Thứ bảy 06/12/2025 07:24
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu và phân tích các tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trên cơ sở xem xét những khó khăn trong công tác đánh giá kết luận giám định, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong quá trình điều tra và xét xử vụ án hình sự.

Abstract: The article researches and analyzes the criteria for evaluating expertise conclusions of assessors by competent authorities conducting proceedings such as the investigating agencies, the procuracies, and the courts in accordance with the provisions of the current Criminal Procedure Code. On the basis of considering the difficulties in the assessment of expertise conclusions, the author makes recommendations to improve the effectiveness of this activity in the investigation and trial of criminal cases.

Đánh giá kết luận giám định là một hoạt động quan trọng được tiến hành bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Kết quả của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét xử vụ án hình sự và trong nhiều trường hợp, việc đánh giá sai kết luận giám định làm giảm tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc đánh giá kết luận giám định còn gặp nhiều khó khăn và dẫn đến oan sai. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích các tiêu chí trong đánh giá kết luận giám định và đưa ra một quy trình đánh giá cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là rất cần thiết.

1. Tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Kết luận giám định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Cũng theo khoản 1 Điều 100 của Bộ luật này, kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định. Nội dung của kết luận giám định được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Giám định tư pháp năm 2012).

Hiện nay, việc đánh giá chứng cứ nói chung và đánh giá kết luận giám định nói riêng được quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá theo 03 tiêu chí gồm: Tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Người có thẩm quyền khi đánh giá kết luận giám định phải tuân thủ 03 tiêu chí nêu trên.

Thứ nhất, tính hợp pháp:

Giám định tư pháp là một hoạt động sáng tạo của giám định viên và bản kết luận giám định là kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khác với các hoạt động nghiên cứu khoa học khác thì giám định tư pháp phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Vì thế, việc đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định đóng vai trò rất quan trọng trong đánh giá chứng cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Như vậy, tính hợp pháp là tiêu chí tiên quyết để có thể sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự.

Trong quá trình kiểm tra tính hợp pháp của kết luận giám định cần làm rõ các vấn đề như: Việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động trưng cầu và tiến hành giám định; hồ sơ giám định có được thiết lập theo quy định của pháp luật hay không. Ngoài ra, khi đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định, cần làm rõ giám định viên có đủ chuyên môn thực hiện giám định hoặc có thuộc các trường hợp phải từ chối thực hiện giám định theo khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không. Cụ thể, giám định viên phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau: Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó. Kết luận giám định do giám định viên tiến hành trong trường hợp giám định viên bắt buộc phải từ chối tiến hành giám định không có giá trị pháp lý và không được sử dụng để xét xử vụ án.

Tính hợp pháp của kết luận giám định còn được thể hiện ở việc tuân thủ các quy định của pháp luật về việc thu mẫu so sánh để tiến hành giám định truy nguyên và những quy định trong việc thu và bảo quản mẫu vật cần giám định. Lưu ý, trong quá trình thu mẫu so sánh có nguồn gốc từ con người để tiến hành giám định cần bảo đảm các quyền hiến định của đối tượng tình nghi như các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm…

Thứ hai, tính xác thực:

Tiêu chí tính xác thực trong đánh giá kết luận giám định có thể được hiểu là tính khoa học hoặc tính chính xác của kết luận giám định. Nói cách khác, kết luận giám định phải được đưa ra dựa trên nghiên cứu có cơ sở khoa học đã được chứng minh. Để đánh giá tính khoa học của kết luận giám định, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu các vấn đề sau: Lựa chọn đúng và hợp lý phương pháp và phương tiện giám định; đánh giá số lượng và kết quả thực nghiệm giám định; kết luận giám định có dựa trên việc đánh giá đầy đủ các đặc điểm chung và đặc điểm riêng hay không; việc nghiên cứu có được thực hiện đầy đủ theo quy trình giám định hay không…

Thứ ba, tính liên quan đến vụ án:

Đây là tiêu chí đánh giá chứng cứ rất quan trọng vì nội dung kết luận giám định phải có ý nghĩa chứng minh những vấn đề quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các đối tượng gửi giám định như dấu vết, tài liệu, vật chứng phải có liên quan trực tiếp đến vụ việc đang được xem xét. Các loại đối tượng so sánh trong giám đinh phải được thu đúng quy trình từ các đối tượng tình nghi có nguồn gốc rõ ràng.

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, chứng cứ có thể được phân loại thành: (i) Chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp; (ii) Chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; (iii) Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại. Với cách phân loại (iii) nêu trên thì kết luận giám định thuộc loại chứng cứ sao chép, thuật lại. Nghiên cứu khái niệm và bản chất của kết luận giám định cho thấy rằng, kết luận giám định vừa là một nguồn chứng cứ có giá trị pháp lý trong tố tụng hình sự, đồng thời là kết quả của hoạt động sáng tạo của giám định viên. Nói cách khác, kết luận giám định vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính khoa học. Do đó, việc đưa ra kết luận giám định phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của con người, tư duy của giám định viên và trong nhiều trường hợp không thể tránh khỏi những sai sót.

2. Thực tiễn hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Việc đánh giá kết luận giám định với tư cách là một nguồn chứng cứ cũng mang nhiều đặc điểm đặc trưng khác biệt so với các nguồn chứng cứ khác. Thực tiễn hoạt động đánh giá bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, các chủ thể có thẩm quyền đánh giá kết luận giám định như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thường không có kiến thức chuyên môn sâu về các lĩnh vực giám định cụ thể, do đó, việc đánh giá tính khoa học của kết luận giám định nhiều khi còn gặp nhiều khó khăn. Trong hầu hết các trường hợp, nội dung trong kết luận giám định sẽ được công nhận về tính khoa học và được sử dụng trong giải quyết vụ án hình sự.

Thứ hai, nghiên cứu nội dung của bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy, kết luận giám định là văn bản phản ánh những nội dung ngắn gọn về vấn đề được trưng cầu và kết quả thực hiện giám định. Cụ thể, theo Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, kết luận giám định chỉ thể hiện vắn tắt về nội dung trưng cầu giám định, phương pháp và phương tiện giám định, kết luận giám định. Bản kết luận giám định không phản ánh những thông tin chi tiết về quy trình giám định cụ thể. Theo quy định tại Điều 31 Luật Giám định tư pháp năm 2012, trong quá trình tiến hành giám định, giám định viên lập biên bản giám định, trong đó ghi nhận kịp thời, đầy đủ, trung thực toàn bộ quá trình và kết quả thực hiện giám định. Ngoài ra, giám định viên còn lập bản ảnh giám định như một tài liệu minh họa cho biên bản giám định. Biên bản giám định cùng bản ảnh giám định là một loại tài liệu trong hồ sơ giám định và chỉ lưu tại cơ quan giám định. Tuy nhiên, theo quy định của pháp tố tụng hình sự hiện hành thì biên bản giám định và bản ảnh giám định không phải là một nguồn chứng cứ, do đó, không được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều này gây một số khó khăn trong việc đánh giá tính xác thực (tính khoa học) của kết luận giám định bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không thể theo dõi toàn bộ quá trình tiến hành giám định.

3. Một số kiến nghị

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả công tác đánh giá kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, trong quá trình đánh giá kết luận giám định bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, ở các giai đoạn khác nhau, có thể mời các chuyên gia khác thuộc cùng lĩnh vực trưng cầu giám định cùng tham gia đánh giá tính khoa học của bản kết luận giám định. Những chuyên gia này có thể là những giám định viên thuộc các cơ sở giám định công lập hoặc ngoài công lập, giám định viên theo vụ việc hoặc những người có chuyên môn sâu ở lĩnh vực được trưng cầu. Trong quá trình đánh giá bản kết luận giám định, các chuyên gia có thể đặt câu hỏi hoặc gợi ý cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án về việc đặt câu hỏi cho các giám định viên đã tiến hành giám định trả lời. Ví dụ, theo Điều 294 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người giám định có thể được Tòa án triệu tập ở phiên tòa để trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung kết luận giám định. Trong trường hợp này, Tòa án có thể mời các chuyên gia thuộc cùng lĩnh vực giám tham gia phiên tòa để đặt câu hỏi cho giám định viên.

Thứ hai, đưa biên bản giám định trở thành một bộ phận của bản kết luận giám định và được xem như một nguồn chứng cứ, được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp không thể đưa biên bản giám định thành một nguồn chứng cứ thì trong kết luận giám định cần thể hiện chi tiết hơn về quy trình tiến hành giám định. Bên cạnh đó, cần gửi biên bản giám định và bản ảnh giám định kèm theo bản kết luận giám định đến cơ quan trưng cầu giám định để tiện theo dõi và kiểm tra quá trình tiến hành nghiên cứu giám định của giám định viên.

Thứ ba, vì giám định tư pháp là một hoạt động khoa học, do đó, nội dung luận giám định hoặc biên bản giám định thường sử dụng các thuật ngữ khoa học chuyên ngành, có thể gây khó hiểu cho người đánh giá, đặc biệt là một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực kỹ thuật số, điện tử, giám định hóa, giám định sinh... Vì vậy, ngoài những tiêu chí đánh giá kết luận giám định như tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án, cần bổ sung tiêu chí tính dễ hiểu của kết luận giám định. Trong kết luận giám định cần sử dụng những từ ngữ dễ hiểu, trình bày rõ ràng và lô gíc, tránh sử dụng những từ địa phương, từ nhiều nghĩa.

Thứ tư, để bảo đảm hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên đạt được kết quả tối ưu dựa trên các tiêu chí đã nêu, tác giả đề xuất quy trình đánh giá kết luận giám định bao gồm các bước sau đây:

Bước 1: Xác minh việc tuân thủ các yêu cầu của pháp luật trong trưng cầu và tiến hành giám định;

Bước 2: Xác minh tính xác thực về tính đầy đủ của các đối tượng giám định, bao gồm cả mẫu cần giám định và mẫu so sánh;

Bước 3: Đánh giá về giá trị khoa học và phù hợp của phương pháp được sử dụng để đưa ra kết luận giám định và việc tuân thủ phương pháp này trong trường hợp cụ thể;

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, toàn diện ở giai đoạn kết luận, chú ý đến số lượng trùng khớp các đặc điểm riêng trong trường hợp kết luận khẳng định đồng nhất;

Bước 5: Đánh giá tính hợp lý logic của toàn bộ quy trình tiến hành giám định;

Bước 6: Xác minh sự liên quan của kết quả nghiên cứu giám định đối với vụ việc đang được xem xét;

Bước 7: Xác minh sự phù hợp của kết luận giám định với các chứng cứ khác có được trong vụ án.

Phan Thành Đông

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Trợ giúp pháp lý - Điểm tựa pháp lý cho tuổi vị thành niên lầm lỡ

Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn các em đang hình thành nhân cách, dễ bồng bột, thiếu kỹ năng kiểm soát cảm xúc và nhận thức pháp luật còn hạn chế. Nếu không được định hướng, các em rất dễ sa vào những hành vi vi phạm pháp luật đáng tiếc. Chỉ một phút nóng giận, một quyết định bồng bột… cũng đủ khiến tuổi trẻ phải trả giá bằng cả những tháng ngày sau song sắt. Thế nhưng, trong câu chuyện buồn ấy, vẫn có một điểm sáng nhân văn - đó là bàn tay nâng đỡ của trợ giúp pháp lý miễn phí, để một thiếu niên lầm lỡ có cơ hội sửa sai và làm lại từ đầu.

Theo dõi chúng tôi trên: