kết quả tối ưu dựa trên các tiêu chí đã nêu, tác giả đề xuất quy trình đánh giá kết luận giám định bao gồm các bước sau đây:

Bước 1: Xác minh việc tuân thủ các yêu cầu của pháp luật trong trưng cầu và tiến hành giám định;

Bước 2: Xác minh tính xác thực về tính đầy đủ của các đối tượng giám định, bao gồm cả mẫu cần giám định và mẫu so sánh;

Bước 3: Đánh giá về giá trị khoa học và phù hợp của phương pháp được sử dụng để đưa ra kết luận giám định và việc tuân thủ phương pháp này trong trường hợp cụ thể;

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, toàn diện ở giai đoạn kết luận, chú ý đến số lượng trùng khớp các đặc điểm riêng trong trường hợp kết luận khẳng định đồng nhất;

Bước 5: Đánh giá tính hợp lý logic của toàn bộ quy trình tiến hành giám định;

Bước 6: Xác minh sự liên quan của kết quả nghiên cứu giám định đối với vụ việc đang được xem xét;

Bước 7: Xác minh sự phù hợp của kết luận giám định với các chứng cứ khác có được trong vụ án.

Phan Thành Đông

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: