Thứ bảy 02/05/2026 07:13
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá pháp luật về tự chủ giáo dục đại học ở Việt Nam

Tự chủ đại học là một yêu cầu hàng đầu trong quá trình đổi mới giáo dục đại học trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tự chủ đại học không chỉ là xu hướng phát triển tất yếu mà còn là nhu cầu cấp thiết của nhiều cơ sở giáo dục đại học Việt Nam hiện nay. Ở nước ta, trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường. Trong bài viết này, trên cơ sở các quy định pháp luật về tự chủ đại học hiện hành, tác giả chỉ ra một số vấn đề còn vướng mắc dưới góc độ pháp lý để tiếp tục trao đổi, nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam.


1. Tổng quan quy định pháp luật về tự chủ đại học và tự chủ trong quản lý văn bằng

Khái niệm “tự chủ” được hiểu là tự mình làm chủ, không để bị phụ thuộc hoặc bị chi phối[1]. Do vậy, tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học có nghĩa là các trường có quyền được tự quyết định các vấn đề liên quan đến phát triển đại học mà không bị ràng buộc bởi các quy định bên ngoài, điều này có nghĩa, các trường phải đưa ra các giải pháp bảo đảm cho chính sự tồn tại và phát triển của mình. Để tự chủ đại học thành công, các cơ sở giáo dục đại học ngoài việc xây dựng và thực hiện các quy chế quản trị nội bộ, chịu trách nhiệm giải trình thì vấn đề mang tính quyết định là cơ quan quản lý nhà nước phải xây dựng khung pháp lý đầy đủ, phù hợp, hình thành cơ chế giám sát chặt chẽ và khả thi cho xã hội và cho Nhà nước theo các tiêu chuẩn về chuẩn đầu ra mà các cơ sở giáo dục đã xây dựng và cam kết. Cũng chính vì lẽ đó mà trong những năm gần đây, các văn bản pháp luật đã được ban hành nhằm dần trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động.

Điều 14 Luật Giáo dục năm 2005 của nước ta có quy định về việc thực hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục, tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục; tại Điều 60 quy định các trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ của nhà trường. Cũng trong thời gian này, Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã được ban hành, theo đó, khẳng định tầm quan trọng của việc hoàn thiện các chính sách phát triển giáo dục đại học theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học.

Đến năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIII, Luật Giáo dục đại học chính thức được ban hành. Đây là một văn bản luật chuyên ngành về giáo dục đại học đầu tiên của nước ta. Qua đó, tự chủ đại học được quy định cụ thể để các cơ sở giáo dục đại học có thể triển khai được trong thực tế, cụ thể “cơ sở để giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục”. Mặc dù vấn đề tự chủ được đề cập đến như là một trong những nội dung quan trọng nhất của Luật, nhưng những cơ chế thực hiện quyền tự chủ đại học quy định trong Luật lại chưa nhất quán, thiếu đồng bộ; quy định về tự chủ trong hoạt động tổ chức, nhân sự, đào tạo, khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế còn nhiều hạn chế, dẫn đến còn tồn tại nhiều bất cập khi thực hiện trao quyền tự chủ cho các trường đại học[2].

Sau thời gian này, có rất nhiều văn bản mang tính định hướng cho sự phát triển chung của nền giáo dục trong đó có yêu cầu về việc hoàn thiện giáo dục đại học, đặc biệt là đẩy mạnh tự chủ đại học như: Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã được Hội nghị trung ương 8 (khóa XI) thông qua; Nghị quyết số 142/2016/QH13 ngày 12/4/2016 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020; Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 22/7/2016 về việc ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Ngoài các văn bản mang tính định hướng như trên, một số văn bản có liên quan trực tiếp đến những nội dung tự chủ như: Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập; Nghị quyết số 77/NQ-CP ngày 24/10/2014 của Chính phủ về thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập giai đoạn 2014 - 2017. Để có cơ sở pháp lý rõ ràng, tạo thuận lợi hơn nữa cho các trường khi thực hiện cơ chế tự chủ thì đến năm 2018, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học và Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học đã được ban hành (Nghị định số 99/2019/NĐ-CP), đến nay, các cơ sở giáo dục đang rất khẩn trương đưa pháp luật vào “thực tiễn cuộc sống” của từng trường đại học.

Những văn bản trên đã đề cập đến vấn đề tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học với các vấn đề xoay quanh những nội dung: (i) Tự chủ về tổ chức bộ máy, nhân sự; (ii) Tự chủ về tài chính; (iii) Tự chủ về chính sách học bổng, học phí đối với các chính sách; (iv) Tự chủ về đào tạo; (v) Tự chủ về nghiên cứu khoa học; (vi) Tự chủ về hợp tác quốc tế. Trong những nội dung này, có quy định về tự chủ trong việc thiết kế, in phôi và quản lý văn bằng của các cơ sở giáo dục đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về vấn đề này, đó là: Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 về việc ban hành quy chế quản lý bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm, bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, văn bằng giáo dục đại học và chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân (có hiệu lực từ ngày 15/01/2020) và Thông tư số 27/2019/TT-BGDĐT ngày 30/12/2019 quy định nội dung chính ghi trên văn bằng và phụ lục văn bằng giáo dục đại học (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2020) đã quy định cụ thể về thẩm quyền của người đứng đầu các cơ sở giáo dục đại học trong việc toàn quyền tự chủ trong việc thiết kế, in phôi, bảo quản, lưu giữ, quản lý cấp phát văn bằng. Từ cơ sở pháp lý trên, các cơ sở giáo dục đại học sẽ tự xây dựng những quy chế về quản lý văn bằng cho riêng trường mình. Nội dung trong các quy chế này phải bảo đảm đầy đủ các yêu cầu quy định về thiết kế mẫu phôi, quy trình in phôi, bảo quản, lưu giữ, quản lý cấp phát và quy định cả về các chế tài xử lý đối với các tập thể, cá nhân nếu xảy ra vi phạm.

2. Đánh giá các quy định pháp luật về tự chủ đại học và tự chủ trong quản lý văn bằng giáo dục đại học

2.1. Đánh giá những quy định pháp luật về tự chủ đại học

Các quy định của pháp luật về tự chủ đại học nói chung và tự chủ trong quản lý văn bằng giáo dục nói riêng về cơ bản đã có đầy đủ cơ sở pháp lý để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện lộ trình tự chủ hoàn toàn trong giáo dục. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy, các trường đại học hiện nay vẫn còn rất nhiều “loay hoay” trong việc triển khai, đưa các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 và Nghị định số 99/2019/NĐ-CP vào thực tế, đặc biệt là quy trình thành lập Hội đồng trường và bổ nhiệm Hiệu trưởng bởi các trường đôi khi vẫn còn quen với cơ chế có cơ quan chủ quản là người sẽ quyết định những vấn đề quan trọng này. Do vậy, kể từ khi luật này ra đời, các trường mới bắt đầu kiện toàn lại Hội đồng trường theo đúng hướng dẫn của Luật. Kể từ đó, các cơ sở giáo dục cũng phải ban hành cho mình một nghị quyết về quy chế hoạt động của trường, đây được coi như bản “Hiến pháp” của mỗi cơ sở giáo dục đại học dựa trên tinh thần các trường hoàn toàn có quyền thiết kế quy định riêng, phù hợp với nhu cầu và khả năng của chính mình, miễn rằng “được làm những gì mà pháp luật không cấm”. Cũng theo yêu cầu của Nghị định số 99/2019/NĐ-CP, chậm nhất là sau 06 tháng, tất cả các cơ sở giáo dục công lập, trừ khối trường công an, quân đội phải có Hội đồng trường được thành lập theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018; nhưng đến ngày 30/10/2020, theo báo cáo của các cơ quan chức năng, mới có 31/35 cơ sở giáo dục trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (04 đơn vị đang tiến hành quy trình), 54 cơ sở giáo dục ngoài các đơn vị trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo thành lập Hội đồng trường theo Luật mới, trên tổng số 175 trường đại học công lập (81/175). Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tiếp tục đôn đốc các cơ quan quản lý trực tiếp cơ sở giáo dục để đến hết năm 2020 về cơ bản các trường đại học công lập đều có Hội đồng trường[3]. Trên thực tế, nếu không có những quy định cụ thể về mặt thời gian để các trường hoàn thiện lộ trình thành lập Hội đồng trường thì không ít trường vẫn “đứng ngoài cuộc”. Một số trường mặc dù đã thành lập Hội đồng trường nhưng vẫn có tình trạng Hội đồng trường chưa phát huy được hết vị trí, vai trò của mình mà chỉ như là “cánh tay nối dài” của Hiệu trưởng. Do vậy, để pháp luật đi vào cuộc sống, cần phải có sự giám sát, kiểm tra chặt chẽ của các cơ quan chức năng.

Ngoài ra, hiện nay các quy định của pháp luật về tự chủ đại học và những quy định pháp luật khác vẫn chưa đồng bộ, thống nhất khiến cho việc triển khai tự chủ ở các trường chưa được diễn ra sâu rộng. Về vấn đề này có thể kể đến quyền tự chủ về nhân sự, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 đã trao thẩm quyền cho các cơ sở giáo dục đại học quyết định về cơ cấu lao động theo vị trí việc làm; tuyển dụng; bổ nhiệm… Điều này có nghĩa là việc trả lương theo vị trí việc làm sẽ được áp dụng nếu các trường có nhu cầu để khuyến khích sự “cống hiến” của người lao động. Tuy nhiên, hiện nay việc trả lương và các chế độ chính sách cho viên chức hiện nay vẫn đang áp dụng theo Luật Viên chức hiện hành. Mặt khác, quyền tự chủ tài chính cũng khó để thực hiện một cách triệt để. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 cho phép các cơ sở giáo dục công lập tự bảo đảm toàn bộ kinh phí chi thường xuyên thì Hội đồng trường được quyết định sử dụng nguồn thu hợp pháp ngoài ngân sách nhà nước cấp để đầu tư các dự án thực hiện hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học… Tuy nhiên, theo Luật Đầu tư công năm 2019 thì những nội dung trên các cơ sở vẫn phải áp dụng theo quy định. Tức là, một số nội dung đầu tư không thuộc về cơ sở giáo dục đại học công lập. Theo tác giả, đây là một trong những nội dung cần được nghiên cứu, chỉnh sửa để tạo ra một hệ thống các văn bản quy luật đồng bộ.

2.2. Đánh giá những quy định pháp luật về tự chủ văn bằng đại học

Theo khoản 23 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 thì “văn bằng giáo dục đại học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm bằng cử nhân, bằng thạc sỹ, bằng tiến sỹ và văn bằng trình độ tương đương”. Điều này đồng nghĩa với việc trong hệ thống văn bằng về cơ bản sẽ chỉ có 03 loại bằng. Ngoài ra, còn có bằng tương đương là văn bằng đối với một số ngành chuyên sâu đặc thù thuộc hệ thống giáo dục đại học gồm: Bằng bác sỹ y khoa, bằng bác sỹ nha khoa, bằng bác sỹ y học cổ truyền, bằng dược sỹ, bằng bác sỹ thú y, bằng kỹ sư được cấp theo chương trình đào tạo với khối lượng kiến thức từ 150 tín chỉ trở lên đối với người tốt nghiệp trung học phổ thông và 90 tín chỉ trở lên đối với người có trình độ tương đường bậc 07 theo khung trình độ quốc gia và việc áp dụng cấp bằng này có hiệu lực kể từ 15/01/2020 theo Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc áp dụng ngay quy định này mà không có lộ trình cụ thể, dẫn đến nhiều cơ sở giáo dục đại học còn rất nhiều lúng túng trong việc phân loại cấp bằng cho người học. Ví dụ như, những cơ sở giáo dục trước kia đang cấp bằng kỹ sư cho người học có số tín chỉ dưới 150 thì đều phải chuyển về cấp bằng cử nhân. Điều này khá “thiệt thòi” cho người học tốt nghiệp năm 2020.

Cũng theo khoản 23 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 thì “cơ sở giáo dục đại học thiết kế mẫu, in phôi, cấp phát văn bằng cho người học và quản lý văn bằng, chứng chỉ phù hợp với quy định của pháp luật” và theo khoản 5 Điều này quy định “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chi tiết nội dung chính ghi trên văn bằng, phụ lục văn bằng; nguyên tắc việc in phôi, quản lý, cấp phát, thu hồi, hủy bỏ văn bằng giáo dục đại học”. Vì vậy, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã ban hành Thông tư số 21/2019/TT-BGDĐT ngày 29/11/2019 ban hành Quy chế quản lý bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm, bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, văn bằng đại học và chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân và Thông tư số 27/2019/TT-BGDĐT ngày 30/12/2019 quy định nội dung chính ghi trên văn bằng và phụ lục văn bằng giáo dục đại học quy định chi tiết nội dung ghi trên văn bằng. Theo đó, có trên văn bằng các trường thiết kế phải có những nội chính cơ bản mà Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép. Ngoài ra, các nội dung khác các cơ sở giáo dục đào tạo có thể bổ sung thêm vào văn bằng hoặc phụ lục văn bằng. Điều này, theo quan điểm của tác giả vẫn chưa bảo đảm được tinh thần của việc tự chủ hoàn toàn trong việc quản lý văn bằng của các cơ sở giáo dục đại học.

Cũng theo những quy định trên, các cơ sở giáo dục đại học phải tự in tổ chức in phôi văn bằng ngay trong năm 2020. Tuy nhiên, khi triển khai vào thực tế thì cũng có một số lý do để các cơ sở giáo dục không thể triển khai ngay được. Đó là, một phần là do thời gian yêu cầu tự chủ quá gấp nên các trường chưa thể chuẩn bị kịp về cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị để in. Một phần khác, cũng là do một số trường có quy mô nhỏ mà việc đầu tư máy móc, trang thiết bị cũng rất tốn kém nên chưa có nguồn lực thuận lợi để tự đầu tư cho hoạt động tự chủ này. Vì tất cả những những lý do đó nên một số trường vẫn chọn giải pháp thuê cơ sở trung gian để in phôi. Điều này theo tác giả, việc bảo đảm tính bảo mật của văn bằng sẽ rất khó khăn, nếu vấn đề này diễn ra trong thời gian dài có thể dẫn đến hiện tượng mẫu phôi bằng của các trường sẽ có nguy cơ bị làm giả.

Tự chủ đại học là một vấn đề còn mới ở Việt Nam. Trong giai đoạn đầu phát triển, việc bảo đảm đồng bộ hệ thống hóa pháp luật và các quy định có liên quan là yêu cầu bắt buộc để các cơ sở giáo dục đại học có căn cứ pháp lý thực hiện. Đồng thời, các cơ sở giáo dục đại học cũng phải hết sức nỗ lực và kiên định trên con đường tự chủ thì mới có thể “gặt hái” được những thành công sau này.

ThS. Đoàn Thị Dương Huyền
Đại học Công đoàn


[1]. Dẫn theo Đại Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý chủ biên, Nxb. Văn hóa - Thông tin, 1998.

[2]. Vũ Thị Lan Anh, “Quy định pháp luật về tự chủ đại học ở Việt Nam - Những vấn đề đặt ra”, Kỷ yếu Hội thảo Giáo dục Việt Nam 2020 “Tự chủ trong giáo dục đại học - Từ chính sách đến thực tiễn”, TP. Hà Nội, ngày 27/11/2020.

[3]. Báo Thanh niên, số ra ngày 13/11/2020.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).

Theo dõi chúng tôi trên: