Thứ ba 03/03/2026 17:30
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đánh giá tác động môi trường đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam - Thực trạng và giải pháp

Trong thời gian qua, công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước gắn liền với bảo vệ môi trường (BVMT).

1. Thực trạng thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Trong thời gian qua, công tác đánh giá tác động môi trường (ĐTM) đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước gắn liền với bảo vệ môi trường (BVMT). Tuy nhiên, quy định của pháp luật về ĐTM hiện nay còn nhiều điểm chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, yếu tố chủ quan từ các chủ dự án cũng là một nguyên nhân làm cho vấn đề thực thi ĐTM chưa thực sự hiệu quả. Trên thực tế, chủ dự án thường coi yêu cầu lập báo cáo ĐTM như là một thủ tục để được phê duyệt dự án, vì thế họ hầu như chỉ làm lấy lệ chứ không quan tâm đến những tác động và nguy cơ thực sự của dự án đến môi trường. Các dự án có vốn đầu tư nước ngoài cũng không ngoại lệ, hầu hết các dự án này đều có quy mô lớn, nguy cơ tác động xấu đến môi trường cao nhưng công tác ĐTM vẫn chưa được thực hiện một cách nghiêm túc.

Việc thực hiện ĐTM đối với các dự án đầu tư đã được pháp luật quy định tương đối rõ, tuy nhiên trên thực tế, vẫn có không ít trường hợp các dự án đã “quên” bước này. Tiêu biểu như Công ty Miwon đã có hành vi xả nước thải chưa xử lý ra thẳng sông Hồng trong gần hai năm gây ô nhiễm nghiêm trọng và đến tận một năm sau đó mới được Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Thọ xác nhận hoàn thành báo cáo ĐTM dự án mở rộng đầu tư sản xuất mì chính giai đoạn II bằng công nghệ lên men. Hay dự án đầu tư hạng mục nhuộm của Công ty Mei Sheng bắt đầu đi vào sản xuất từ tháng 9/2009, sau 07 năm hoạt động Công ty Mei Sheng Textiles liên tục vi phạm các quy định về BVMT, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng vẫn không có thiện chí khắc phục sai phạm. Trong đó, nổi bật là việc công ty này không thực hiện báo cáo ĐTM cho dự án đầu tư hạng mục nhuộm, dù Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã chỉ đạo.

Bên cạnh đó, hiện nay vẫn còn trường hợp các dự án đã thực hiện ĐTM theo quy định của pháp luật nhưng chưa thực chất. Hiện tượng các chuyên gia tư vấn thường được “khoán” làm một báo cáo ĐTM cho “phù hợp với yêu cầu của pháp luật” là rất phổ biến ở các địa phương. Vì vậy, nội dung của các báo cáo ĐTM thường được viết khá sơ sài, thiếu tính khả thi hoặc chỉ là định hướng chung chung, không có căn cứ. Dự án Formosa là một ví dụ điển hình cho thực trạng này, dự án được kỳ vọng là một dự án lớn mang tính động lực thúc đẩy các dự án, lĩnh vực khác phát triển, góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, giúp Hà Tĩnh sớm trở thành một tỉnh có công nghiệp và dịch vụ phát triển trong tương lai gần. Tuy nhiên, sau gần 08 năm đi vào hoạt động, Formosa đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế và gây bất ổn chính trị, xã hội. Một trong những nguyên nhân phải kể đến đó là hoạt động thực hiện ĐTM của Công ty Formosa chưa được thực hiện một cách có hiệu quả, báo cáo ĐTM của dự án Formosa vô cùng sơ sài, mang tính hình thức, vấn đề tham vấn trong quá trình ĐTM được thực hiện một cách sơ sài, mang tính đối phó, chưa có sự minh bạch độc lập trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM của dự án Công ty Fomosa. Việc phê duyệt báo cáo ĐTM dự án của Formosa chỉ mang tính hình thức, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM của các cơ quan chức năng còn lơ là, buông lỏng và chưa thực hiện hết trách nhiệm. Sự cố Formosa như một hồi chuông cảnh báo cho Việt Nam trong việc thực hiện hoạt động ĐTM không chỉ với dự án có vốn đầu tư nước ngoài mà cả các dự án đầu tư trong nước.

2. Bất cập trong thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư nước ngoài

Từ những thực trạng báo động nêu trên, có thể thấy hoạt động thực hiện ĐTM đối với các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Điều này xuất phát từ những lý do sau:

Một là, các chủ thể có thẩm quyền tổ chức thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM chưa thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình trong hoạt động thẩm định và phê duyệt ĐTM. Cụ thể như báo cáo ĐTM của Công ty Formosa, trong phần đánh giá tác động của nước thải đến môi trường trong giai đoạn vận hành nhà máy, chỉ có một trang giấy và chủ yếu là liệt kê các nguồn nước thải của nhà máy ra môi trường, đặc điểm của các loại nước thải mà không có thông tin về ảnh hưởng của các loại nước thải đó đến môi trường. Tương tự, đánh giá tác động của chất thải rắn đến môi trường cũng chỉ hơn một trang và không có một dòng nào đề cập về sự cố với môi trường biển, với đất, với không khí. Phần biện pháp giảm thiểu tác động xấu, phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước mới dừng ở khâu nêu cách xử lý nước thải của tổng thể nhà máy mà chưa chi tiết hóa các giải pháp cụ thể. Mặc dù nội dung của báo cáo ĐTM của Công ty Formosa còn nhiều thiếu sót như vậy nhưng vẫn được hội đồng thẩm định tiến hành thẩm định thông qua với kết quả đạt yêu cầu và được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt báo cáo ĐTM. Hậu quả là khi Công ty Formosa đi vào triển khai hoạt động đã gây nên những hậu quả nghiêm trọng về mặt môi trường và kinh tế. Như vậy, hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường phát sinh từ quá trình hoạt động của Công ty Formosa là do các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM không lường trước được những rủi ro mà dự án này gây ra cho môi trường hay là Công ty này cố tình phớt lờ, không làm đúng trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Điều này xuất phát từ năng lực yếu kém hay xuất phát từ lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đã chi phối đến chất lượng thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM. Các quy định pháp luật về hoạt động ĐTM hiện nay là tương đối đầy đủ và có thể đáp ứng được các yêu cầu BVMT trong quá trình triển khai và thực hiện dự án đầu tư. Chính vì vậy, nếu như các chủ thể liên quan đến hoạt động ĐTM tuân thủ và đáp ứng đầy đủ theo các yêu cầu của quy định pháp luật thì sẽ không xảy ra trường hợp vi phạm như trường hợp Công ty Formosa đã gây ra cho môi trường.

Hai là, hoạt động kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM còn hạn chế, lúng túng. Bản chất của ĐTM là dự báo, vì thế rất khó có một báo cáo ĐTM định lượng chi tiết được tất cả các rủi ro và các biện pháp giảm thiểu các rủi ro một cách rõ ràng trong suốt quá trình thực hiện dự án. Do đó, với những dự án phức tạp, đặc biệt là dự án có vốn đầu tư nước ngoài, cần xem công tác giám sát sau khi thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM là yếu tố quan trọng trong quản lý môi trường dự án. Tuy nhiên, công tác này hiện nay chưa được thực hiện một cách nghiêm túc, không đủ chặt chẽ để đảm bảo việc thực hiện hiệu quả nội dung báo cáo ĐTM, vẫn còn tình trạng “đánh trống bỏ dùi”. Khâu giám sát, theo dõi sau ĐTM còn lúng túng, hầu hết cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành, chính quyền các địa phương còn thiếu những điều kiện cần thiết về cán bộ và cơ sở vật chất, kỹ thuật để giám sát môi trường trong quá trình xây dựng và hoạt động của dự án[2].

Việc giám sát được tiến hành trên cơ sở báo cáo ĐTM, tuy nhiên, đa phần báo cáo ĐTM ở nước ta hầu hết là mang tính hình thức, giống như một thủ tục để cấp phép đầu tư. Thực tế lúc triển khai, các chủ dự án thường sẽ sửa đổi, bổ sung nhiều hạng mục, khi đó theo nguyên tắc, báo cáo ĐTM cũng phải được sửa đổi bổ sung cho đến khi dự án đi vào hoạt động. Lúc này, cơ quan có thẩm quyền phải căn cứ vào hiện trạng của dự án và những kết quả kiểm toán môi trường thường xuyên của dự án để giám sát. Tuy nhiên, trên thực tế các cơ quan này hầu như chỉ căn cứ vào báo cáo ĐTM ban đầu khi nộp hồ sơ cấp phép dự án để giám sát, đây là điểm bất cập lớn trong công tác giám sát sau khi phê duyệt báo cáo ĐTM.

Đồng thời, thẩm quyền thẩm định, giám sát ĐTM của cơ quan quản lý còn hạn chế làm cho công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM gặp nhiều khó khăn. Các cơ quan quản lý chưa có đủ quyền để cưỡng chế việc thực thi các yêu cầu được ghi trong quyết định phê chuẩn báo cáo ĐTM[3]. Bên cạnh đó, các thủ đoạn che dấu tinh vi hành vi vi phạm của các dự án cũng gây không ít khó khăn cho cơ quan quản lý khi giám sát. Ngoài ra, kinh phí hằng năm chi cho khâu sau thẩm định còn quá hạn hẹp, ảnh hưởng đến chất lượng của hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện báo cáo ĐTM.

Ba là, việc xử lý các hành vi vi phạm quy định về ĐTM chưa thật sự tương xứng với mức độ gây hại, hệ thống chế tài liên quan đến xử lý vi phạm các quy định về hoạt động ĐTM còn rời rạc, tồn tại nhiều điểm bất cập. Hiện nay, hành vi vi phạm quy định pháp luật về ĐTM đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, các quy định về chế tài xử lý các hành vi vi phạm này vẫn còn tồn tại những bất cập nhất định làm cho công tác xử lý vi phạm chưa thật sự hiệu quả.

Về chế tài xử phạt hành chính, đây được coi là chế tài xử lý hiệu quả và phổ biến nhất đối với các vi phạm về ĐTM. Các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường đang ngày càng hoàn thiện, đặc biệt Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là cơ sở quan trọng cho việc xử lý hành chính đối với hành vi vi phạm quy định về ĐTM. Tuy nhiên, nhìn chung các mức phạt quy định trong Nghị định số 155/2016/NĐ-CP chưa có sự thay đổi nhiều, đa số là giữ lại mức cũ như trong Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. Theo đó, mức phạt tiền đối với hành vi vi phạm tromg hoạt động ĐTM của tổ chức dao động từ 4 triệu đến 400 triệu tùy từng vi phạm cụ thể (Điều 9 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP), như vậy so với chi phí mà chủ dự án phải bỏ ra để thực hiện tốt hoạt động ĐTM thì mức phạt vi phạm hành chính vẫn còn “rẻ” hơn nhiều nên các chủ dự án vẫn sẽ cố tình sẵn sàng vi phạm để tiết kiệm chi phí.

Đồng thời, các chế tài hình sự được áp dụng đối với các tội phạm liên quan đến hoạt động ĐTM chưa được quy định trực tiếp trong Bộ luật Hình sự hiện hành, gây khó khăn cho việc áp dụng các quy định pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các loại tội phạm trong lĩnh vực ĐTM. Đối với vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động ĐTM, hiện nay các quy định về chế tài bồi thường thiệt hại cũng chỉ áp dụng cho các hành vi vi phạm môi trường nói chung chứ chưa có quy định cụ thể áp dụng riêng cho các hành vi vi phạm và gây thiệt hại trong hoạt động ĐTM. Điều này đã gây không ít khó khăn cho các chủ thể trong quá trình áp dụng vào vụ việc cụ thể.

Bên cạnh đó, các chế tài được áp dụng đối với các chủ thể tham gia vào việc lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM nhưng không tuân thủ hoặc tuân thủ không đầy đủ các quy định của pháp luật BVMT chưa được quy định rõ ràng. Hành vi vi phạm quy định về ĐTM lỗi chủ yếu thuộc về các chủ dự án, nhưng cũng không thể bỏ qua các chủ thể tham gia vào việc lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM. Chính từ những sai phạm ở khâu lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM đã làm cho dự án khi đi vào triển khai thực hiện trên thực tế đã gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng về mặt môi trường, vì vậy việc liên đới chịu trách nhiệm là không thể tránh khỏi.

Trước những bất cập nêu trên, đòi hỏi cần phải nhanh chóng có những giải pháp phù hợp, hữu hiệu để khắc phục các vấn đề bật cập còn tồn tại để từ đó góp phần vào việc nâng cao hiệu quả công tác BVMT và hoạt động ĐTM.

3. Một số giải pháp

ĐTM đối với các dự án nói chung và dự án có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói riêng là một hoạt động vẫn còn khá hình thức, thực tế thực thi ĐTM bộc lộ nhiều điểm bất cập, từ đó đặt ra yêu cầu cấp thiết cần phải có những giải pháp khắc phục cụ thể. Sau đây, tác giả xin được đưa ra một số giải pháp như sau:

Một là, tăng cường phối hợp giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương trong việc hướng dẫn, thực thi pháp luật. Tăng cường rà soát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành. Đây được coi là điều kiện tiên quyết nhằm tạo ra sự thống nhất trong quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi trên thực tế. Cụ thể, giữa các cơ quan này phải tăng cường trao đổi thông tin, tạo cơ chế phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng. Do đó, cần sớm ban hành thông tư liên tịch giữa các cơ quan về ĐTM đối với các dự án có vốn đầu tư nước ngoài quy định rõ quy trình phối hợp giữa các cơ quan đó. Tăng cường rà soát và hệ thống hóa các văn bản pháp luật hiện hành để giúp cho cơ quan có thẩm quyền nhìn nhận được những điểm không còn phù hợp, thiếu sót, chưa hoàn hiện để có những biện pháp sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kì, và xu hướng phát triển của xã hội. Việc này sẽ tạo nên một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất, đồng bộ, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền cũng như chủ đầu tư trong việc áp dụng quy định pháp luật liên quan đến hoạt động ĐTM.

Hai là, tiếp tục kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về BVMT, trong đó có các cán bộ chuyên trách về ĐTM. Các cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò rất quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm về ĐTM nên hoàn thiện hệ thống cơ quan quản lý nhà nước là tiền đề cho việc thực thi ĐTM trên thực tế có hiệu quả. Cụ thể, ở cấp trung ương cần tăng cường nguồn lực, phương tiện kỹ thuật cần thiết cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường; tăng cường quản lý môi trường ở các bộ, ngành. Ở cấp địa phương cần quy định chức năng, trách nhiệm rõ ràng để tạo cơ sở pháp lý thực hiện; có sự phân công cán bộ phụ trách và xử lý phù hợp. Bên cạnh đó, cũng cần phải đào tạo thêm lực lượng cán bộ có chuyên môn về ĐTM và bổ sung nguồn cán bộ này cho cơ quan quản lý nhà nước về BVMT.

Ba là, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm sau thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đối với các dự án. Đây là giải pháp quan trọng để bảo đảm cho các văn bản quy phạm pháp luật về ĐTM được thực hiện có hiệu quả trong thực tế. Khi ban hành quy định mà không có kiểm tra, giám sát thì hiệu quả thực hiện sẽ không cao, bởi các chủ dự án sẽ vì lợi nhuận mà bỏ qua các quy định của pháp luật. Thực tế hiện nay, các hành vi vi phạm được thực hiện rất tinh vi, gây khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc phát hiện, kiểm tra, giám sát. Vì vậy, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật ĐTM.

Bốn là, ban hành những chế tài nghiêm khắc hơn đối với các vi phạm nghĩa vụ từ việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện báo cáo ĐTM. Như đã phân tích, các chế tài xử lý vi phạm về việc thực hiện ĐTM vẫn còn khá nhẹ, chưa đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, để vấn đề xử phạt vi phạm được hiệu quả, cần làm rõ trách nhiệm môi trường của các chủ thể tham gia vào việc lập, thẩm định, phê duyệt ĐTM. Đồng thời, tăng mức xử phạt để tạo tính răn đe và nâng cao nhận thức cho các chủ thể khi tham gia vào việc lập, thẩm định, phê duyệt và thực hiện báo cáo ĐTM.

Năm là, nâng cao nhận thức chấp hành pháp luật ĐTM. Đây có thể coi là vấn đề quyết định thành bại trong thực thi ĐTM. Pháp luật về ĐTM là một lĩnh vực còn khá mới ở Việt Nam nên để hoạt động ĐTM được thực thi hiệu quả thì việc nâng cao nhận thức cho cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng, doanh nghiệp là rất cần thiết. BVMT được coi là sự nghiệp của toàn dân, cần tuyên truyền và phổ biến pháp luật về ĐTM một cách rộng rãi thông qua các phương tiện truyền thông phổ biến hiện nay để người dân nhận thức rõ được vai trò quan trọng của công tác ĐTM. Cụ thể, cần phải tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đào tạo, tập huấn ở cấp trung ương và địa phương cho các đối tượng có liên quan đến hoạt ĐTM, bao gồm cơ quan quản lý nhà nước về BVMT, các chủ dự án, doanh nghiệp. Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ thẩm định báo cáo ĐTM cho các cán bộ, đẩy mạnh giáo dục ý thức chấp hành pháp luật ĐTM của nhân dân. Các hoạt động nêu trên giúp nâng cao chất lượng của công tác thẩm định báo cáo ĐTM, giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực của dự án đến môi trường.

Sáu là, xây dựng cơ chế đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương vào quá trình lập, thẩm định và giám sát thực hiện các báo cáo ĐTM. Việc tham gia của cộng đồng dân cư nơi thực hiện dự án chưa quy định bắt buộc mà chỉ trong trường hợp cần thiết mới tham gia. Vì vậy, cần phải xây dựng, bàn hành cơ chế rõ ràng đảm bảo sự tham gia của cộng đồng địa phương trong quá trình ĐTM để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu những bất đồng, khiếu kiện xảy ra giữa nhân dân và chủ đầu tư.

Tóm lại, việc thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường, đe dọa đến quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân. Vì vậy, việc tăng cường thực hiện các giải pháp để khắc phục các vấn đề bất cập còn tồn tại trong hoạt động đánh giá tác động môi trường là vô cùng quan trọng và cần thiết./.

ThS. Trần Linh Huân

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1]Đoàn Nguyên, Đánh giá tác động môi trường chưa được coi trọng, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 20(82), năm 2009, tr.35.

[2]Chu Thế Huyền, Pháp luật về đánh giá tác động môi trường thực trạng và giải pháp, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 5, năm 2014, tr.12.

[3]Đoàn Nguyên, Đánh giá tác động môi trường chưa được coi trọng, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 20, năm 2009, tr. 36.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.

Theo dõi chúng tôi trên: