Thứ năm 08/10/2026 13:22
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đấu giá không thành trong Luật Đấu giá tài sản và một số kiến nghị

Từ thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đấu giá không thành cho thấy đã nảy sinh rất nhiều trường hợp mà đấu giá viên rất khó để tuyên bố là đấu giá thành hay đấu giá không thành.

Từ thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đấu giá không thành cho thấy đã nảy sinh rất nhiều trường hợp mà đấu giá viên rất khó để tuyên bố là đấu giá thành hay đấu giá không thành. Trong bài viết này, tác giả đưa ra một số trường hợp từ thực tiễn liên quan đến đấu giá không thành trong đấu giá tài sản, phân tích những hạn chế của pháp luật khi áp dụng trên thực tiễn, từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về đấu giá không thành tại Luật Đấu giá tài sản.

1. Quy định của Luật Đấu giá tài sản về đấu giá không thành và những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện

Việc xác định đấu giá thành hay không thành có ý nghĩa quan trọng đối với đấu giá viên, người trúng đấu giá, người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá. Đối với đấu giá viên việc xác định cuộc đấu giá thành hay không thành là một nhiệm vụ quan trọng khi kết thúc cuộc đấu giá. Nếu đấu giá viên xác định không đúng đấu giá thành hay không thành sẽ dẫn đến xác định không đúng người trúng đấu giá và có nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá. Đối với người trúng đấu giá thì kể từ thời điểm đấu giá viên tuyên bố đấu giá thành hay không thành sẽ xác định quyền được mua tài sản đấu giá hay không được quyền mua tài sản đấu giá. Đối với tổ chức đấu giá sẽ làm căn cứ để xác định thù lao dịch vụ đấu giá hay chi phí đấu giá trong trường hợp đấu giá thành hay không thành. Đối với người có tài sản đấu giá việc xác định đấu giá không thành sẽ làm căn cứ để giảm giá bán tài sản ở lần đấu giá tiếp theo đối với tài sản thi hành án dân sự hoặc sẽ không được tiếp tục đấu giá nếu 02 lần đấu giá không thành đối với quyền sử dụng đất Nhà nước giao đất, cho thuê đất, có thu tiền sử dụng đất...

Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì các trường hợp sau được xác định là đấu giá không thành:

- Đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá;

- Tại cuộc đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp nhận giá;

- Giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên;

- Người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này;

- Người đã trả giá rút lại giá đã trả, người đã chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận theo quy định tại Điều 50 của Luật này mà không có người trả giá tiếp;

- Trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định tại Điều 51 của Luật này;

- Đã hết thời hạn đăng ký mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá trong trường hợp đấu giá tài sản quy định tại Điều 59 của Luật này.

Thực tiễn áp dụng quy định nêu trên về đấu giá không thành đã nảy sinh rất nhiều trường hợp mà đấu giá viên không biết nên tuyên bố là đấu giá thành hay đấu giá không thành. Nhiều đấu giá viên cho rằng, theo phương pháp suy luận, ngoài những trường hợp đấu giá không thành thì những trường hợp còn lại sẽ được xác định là đấu giá thành. Tuy nhiên, nếu theo phương pháp suy luận này, thực tiễn thực hiện đấu giá tài sản sẽ có mâu thuẫn, chồng chéo so với các quy định khác của Luật Đấu giá tài sản.

Thứ nhất, trường hợp khách hàng trả giá cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên có được tuyên là đấu giá không thành?

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì chỉ được xác định là đấu giá không thành khi giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên. Tuy nhiên, trên thực tiễn đấu giá tài sản ở Việt Nam thì hầu hết đấu giá theo phương thức trả giá lên đều công khai giá khởi điểm đối với tài sản thuộc diện phải đưa ra đấu giá theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Công ty đấu giá hợp danh A đấu giá tài sản là 01 lô tài sản thiết bị văn phòng (có danh mục chi tiết kèm theo). Giá khởi điểm 200 triệu đồng. Phương thức đấu giá lên. Hình thức đấu giá bỏ phiếu gián tiếp tại cuộc đấu giá. Tại buổi công giá, chỉ có 03 khách hàng đăng ký tham gia đấu giá. Kết quả trả giá: 01 khách hàng trả giá 175 triệu, 01 khách hàng trả giá 189 triệu, 01 khách hàng trả giá 190 triệu. Với giá đã trả nêu trên thì cả 03 khách hàng đều trả giá dưới giá khởi điểm. Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp này có được tuyên cuộc đấu giá không thành hay không? Căn cứ đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì đây là trường hợp công khai giá khởi điểm, do đó, sẽ không có căn cứ để áp dụng điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản. Trong trường hợp này, đấu giá viên không thể căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản để tuyên cuộc đấu giá không thành. Đấu giá viên cũng không thể tuyên cuộc đấu giá thành vì giá đã trả thấp hơn với giá khởi điểm được công bố (khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản). Để tránh tình huống này xảy ra, các tổ chức đấu giá thường quy định trong quy chế cuộc đấu giá là khách hàng tham gia đấu giá phải chấp nhận giá khởi điểm. Tuy nhiên, nếu khách hàng trả giá cao nhất vẫn trả giá thấp hơn giá khởi điểm cũng không bị xử lý vi phạm và đấu giá viên cũng không có căn cứ để tuyên cuộc đấu giá không thành theo Luật Đấu giá tài sản.

Thứ hai, trường hợp áp dụng quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đối với tài sản lần đầu đưa ra đấu giá chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá có được tuyên đấu giá không thành?

Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định: Việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá chỉ được tiến hành sau khi đã tổ chức cuộc đấu giá lần đầu nhưng không thành. Căn cứ vào quy định này thì đối với các loại tài sản lần đầu đưa ra đấu giá nếu chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá thì đấu giá viên sẽ không được bán tài sản và cần phải tuyên cuộc đấu giá không thành. Việc tuyên bố đấu giá không thành lần đầu là một trong những điều kiện để lần thứ hai tổ chức cuộc đấu giá, đấu giá viên có thể được bán tài sản nếu tiếp tục chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá với sự đồng ý của người có tài sản theo quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 52 của Luật này thì trường hợp lần đầu đưa tài sản ra đấu giá quy định tại Điều 49 đang không được ghi nhận là đấu giá không thành.

Ví dụ: Công ty đấu giá hợp danh B đấu giá tài sản thi hành án dân sự lần đầu là 01 ngôi nhà 03 tầng có tổng diện tích là 120m2 gắn liền với 81,5 m2 đất tại số 5, tổ 8, phố M, phường N, quận K, thành phố Y. Giá khởi điểm 3.8 tỷ. Tài sản lần đầu tiên đưa ra đấu giá có 02 khách hàng đăng ký tham gia đấu giá nhưng tại cuộc đấu giá chỉ có 01 khách hàng tham gia đấu giá. Căn cứ vào quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2916 thì do tài sản đấu giá đưa ra đấu giá lần đầu nên không được bán tài sản trong trường hợp này. Tuy nhiên, khi căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản về đấu giá tài sản không thành thì không quy định đây là trường hợp đấu giá không thành. Việc này gây khó khăn cho người có tài sản là chấp hành viên không biết có được giảm giá tài sản hay không và tổ chức đấu giá không biết sẽ xác định chi phí dịch vụ như thế nào? Trước đây, theo hệ thống các văn bản liên quan về trình tự, thủ tục đấu giá thì trường hợp này được xác định là đấu giá không thành và chấp hành viên căn cứ Điều 104 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) để làm thủ tục giảm giá tài sản tiếp tục đưa ra đấu giá. Đặc biệt, đối với các tổ chức đấu giá khi rơi vào trường hợp này sẽ thiếu căn cứ để thanh toán chi phí thực tế hợp lý trong trường hợp đấu giá không thành. Tác giả thấy rằng, tại Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đã chưa dự liệu hết trường hợp đấu giá không thành như trong tình huống thực tiễn nêu trên. Tổ chức đấu giá và người có tài sản cần phải xác định đây là trường hợp đấu giá không thành.

Thứ ba, trường hợp quy định tại Điều 41 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá khách hàng trả giá cao nhất chỉ bằng giá khởi điểm có được tuyên là đấu giá không thành?

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 41 Luật Đấu giá tài sản: Đấu giá viên công bố người đã trả giá cao nhất là người trúng đấu giá sau khi nhắc lại ba lần giá cao nhất đã trả và cao hơn giá khởi điểm mà không có người trả giá cao hơn. Quy định này cho phép đấu giá viên chỉ xác định được người trúng đấu giá đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói khi người trả giá cao nhất phải cao hơn giá khởi điểm. Đây là một điểm lưu ý rất đặc biệt đối với tổ chức đấu giá khi lựa chọn hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói.

Ví dụ: Tại cuộc đấu giá tài sản bảo đảm lần đầu là 108 m2 đất ở tại số 8, ngõ 10, phố P, phường K, quận N, thành phố H. Giá khởi điểm là 1,9 tỷ đồng. Hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói.

Có 05 khách hàng tham gia đấu giá những chỉ có 01 khách hàng trả giá, 1,9 tỷ và 04 khách hàng còn lại không trả giá. Trường hợp này căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 41 Luật Đấu giá tài sản không tuyên bố người trúng đấu giá được vì khách hàng chỉ trả bằng giá khởi điểm. Bên cạnh đó, căn cứ Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì đây là trường hợp có nhiều khách hàng tham gia đấu giá nhưng chỉ có 01 người trả giá thì cũng không được bán tài sản đối với tài sản lần đầu đưa ra đấu giá. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản thì đây là trường hợp không được quy định là đấu giá không thành. Bên cạnh đó, căn cứ vào khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản quy định “người trúng đấu giá là cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên”. Khi gặp tình huống này, đấu giá viên sẽ không biết phải tuyên đấu giá thành hay đấu giá không thành? Đây là một tình huống rất dễ dẫn tới tranh chấp tại Tòa án giữa người trúng đấu giá, tổ chức đấu giá và người có tài sản. Người có tài sản cho rằng căn cứ vào Điều 41, Điều 49 Luật Đấu giá tài sản sẽ không được bán tài sản cho 01 người trả giá ở lần bán tài sản đầu tiên. Tổ chức đấu giá và người trúng đấu giá thì cho rằng căn cứ Điều 52 Luật Đấu giá tài sản đây không thuộc trường hợp đấu giá không thành. Căn cứ vào khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản thì vẫn xác định được người trúng đấu giá đúng luật. Tác giả cho rằng, trong trường hợp này lại là sự thiếu sót của Luật Đấu giá tài sản khi quy định chưa hết các trường hợp đấu giá không thành. Nếu tuyên bố người trúng đấu giá trong trường hợp này sẽ tạo điều kiện cho các khách hàng thông đồng, dìm giá và mất hết đi ý nghĩa tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản, không cho phép bán tài sản lần đầu khi chỉ có 01 khách hàng trả giá. Bên cạnh đó, việc xác định đấu giá thành trong trường hợp này còn vi phạm Điều 41 Luật Đấu giá tài sản đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói bắt buộc người trả giá sau phải trả giá cao hơn người trả giá liền kề. Đối với hình thức đấu giá bằng lời nói theo quy định của Luật Đấu giá tài sản thì chỉ xác định được người trúng đấu giá sau khi đấu giá viên nhắc lại ba lần giá cao nhất đã trả và cao hơn giá khởi điểm mà không có người trả giá cao hơn.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá không thành trong Luật Đấu giá tài sản

Thứ nhất, cần sửa đổi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản theo hướng sẽ tuyên là đấu giá không thành trong trường hợp giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp cả 02 trường hợp là không công khai giá khởi điểm và công khai giá khởi điểm. Theo đó, chỉ cần thiết kế điểm c khoản 1 Điều 52 như sau: “Giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên”.

Thứ hai, bổ sung thêm trường hợp đấu giá tài sản lần đầu theo quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản là một trong những trường hợp đấu giá không thành trong quy định tại Điều 52 Luật Đấu giá tài sản.

Thứ ba, bổ sung thêm trường hợp đấu giá trực tiếp bằng lời nói chỉ có 01 khách hàng trả giá bằng giá khởi điểm tại Điều 41 Luật Đấu giá tài sản là trường hợp đấu giá không thành theo quy định tại Điều 52 Luật Đấu giá tài sản. Theo đó, cần sửa quy định tại khoản 5 Điều 8 Luật Đấu giá tài sản cho chặt chẽ hơn theo hướng: “Người trúng đấu giá là cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên, trừ trường hợp quy định tại Điều 41 Luật này”.

TS. Lê Thị Hương Giang
Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: