Thứ bảy 14/03/2026 23:42
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá sự tương thích giữa Hiệp ước Cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện và pháp luật năng lượng nguyên tử Việt Nam

Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (gọi tắt là CTBT) đã được mở ký tại trụ sở Liên Hợp Quốc ngày 24/9/1996. Đến nay Hiệp ước đã được 182 nước ký và 156 nước phê chuẩn, nhưng chưa có hiệu lực do chưa có đủ 44 nước thuộc Phụ lục II của Hiệp ước (có vũ khí hạt nhân hoặc cơ sở hạt nhân) phê chuẩn. Trong số 44 nước này hiện đã có 41 nước ký và 33 nước phê chuẩn. Gần đây các nước phát triển trong đó có EU, Nhật Bản, Nga,... tích cực vận động các nước còn lại sớm phê chuẩn để Hiệp ước có hiệu lực nhằm thúc đẩy mục tiêu không phổ biến và giải trừ vũ khí hạt nhân, chấm dứt mọi vụ nổ hạt nhân và cắt giảm vũ khí hạt nhân trên toàn thế giới.

Việt Nam là một trong số những nước đầu tiên tham gia ký kết Hiệp ước CTBT (ngày 24/9/1996) xuất phát từ chủ trương nhất quán của ta là ủng hộ và tích cực đóng góp vào những nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế vì hoà bình, an ninh quốc tế và giải trừ quân bị, đặc biệt là những nỗ lực nhằm thực hiện giải trừ vũ khí hạt nhân, tiến tới thủ tiêu toàn bộ vũ khí hạt nhân và năng lượng hạt nhân cần và chỉ có thể được sử dụng vào mục đích hoà bình.

1. Đánh giá sự tương thích giữa Hiệp ước CTBT và pháp luật năng lượng nguyên tử Việt Nam

1.1. Về cấm thử hạt nhân quy định tại Điều I Hiệp ước CTBT[1]

Theo Điều 1, Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện CTBT quy định mỗi quốc gia thành viên cam kết không tiến hành bất kỳ một vụ nổ để thử vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ một vụ nổ hạt nhân nào khác và ngăn cấm mọi vụ nổ hạt nhân ở bất cứ địa điểm nào thuộc quyền tài phán hay kiểm soát của quốc gia mình. Mỗi quốc gia thành viên đồng thời cam kết kiềm chế không gây ra, khuyến khích hoặc bằng bất cứ cách nào khác tham gia vào việc tiến hành bất kỳ một vụ nổ để thử vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ một vụ nổ hạt nhân nào khác trên toàn thế giới.

Để nội luật hóa Điều này, Luật Năng lượng nguyên tử của Việt Nam quy định những hành vi bị nghiêm cấm và nghiêm trị các hoạt động liên quan đến năng lượng nguyên tử ở Việt Nam[2].

1.2. Về các biện pháp thực hiện quốc gia theo Điều III Hiệp ước CTBT

Nhằm thực hiện các nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước, Điều III Hiệp ước quy định mỗi quốc gia chỉ định hoặc lập ra một Cơ quan quốc gia liên lạc cấp quốc gia để liên hệ với Tổ chức Hiệp ước (CTBTO) và với các quốc gia thành viên khác.

Các trách nhiệm chính bao gồm: (1) Xây dựng các văn bản pháp quy và các dàn xếp quốc gia về thực hiện Hiệp ước; (2) Làm đầu mối thông báo, chẳng hạn: Nhận các yêu cầu về trao đổi và làm rõ thanh sát tại chỗ; (3) Liên lạc với CTBTO về các ứng dụng khoa học của dữ liệu do hệ thống quan trắc quốc tế (IMS) thu được.

Để nội luật hóa điều này, ngày 03/6/2008, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Năng lượng nguyên tử và ngày 25/01/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định số 07/2010/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Năng lượng nguyên tử trong đó có giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp của mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia trong hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia.

Trên thực tế, mỗi quốc gia khi hoạch định chính sách phát triển năng lượng nguyên tử đều quan tâm, ưu tiên cho công tác quan trắc và kiểm soát phóng xạ môi trường nhằm mục đích đảm bảo sức khoẻ con người, bảo vệ môi trường và sẵn sàng ứng phó trong các tình huống sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.

Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã thiết lập các hệ thống quan trắc và hệ cơ sở dữ liệu phóng xạ toàn cầu theo các điều ước quốc tế như: Hệ thống thông tin về ứng phó sự cố ERNET trong khuôn khổ Công ước Thông báo sớm về sự cố hạt nhân; Hệ thống quan trắc phóng xạ toàn cầu trong khuôn khổ Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT); Hoạt động kiểm soát và phân tích môi trường trong khuôn khổ Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT).

Việt Nam đã ký kết và tham gia một số các điều ước quốc tế trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, vì vậy cần phải xây dựng năng lực quốc gia về quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường.

Hiện nay, việc thành lập Cơ quan quốc gia làm đầu mối liên hệ với Tổ chức CTBT và các quốc gia thành viên khác (Điều III - Hiệp ước) trong công tác quan trắc phóng xạ môi trường đã được Chính phủ giao Bộ Khoa học và Công nghệ đảm nhiệm, tuy nhiên cũng cần có các biện pháp tổ chức cụ thể để triển khai chức năng hoạt động được giao. Đồng thời cần thiết lập được hệ thống phối hợp thực hiện và trao đổi thông tin với các bộ, ngành liên quan.

Ngày 31/8/2010, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo Quyết định số 1636/QĐ-TTg về phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường Quốc gia đến năm 2020[3] với mục tiêu là bảo đảm kịp thời phát hiện diễn biến bất thường về bức xạ trên lãnh thổ Việt Nam và hỗ trợ việc chủ động ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; cung cấp cơ sở dữ liệu về phóng xạ môi trường phục vụ công tác quản lý nhà nước về năng lượng nguyên tử và an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân. Theo đó, các trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường được quy định để ưu tiên đầu tư xây dựng theo hai giai đoạn: 2010 - 2015, 2016 – 2020.

Mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia được phân chia theo các vùng và các khu vực từ trung ương đến các địa phương trên phạm vi toàn quốc, cũng như đặt ở các bộ, ngành liên quan, bao gồm:

- Trung tâm điều hành quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường đặt tại Bộ Khoa học và Công nghệ (Trung tâm điều hành) thực hiện việc kết nối thu thập dữ liệu trực tuyến từ các trạm, các điểm quan trắc trong mạng lưới; xử lý kết quả quan trắc, xây dựng cơ sở dữ liệu phóng xạ môi trường quốc gia; hỗ trợ kỹ thuật cho việc phân tích, đánh giá diễn biến và điều hành ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.

- Trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường cấp vùng (trạm vùng) gồm 4 trạm được xây dựng tại TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Đà Lạt. Trạm vùng có nhiệm vụ thu nhận dữ liệu quan trắc trực tuyến từ các trạm quan trắc địa phương; quan trắc, thu thập, xử lý và phân tích các chỉ tiêu phóng xạ trong mẫu môi trường; phân tích và tổng hợp số liệu quan trắc; trực tiếp tham gia đánh giá hiện trường trong kế hoạch ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân cấp tỉnh và cấp cơ sở.

- Trạm quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường cấp tỉnh (trạm địa phương) được xây dựng tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi không có trạm vùng và có khả năng chịu ảnh hưởng của các sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân. Trạm địa phương làm nhiệm vụ quan trắc liên tục tại các điểm và các cơ sở hạt nhân trên địa bàn, kết nối trực tuyến với các trạm vùng.

- Hệ thống quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường thuộc Bộ Quốc phòng (hệ thống trinh sát phóng xạ quân đội) để thực hiện quan trắc và cảnh báo phóng xạ theo quy định của Bộ Quốc phòng. Trạm trinh sát phóng xạ thực hiện vai trò chỉ đạo kỹ thuật hệ thống trinh sát, cảnh báo phóng xạ trong quân đội, phục vụ công tác phòng chống vũ khí hạt nhân và ứng phó sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.

Chức năng, nhiệm vụ của mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường quốc gia đó là:

- Thực hiện quan trắc và cảnh báo thường xuyên phóng xạ môi trường trên lãnh thổ và các vùng biển thuộc quyền tài phán của Việt Nam do các hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử gây ra; đánh giá hiện trạng phóng xạ môi trường, liều chiếu xạ đối với cộng đồng dân cư; thiết lập hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phóng xạ môi trường quốc gia; cung cấp kịp thời các thông tin về tình trạng phóng xạ môi trường và hỗ trợ cho việc triển khai kế hoạch ứng phó khẩn cấp sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân.

- Trung tâm điều hành định kỳ 6 tháng một lần hoặc đột xuất theo yêu cầu cung cấp dữ liệu về tình trạng phóng xạ môi trường cho hệ thống quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia.

- Có trách nhiệm cung cấp các dữ liệu về tài nguyên và môi trường cần thiết theo yêu cầu của trung tâm điều hành để thực hiện quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường.

1.3. Thanh sát tại chỗ quy định tại Điều IV và Nghị định thư II của Hiệp ước

Khác với NPT, Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) nhằm hạn chế việc thiết kế và phát triển các loại vũ khí hạt nhân. Hiệp ước CTBT cấm mọi vụ thử nổ do phản ứng hạt nhân. Việc cấm này tạo nên một rào cản quan trọng đối với bất kỳ nước nào kể cả những nước đã có vũ khí hạt nhân có ý đồ tìm cách phát triển khả năng vũ khí hạt nhân mới, nó là một nỗ lực quan trọng nhằm loại bỏ mối đe doạ của vũ khí hạt nhân và tăng cường an ninh quốc tế.

Tại Điều IV và Nghị định thư II của Hiệp ước CTBT quy định:

- Mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ tiếp nhận thanh sát tại chỗ theo quy định của Hiệp ước. Các quốc gia nên có sẵn một kế hoạch (ít nhất phải ở mức cơ bản) nhằm xử lý vấn đề thanh sát tại chỗ. Ngoài ra, khi Hiệp ước có hiệu lực, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành thanh sát tại chỗ sau này, mỗi quốc gia phải cung cấp một số thông tin có bản sau: (1) Chỉ định các điểm nhập cảnh và chỉ rõ các thủ tục cho việc sử dụng máy bay ngoài dự kiến; (2) Có thể ký kết một thỏa thuận thường trực với CTBTO về khả năng quốc gia đó có thể hỗ trợ cho một cuộc thanh sát tại chỗ; (3) Các quốc gia có thể đề cử công dân có đủ trình độ của mình làm thanh sát viên.

- Trong trường hợp thanh sát tại chỗ, quốc gia chịu thanh sát sẽ có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc thuận lợi của nhóm thanh sát và phải tìm cách chứng tỏ sự tuân thủ của mình đối với Hiệp ước.

Nếu Hiệp ước cấm thử vũ khí hạt nhân toàn diện (CTBT) và Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT) là các văn bản pháp lý khung cho nguyên tắc không phổ biến vũ khí hạt nhân thì Hiệp định Bảo đảm là những ràng buộc pháp luật quốc tế chặt chẽ để thực hiện nguyên tắc đó.

Hệ thống Bảo đảm quốc tế đã được xây dựng và phát triển qua các giai đoạn khác nhau bao gồm một số văn bản pháp lý của IAEA, như:

- INFCIR/66: Được xây dựng chung cho các nước từ năm 1965 và đưa ra thực hiện năm 1966, trước khi NPT được mở ký. Đây là những quan điển cơ bản ban đầu đặt nền móng cho hệ thống Bảo đảmt hạt nhân sau này.

- INFCIR/153: Là mô hình hệ thống bảo đảm toàn diện được IAEA xây dựng. Đa số các quốc gia thành viên NPT trong đó có Việt Nam đều ký các Hiệp định riêng rẽ với IAEA theo khuôn khổ INFCIR/153, qua đó IAEA sẽ áp dụng các biện pháp bảo đảm đối với các nước.

+ Chương trình 93+2: là một chương trình hành động do IAEA khởi xướng từ năm 1993 nhằm tăng cường và hoàn thiện thêm hệ thống bảo đảm truyền thống. Chương trình này không mang tính pháp quy chặt chẽ. Tuy nhiên trong tổng thể các hoạt động hợp tác với IAEA, các quốc gia thành viên thường được yêu cầu thực hiện một số biện pháp, hoạt động tương ứng nhằm thể hiện tính trách nhiệm chung cũng như là những biện pháp tăng cường tin cậy. Các biện pháp chủ yếu như trao đổi thông tin mở rộng về xuất, nhập khẩu, sử dụng lưu trữ vật liệu hạt nhân miễn trừ trong hệ thống Bảo đảm truyền thống, bổ sung khai báo hay lấy một số mẫu môi trường...

- INFCIR/540: Được phổ biến dưới tên gọi Nghị định thư bổ sung. Là kết quả sau quá trình thực hiện Chương trình 93+2 với mục đích tăng cường hơn nữa hiệu lực và hiệu quả của hệ thống thanh sát trước những bài học thực tế việc vi phạm hiệp định của một số nước.

Với đặc điểm hệ thống bảo đảm hạt nhân truyền thống mà Việt Nam hiện đang tuân thủ (INFCIR/153) chỉ bó hẹp trong phạm vi kiểm soát vật liệu phân hạch hạt nhân chứ không kiểm soát hoạt động ứng dụng kỹ thuật hạt nhân và phóng xạ nên việc triển khai Hiệp định cơ bản được thực hiện thông qua việc IAEA cử thanh tra viên vào tiến hành kiểm toán vật liệu phân hạch tại lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt. Việc thực hiện này được tiến hành theo các bước:

- Sau khi Việt Nam ký Hiệp định Bảo đảm, Việt Nam và Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế IAEA tiến hành đàm phán một văn bản "Thoả thuận bổ sung". Văn bản này đã quy định rõ mọi chi tiết về việc khai báo cơ sở hạt nhân tại Việt Nam mà cụ thể là lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam là đối tượng duy nhất chịu thanh tra hạt nhân. Các thông tin thiết kế cơ bản của lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt mà đặc biệt là các thông số về nhiên liệu phân hạch (uran giàu, plutoni) được cung cấp đầy đủ cho IAEA. Đồng thời trong văn bản này sẽ quy định chi tiết về thời lượng IAEA cử thanh tra viên quốc tế vào thanh sát tại chỗ cũng như các chế độ báo cáo và cơ quan chịu trách nhiệm của phía Việt Nam.

- Theo khuôn khổ quy định tại Thoả thuận bổ sung, hàng năm thanh tra viên quốc tế sẽ vào tiến hành các thủ tục thanh sát, kiểm toán vật liệu hạt nhân tại Đà Lạt (1 lần/1mỗi năm). Các thủ tục thanh sát cơ bản là tiến hành kiểm toán đối với nhiên liệu nhằm bảo bảo đảm cân đối về khối lượng vật liệu phân hạch, không có sự mất mát hay thất thoát về khối lượng. Bất kỳ sự thay đổi nào về khối lượng vật liệu phân hạch hay sự di chuyển của chúng cũng được các thanh sát viên ghi nhận và đưa vào báo cáo. Công việc này được tiến hành tại chỗ tại lò phản ứng hạt nhân Đà lạt, các cán bộ của Viện Nghiên cứu hạt nhân trực tiếp tham gia làm việc với thanh sát viên. Trong thực tế triển khai, chỉ trong một vài trường hợp đặc biệt, đại diện của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cũng có mặt trong đợt thanh sát. Các thủ tục giám sát bổ sung khác như đặt camera theo dõi liên tục hay niêm phong mẫu không được áp dụng tại Việt Nam.

- Báo cáo kết quả thanh sát được lập độc lập thành 02 bộ, do thanh sát viên IAEA và Viện Nghiên cứu hạt nhân tiến hành, gồm: Các báo cáo kiểm toán vật liệu, báo cáo về cân đối vật liệu tại lò và những báo cáo về sự thay đổi nếu có. Bản báo cáo của Việt Nam sau đó được Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam kiểm tra lại và thay mặt Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như quy định trong Hiệp định, chính thức gửi cho IAEA.

- Trên cơ sở làm việc của đoàn thanh sát và báo cáo của Việt Nam, IAEA ra thông báo kết luận về việc thực hiện thanh sát tại chỗ thường niên cũng như đánh giá việc thực hiện Hiệp định tại Việt Nam.

Như đã nêu ở trên, việc thực hiện việc thanh sát hiện nay chỉ gói gọn đối với lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt và tương đối đơn giản.

Trong một số năm gần đây, với việc IAEA ngày càng cố gắng tăng cường hiệu lực và hiệu quả của hệ thống thanh sát hạt nhân thông qua Chương trình 93+2 và Nghị định thư bổ sung (INFCIR/540), tuy chúng ta chưa tham gia ký kết Nghị định thư bổ sung nhưng trên nguyên tắc thể hiện sự tích cực hợp tác quốc tế chung, Việt Nam cũng đã thực hiện một số việc như:

- Tiến hành nghiên cứu và tổ chức hội nghị, hội thảo quốc gia với sự tham dự của nhiều cơ quan, bộ, ngành hữu quan và chuyên gia quốc tế nhằm tìm hiểu kỹ các nguyên tắc áp dụng, bổn phận và trách nhiệm cũng như các yếu tố lợi hại khi tham gia Nghị định thư bổ sung.

- Tiến hành khai báo bổ sung và cung cấp thêm các thông tin thiết kế, cải tiến thay đổi của lò phản ứng hạt nhân Đà lạt cũng như các thông tin xuất, nhập khẩu vật liệu hạt nhân thông thường (uran nghèo dùng che chắn bức xạ trong hệ thiết bị xạ trị y tế).

- Tham gia hệ thông tin dữ liệu toàn cầu của IAEA về buôn bán trái phép vật liệu hạt nhân, qua đó tiếp nhận mọi thông báo về những vụ việc mất cắp, buôn lậu... đối với vật liệu hạt nhân hay nguồn phóng xạ trên toàn thế giới. Ngược lại chúng ta cũng có bổn phận thông báo cho IAEA nhưng thông tin tương tự nếu có xảy ra tại Việt Nam.

- Khai báo bổ sung các thông tin về vật liệu hạt nhân đang hiện diện tại Việt Nam trong khuôn khổ miễn trừ của INFCIR/153 như uran nghèo, một số sản phẩm của quá trình nghiên cứu công nghệ uran... Sau đó tiến hành các thủ tục miễn trừ thanh sát nhưng có sự kiểm soát, báo cáo của hệ thống nhà nước.

Việc kiểm soát sử dụng vật liệu hạt nhân, kiểm soát vật liệu và thiết bị sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và kiểm soát hoạt động có liên quan nhằm ngặn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, vận chuyển và sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân được pháp luật Việt Nam quy định trong Luật Năng lượng nguyên tử và văn bản hướng dẫn Luật này[4].

2. Kết luận

Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (CTBT) nhằm hạn chế việc thiết kế và phát triển các loại vũ khí hạt nhân. Hiệp ước CTBT cấm mọi vụ thử nổ do phản ứng hạt nhân. Việc cấm này tạo nên một rào cản quan trọng đối với bất kỳ nước nào kể cả những nước đã có vũ khí hạt nhân có ý đồ tìm cách phát triển khả năng vũ khí hạt nhân mới, nó là một nỗ lực quan trọng nhằm loại bỏ mối đe doạ của vũ khí hạt nhân và tăng cường an ninh quốc tế.

Việt Nam với chính sách nhất quán yêu chuộng hoà bình và mong muốn không phổ biến cũng như tiến tới giải trừ hoàn toàn vũ khí hạt nhân, đã sớm ký kết Hiệp ước ngay sau khi chính thức hoà nhập trở lại các hoạt động quốc tế về ứng dụng năng lượng hạt nhân. Trên mọi diễn đàn quốc tế, chúng ta luôn nêu cao chính sách phát triển năng lượng hạt nhân vì mục đích hoà bình, vì sự phát triển của nhân loại cũng như chống lại mọi âm mưu, hành động chuyển hướng sử dụng năng lượng hạt nhân để sản xuất vũ khí huỷ diệt.

ThS. Phạm Gia Chương

Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Khoa học và Công nghệ


[1] Hiệp ước Cấm thử hạt nhân toàn diện (gọi tắt là CTBT) ngày 24/9/1996.

[2] Cụ thể, Điều 11 Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008 quy định:

“1. Lợi dụng, lạm dụng hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử để xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, can thiệp vào công việc nội bộ, đe dọa an ninh và lợi ích quốc gia; xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây tổn hại cho sức khoẻ, tính mạng con người, môi trường.

2. Nghiên cứu, phát triển, chế tạo, mua bán, vận chuyển, chuyển giao, tàng trữ, sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí bức xạ.

3. Tiến hành công việc bức xạ mà chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.

4. Nhập khẩu chất thải phóng xạ.

5. Vận chuyển chất thải phóng xạ, vật liệu hạt nhân bằng đường bưu điện.

6. Vận chuyển chất phóng xạ, chất thải phóng xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân (sau đây gọi chung là vật liệu phóng xạ) bằng các phương tiện không được thiết kế bảo đảm an toàn, an ninh hoặc không có thiết bị bảo đảm an toàn, an ninh.

7. Sản xuất, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thực phẩm, đồ uống, mỹ phẩm, đồ chơi, đồ trang sức, sản phẩm, hàng hoá tiêu dùng khác có hoạt độ phóng xạ cao hơn mức quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng.

8. Vi phạm quy định về bảo đảm an toàn, an ninh và các điều kiện ghi trong giấy phép.

9. Cản trở trái pháp luật hoạt động trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

10. Trợ giúp dưới mọi hình thức hoạt động trái pháp luật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

11. Xâm phạm công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo đảm an toàn, an ninh trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.

12. Chiếm đoạt, phá hoại; chuyển giao, sử dụng bất hợp pháp nguồn phóng xạ, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân.

13. Che dấu thông tin về sự cố bức xạ, sự cố hạt nhân; đưa thông tin không có căn cứ, không đúng sự thật về sự cố làm tổn hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

14. Sử dụng sai mục đích, tiết lộ thông tin bí mật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”.

[3] Quyết định số 1636/QĐ-TTg ngày 31/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ ký ban hành theo về phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc và cảnh báo phóng xạ môi trường Quốc gia đến năm 2020.

[4] Cụ thể Điều 10 (Kiểm soát hạt nhân) Luật Năng lượng nguyên tử Việt Nam năm 2008 quy định:

"1. Việc kiểm soát sử dụng vật liệu hạt nhân, kiểm soát vật liệu và thiết bị sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và kiểm soát hoạt động có liên quan nhằm ngặn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, vận chuyển và sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ quy định về hoạt động kiểm soát hạt nhân.

2. Tổ chức, cá nhân quản lý cơ sở hạt nhân, vật liệu hạt nhân, vật liệu và thiết bị sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân, tiến hành hoạt động có liên quan phải tuân thủ yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện hoạt động kiểm soát hạt nhân".

Để hướng dẫn điều này của Luật, ngày 14/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 45/2010/QĐ-TTg ban hành Quy chế hoạt động kiểm soát hạt nhân. Theo đó, Quyết định này quy định việc kiểm soát sử dụng, lưu giữ, xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn; vật liệu và thiết bị trong chu trình nhiên liệu hạt nhân tại Việt Nam; đối tượng áp dụng của Quyết định này là các: "1. Tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tiến hành hoạt động sử dụng, lưu giữ, xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu và thiết bị trong chu trình nhiên liệu hạt nhân. 2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tổ chức quốc tế thực hiện hoạt động kiểm soát hạt nhân" (Điều 2).

Ngoài ra, để kiểm soát sử dụng vật liệu hạt nhân, kiểm soát vật liệu và thiết bị sử dụng trong chu trình nhiên liệu hạt nhân và kiểm soát hoạt động có liên quan nhằm ngặn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân, vận chuyển và sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân ở Việt Nam, thì các hành vi sau bị nghiêm cấm thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm:

"1. Tiếp cận, chiếm giữ, mua, bán, sở hữu, sản xuất, lắp ráp, vận chuyển, sử dụng bất hợp pháp vật liệu và thiết bị chịu sự kiểm soát hạt nhân.

2. Từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin sai lệch liên quan đến việc sử dụng, lưu giữ, xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu hạt nhân, vật liệu hạt nhân nguồn; vật liệu và thiết bị trong chu trình nhiên liệu hạt nhân theo quy định của Quy chế này.

3. Cản trở việc kiểm tra, thanh tra hợp pháp của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền" (Điều 5).

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: