Thứ bảy 05/09/2026 21:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Đánh giá kết luận giám định của giám định viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu và phân tích các tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành. Trên cơ sở xem xét những khó khăn trong công tác đánh giá kết luận giám định, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này trong quá trình điều tra và xét xử vụ án hình sự.

Abstract: The article researches and analyzes the criteria for evaluating expertise conclusions of assessors by competent authorities conducting proceedings such as the investigating agencies, the procuracies, and the courts in accordance with the provisions of the current Criminal Procedure Code. On the basis of considering the difficulties in the assessment of expertise conclusions, the author makes recommendations to improve the effectiveness of this activity in the investigation and trial of criminal cases.

Đánh giá kết luận giám định là một hoạt động quan trọng được tiến hành bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Kết quả của hoạt động này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét xử vụ án hình sự và trong nhiều trường hợp, việc đánh giá sai kết luận giám định làm giảm tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc đánh giá kết luận giám định còn gặp nhiều khó khăn và dẫn đến oan sai. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích các tiêu chí trong đánh giá kết luận giám định và đưa ra một quy trình đánh giá cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng là rất cần thiết.

1. Tiêu chí đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Kết luận giám định là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng được quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung các năm 2017, 2021 (Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015). Cũng theo khoản 1 Điều 100 của Bộ luật này, kết luận giám định là văn bản do cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức giám định lập để kết luận chuyên môn về những vấn đề được trưng cầu, yêu cầu giám định. Nội dung của kết luận giám định được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, được sửa đổi, bổ sung năm 2020 (Luật Giám định tư pháp năm 2012).

Hiện nay, việc đánh giá chứng cứ nói chung và đánh giá kết luận giám định nói riêng được quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Theo đó, mỗi chứng cứ phải được kiểm tra, đánh giá theo 03 tiêu chí gồm: Tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án. Việc xác định những chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án. Người có thẩm quyền khi đánh giá kết luận giám định phải tuân thủ 03 tiêu chí nêu trên.

Thứ nhất, tính hợp pháp:

Giám định tư pháp là một hoạt động sáng tạo của giám định viên và bản kết luận giám định là kết quả hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, khác với các hoạt động nghiên cứu khoa học khác thì giám định tư pháp phải được thực hiện trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Vì thế, việc đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định đóng vai trò rất quan trọng trong đánh giá chứng cứ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự. Như vậy, tính hợp pháp là tiêu chí tiên quyết để có thể sử dụng kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự.

Trong quá trình kiểm tra tính hợp pháp của kết luận giám định cần làm rõ các vấn đề như: Việc tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động trưng cầu và tiến hành giám định; hồ sơ giám định có được thiết lập theo quy định của pháp luật hay không. Ngoài ra, khi đánh giá tính hợp pháp của kết luận giám định, cần làm rõ giám định viên có đủ chuyên môn thực hiện giám định hoặc có thuộc các trường hợp phải từ chối thực hiện giám định theo khoản 5 Điều 68 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không. Cụ thể, giám định viên phải từ chối tham gia tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp sau: Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo; đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người phiên dịch, người dịch thuật, người định giá tài sản trong vụ án đó; đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó. Kết luận giám định do giám định viên tiến hành trong trường hợp giám định viên bắt buộc phải từ chối tiến hành giám định không có giá trị pháp lý và không được sử dụng để xét xử vụ án.

Tính hợp pháp của kết luận giám định còn được thể hiện ở việc tuân thủ các quy định của pháp luật về việc thu mẫu so sánh để tiến hành giám định truy nguyên và những quy định trong việc thu và bảo quản mẫu vật cần giám định. Lưu ý, trong quá trình thu mẫu so sánh có nguồn gốc từ con người để tiến hành giám định cần bảo đảm các quyền hiến định của đối tượng tình nghi như các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm…

Thứ hai, tính xác thực:

Tiêu chí tính xác thực trong đánh giá kết luận giám định có thể được hiểu là tính khoa học hoặc tính chính xác của kết luận giám định. Nói cách khác, kết luận giám định phải được đưa ra dựa trên nghiên cứu có cơ sở khoa học đã được chứng minh. Để đánh giá tính khoa học của kết luận giám định, các cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu các vấn đề sau: Lựa chọn đúng và hợp lý phương pháp và phương tiện giám định; đánh giá số lượng và kết quả thực nghiệm giám định; kết luận giám định có dựa trên việc đánh giá đầy đủ các đặc điểm chung và đặc điểm riêng hay không; việc nghiên cứu có được thực hiện đầy đủ theo quy trình giám định hay không…

Thứ ba, tính liên quan đến vụ án:

Đây là tiêu chí đánh giá chứng cứ rất quan trọng vì nội dung kết luận giám định phải có ý nghĩa chứng minh những vấn đề quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Các đối tượng gửi giám định như dấu vết, tài liệu, vật chứng phải có liên quan trực tiếp đến vụ việc đang được xem xét. Các loại đối tượng so sánh trong giám đinh phải được thu đúng quy trình từ các đối tượng tình nghi có nguồn gốc rõ ràng.

Dựa trên những tiêu chí khác nhau, chứng cứ có thể được phân loại thành: (i) Chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp; (ii) Chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội; (iii) Chứng cứ gốc và chứng cứ sao chép, thuật lại. Với cách phân loại (iii) nêu trên thì kết luận giám định thuộc loại chứng cứ sao chép, thuật lại. Nghiên cứu khái niệm và bản chất của kết luận giám định cho thấy rằng, kết luận giám định vừa là một nguồn chứng cứ có giá trị pháp lý trong tố tụng hình sự, đồng thời là kết quả của hoạt động sáng tạo của giám định viên. Nói cách khác, kết luận giám định vừa mang tính pháp lý, vừa mang tính khoa học. Do đó, việc đưa ra kết luận giám định phụ thuộc rất lớn vào ý chí chủ quan của con người, tư duy của giám định viên và trong nhiều trường hợp không thể tránh khỏi những sai sót.

2. Thực tiễn hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên

Việc đánh giá kết luận giám định với tư cách là một nguồn chứng cứ cũng mang nhiều đặc điểm đặc trưng khác biệt so với các nguồn chứng cứ khác. Thực tiễn hoạt động đánh giá bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy một số vấn đề còn vướng mắc, bất cập như sau:

Thứ nhất, các chủ thể có thẩm quyền đánh giá kết luận giám định như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thường không có kiến thức chuyên môn sâu về các lĩnh vực giám định cụ thể, do đó, việc đánh giá tính khoa học của kết luận giám định nhiều khi còn gặp nhiều khó khăn. Trong hầu hết các trường hợp, nội dung trong kết luận giám định sẽ được công nhận về tính khoa học và được sử dụng trong giải quyết vụ án hình sự.

Thứ hai, nghiên cứu nội dung của bản kết luận giám định của giám định viên cho thấy, kết luận giám định là văn bản phản ánh những nội dung ngắn gọn về vấn đề được trưng cầu và kết quả thực hiện giám định. Cụ thể, theo Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012, kết luận giám định chỉ thể hiện vắn tắt về nội dung trưng cầu giám định, phương pháp và phương tiện giám định, kết luận giám định. Bản kết luận giám định không phản ánh những thông tin chi tiết về quy trình giám định cụ thể. Theo quy định tại Điều 31 Luật Giám định tư pháp năm 2012, trong quá trình tiến hành giám định, giám định viên lập biên bản giám định, trong đó ghi nhận kịp thời, đầy đủ, trung thực toàn bộ quá trình và kết quả thực hiện giám định. Ngoài ra, giám định viên còn lập bản ảnh giám định như một tài liệu minh họa cho biên bản giám định. Biên bản giám định cùng bản ảnh giám định là một loại tài liệu trong hồ sơ giám định và chỉ lưu tại cơ quan giám định. Tuy nhiên, theo quy định của pháp tố tụng hình sự hiện hành thì biên bản giám định và bản ảnh giám định không phải là một nguồn chứng cứ, do đó, không được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Điều này gây một số khó khăn trong việc đánh giá tính xác thực (tính khoa học) của kết luận giám định bởi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không thể theo dõi toàn bộ quá trình tiến hành giám định.

3. Một số kiến nghị

Để giải quyết những vướng mắc, bất cập nêu trên nhằm nâng cao hiệu quả công tác đánh giá kết luận giám định trong giải quyết vụ án hình sự, tác giả đưa ra một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, trong quá trình đánh giá kết luận giám định bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, ở các giai đoạn khác nhau, có thể mời các chuyên gia khác thuộc cùng lĩnh vực trưng cầu giám định cùng tham gia đánh giá tính khoa học của bản kết luận giám định. Những chuyên gia này có thể là những giám định viên thuộc các cơ sở giám định công lập hoặc ngoài công lập, giám định viên theo vụ việc hoặc những người có chuyên môn sâu ở lĩnh vực được trưng cầu. Trong quá trình đánh giá bản kết luận giám định, các chuyên gia có thể đặt câu hỏi hoặc gợi ý cho cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án về việc đặt câu hỏi cho các giám định viên đã tiến hành giám định trả lời. Ví dụ, theo Điều 294 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người giám định có thể được Tòa án triệu tập ở phiên tòa để trả lời các câu hỏi liên quan đến nội dung kết luận giám định. Trong trường hợp này, Tòa án có thể mời các chuyên gia thuộc cùng lĩnh vực giám tham gia phiên tòa để đặt câu hỏi cho giám định viên.

Thứ hai, đưa biên bản giám định trở thành một bộ phận của bản kết luận giám định và được xem như một nguồn chứng cứ, được đánh giá theo quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Trong trường hợp không thể đưa biên bản giám định thành một nguồn chứng cứ thì trong kết luận giám định cần thể hiện chi tiết hơn về quy trình tiến hành giám định. Bên cạnh đó, cần gửi biên bản giám định và bản ảnh giám định kèm theo bản kết luận giám định đến cơ quan trưng cầu giám định để tiện theo dõi và kiểm tra quá trình tiến hành nghiên cứu giám định của giám định viên.

Thứ ba, vì giám định tư pháp là một hoạt động khoa học, do đó, nội dung luận giám định hoặc biên bản giám định thường sử dụng các thuật ngữ khoa học chuyên ngành, có thể gây khó hiểu cho người đánh giá, đặc biệt là một số nghiên cứu thuộc lĩnh vực kỹ thuật số, điện tử, giám định hóa, giám định sinh... Vì vậy, ngoài những tiêu chí đánh giá kết luận giám định như tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan đến vụ án, cần bổ sung tiêu chí tính dễ hiểu của kết luận giám định. Trong kết luận giám định cần sử dụng những từ ngữ dễ hiểu, trình bày rõ ràng và lô gíc, tránh sử dụng những từ địa phương, từ nhiều nghĩa.

Thứ tư, để bảo đảm hoạt động đánh giá kết luận giám định của giám định viên đạt được kết quả tối ưu dựa trên các tiêu chí đã nêu, tác giả đề xuất quy trình đánh giá kết luận giám định bao gồm các bước sau đây:

Bước 1: Xác minh việc tuân thủ các yêu cầu của pháp luật trong trưng cầu và tiến hành giám định;

Bước 2: Xác minh tính xác thực về tính đầy đủ của các đối tượng giám định, bao gồm cả mẫu cần giám định và mẫu so sánh;

Bước 3: Đánh giá về giá trị khoa học và phù hợp của phương pháp được sử dụng để đưa ra kết luận giám định và việc tuân thủ phương pháp này trong trường hợp cụ thể;

Bước 4: Kiểm tra, đánh giá tính đầy đủ, toàn diện ở giai đoạn kết luận, chú ý đến số lượng trùng khớp các đặc điểm riêng trong trường hợp kết luận khẳng định đồng nhất;

Bước 5: Đánh giá tính hợp lý logic của toàn bộ quy trình tiến hành giám định;

Bước 6: Xác minh sự liên quan của kết quả nghiên cứu giám định đối với vụ việc đang được xem xét;

Bước 7: Xác minh sự phù hợp của kết luận giám định với các chứng cứ khác có được trong vụ án.

Phan Thành Đông

Trường Đại học Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.

Theo dõi chúng tôi trên: