Thứ sáu 16/01/2026 21:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đấu giá không thành trong Luật Đấu giá tài sản và một số kiến nghị

Từ thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đấu giá không thành cho thấy đã nảy sinh rất nhiều trường hợp mà đấu giá viên rất khó để tuyên bố là đấu giá thành hay đấu giá không thành.

Từ thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về đấu giá không thành cho thấy đã nảy sinh rất nhiều trường hợp mà đấu giá viên rất khó để tuyên bố là đấu giá thành hay đấu giá không thành. Trong bài viết này, tác giả đưa ra một số trường hợp từ thực tiễn liên quan đến đấu giá không thành trong đấu giá tài sản, phân tích những hạn chế của pháp luật khi áp dụng trên thực tiễn, từ đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về đấu giá không thành tại Luật Đấu giá tài sản.

1. Quy định của Luật Đấu giá tài sản về đấu giá không thành và những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện

Việc xác định đấu giá thành hay không thành có ý nghĩa quan trọng đối với đấu giá viên, người trúng đấu giá, người có tài sản đấu giá, tổ chức đấu giá. Đối với đấu giá viên việc xác định cuộc đấu giá thành hay không thành là một nhiệm vụ quan trọng khi kết thúc cuộc đấu giá. Nếu đấu giá viên xác định không đúng đấu giá thành hay không thành sẽ dẫn đến xác định không đúng người trúng đấu giá và có nguy cơ bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đấu giá. Đối với người trúng đấu giá thì kể từ thời điểm đấu giá viên tuyên bố đấu giá thành hay không thành sẽ xác định quyền được mua tài sản đấu giá hay không được quyền mua tài sản đấu giá. Đối với tổ chức đấu giá sẽ làm căn cứ để xác định thù lao dịch vụ đấu giá hay chi phí đấu giá trong trường hợp đấu giá thành hay không thành. Đối với người có tài sản đấu giá việc xác định đấu giá không thành sẽ làm căn cứ để giảm giá bán tài sản ở lần đấu giá tiếp theo đối với tài sản thi hành án dân sự hoặc sẽ không được tiếp tục đấu giá nếu 02 lần đấu giá không thành đối với quyền sử dụng đất Nhà nước giao đất, cho thuê đất, có thu tiền sử dụng đất...

Theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì các trường hợp sau được xác định là đấu giá không thành:

- Đã hết thời hạn đăng ký mà không có người đăng ký tham gia đấu giá;

- Tại cuộc đấu giá không có người trả giá hoặc không có người chấp nhận giá;

- Giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên;

- Người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá theo quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này;

- Người đã trả giá rút lại giá đã trả, người đã chấp nhận giá rút lại giá đã chấp nhận theo quy định tại Điều 50 của Luật này mà không có người trả giá tiếp;

- Trường hợp từ chối kết quả trúng đấu giá theo quy định tại Điều 51 của Luật này;

- Đã hết thời hạn đăng ký mà chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá trong trường hợp đấu giá tài sản quy định tại Điều 59 của Luật này.

Thực tiễn áp dụng quy định nêu trên về đấu giá không thành đã nảy sinh rất nhiều trường hợp mà đấu giá viên không biết nên tuyên bố là đấu giá thành hay đấu giá không thành. Nhiều đấu giá viên cho rằng, theo phương pháp suy luận, ngoài những trường hợp đấu giá không thành thì những trường hợp còn lại sẽ được xác định là đấu giá thành. Tuy nhiên, nếu theo phương pháp suy luận này, thực tiễn thực hiện đấu giá tài sản sẽ có mâu thuẫn, chồng chéo so với các quy định khác của Luật Đấu giá tài sản.

Thứ nhất, trường hợp khách hàng trả giá cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên có được tuyên là đấu giá không thành?

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì chỉ được xác định là đấu giá không thành khi giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp không công khai giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên. Tuy nhiên, trên thực tiễn đấu giá tài sản ở Việt Nam thì hầu hết đấu giá theo phương thức trả giá lên đều công khai giá khởi điểm đối với tài sản thuộc diện phải đưa ra đấu giá theo quy định của pháp luật.

Ví dụ: Công ty đấu giá hợp danh A đấu giá tài sản là 01 lô tài sản thiết bị văn phòng (có danh mục chi tiết kèm theo). Giá khởi điểm 200 triệu đồng. Phương thức đấu giá lên. Hình thức đấu giá bỏ phiếu gián tiếp tại cuộc đấu giá. Tại buổi công giá, chỉ có 03 khách hàng đăng ký tham gia đấu giá. Kết quả trả giá: 01 khách hàng trả giá 175 triệu, 01 khách hàng trả giá 189 triệu, 01 khách hàng trả giá 190 triệu. Với giá đã trả nêu trên thì cả 03 khách hàng đều trả giá dưới giá khởi điểm. Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp này có được tuyên cuộc đấu giá không thành hay không? Căn cứ đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì đây là trường hợp công khai giá khởi điểm, do đó, sẽ không có căn cứ để áp dụng điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản. Trong trường hợp này, đấu giá viên không thể căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản để tuyên cuộc đấu giá không thành. Đấu giá viên cũng không thể tuyên cuộc đấu giá thành vì giá đã trả thấp hơn với giá khởi điểm được công bố (khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản). Để tránh tình huống này xảy ra, các tổ chức đấu giá thường quy định trong quy chế cuộc đấu giá là khách hàng tham gia đấu giá phải chấp nhận giá khởi điểm. Tuy nhiên, nếu khách hàng trả giá cao nhất vẫn trả giá thấp hơn giá khởi điểm cũng không bị xử lý vi phạm và đấu giá viên cũng không có căn cứ để tuyên cuộc đấu giá không thành theo Luật Đấu giá tài sản.

Thứ hai, trường hợp áp dụng quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đối với tài sản lần đầu đưa ra đấu giá chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá có được tuyên đấu giá không thành?

Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 quy định: Việc đấu giá tài sản trong trường hợp chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá chỉ được tiến hành sau khi đã tổ chức cuộc đấu giá lần đầu nhưng không thành. Căn cứ vào quy định này thì đối với các loại tài sản lần đầu đưa ra đấu giá nếu chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá thì đấu giá viên sẽ không được bán tài sản và cần phải tuyên cuộc đấu giá không thành. Việc tuyên bố đấu giá không thành lần đầu là một trong những điều kiện để lần thứ hai tổ chức cuộc đấu giá, đấu giá viên có thể được bán tài sản nếu tiếp tục chỉ có một người đăng ký tham gia đấu giá, một người tham gia đấu giá, một người trả giá, một người chấp nhận giá với sự đồng ý của người có tài sản theo quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 52 của Luật này thì trường hợp lần đầu đưa tài sản ra đấu giá quy định tại Điều 49 đang không được ghi nhận là đấu giá không thành.

Ví dụ: Công ty đấu giá hợp danh B đấu giá tài sản thi hành án dân sự lần đầu là 01 ngôi nhà 03 tầng có tổng diện tích là 120m2 gắn liền với 81,5 m2 đất tại số 5, tổ 8, phố M, phường N, quận K, thành phố Y. Giá khởi điểm 3.8 tỷ. Tài sản lần đầu tiên đưa ra đấu giá có 02 khách hàng đăng ký tham gia đấu giá nhưng tại cuộc đấu giá chỉ có 01 khách hàng tham gia đấu giá. Căn cứ vào quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2916 thì do tài sản đấu giá đưa ra đấu giá lần đầu nên không được bán tài sản trong trường hợp này. Tuy nhiên, khi căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản về đấu giá tài sản không thành thì không quy định đây là trường hợp đấu giá không thành. Việc này gây khó khăn cho người có tài sản là chấp hành viên không biết có được giảm giá tài sản hay không và tổ chức đấu giá không biết sẽ xác định chi phí dịch vụ như thế nào? Trước đây, theo hệ thống các văn bản liên quan về trình tự, thủ tục đấu giá thì trường hợp này được xác định là đấu giá không thành và chấp hành viên căn cứ Điều 104 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) để làm thủ tục giảm giá tài sản tiếp tục đưa ra đấu giá. Đặc biệt, đối với các tổ chức đấu giá khi rơi vào trường hợp này sẽ thiếu căn cứ để thanh toán chi phí thực tế hợp lý trong trường hợp đấu giá không thành. Tác giả thấy rằng, tại Điều 52 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đã chưa dự liệu hết trường hợp đấu giá không thành như trong tình huống thực tiễn nêu trên. Tổ chức đấu giá và người có tài sản cần phải xác định đây là trường hợp đấu giá không thành.

Thứ ba, trường hợp quy định tại Điều 41 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá khách hàng trả giá cao nhất chỉ bằng giá khởi điểm có được tuyên là đấu giá không thành?

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 41 Luật Đấu giá tài sản: Đấu giá viên công bố người đã trả giá cao nhất là người trúng đấu giá sau khi nhắc lại ba lần giá cao nhất đã trả và cao hơn giá khởi điểm mà không có người trả giá cao hơn. Quy định này cho phép đấu giá viên chỉ xác định được người trúng đấu giá đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói khi người trả giá cao nhất phải cao hơn giá khởi điểm. Đây là một điểm lưu ý rất đặc biệt đối với tổ chức đấu giá khi lựa chọn hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói.

Ví dụ: Tại cuộc đấu giá tài sản bảo đảm lần đầu là 108 m2 đất ở tại số 8, ngõ 10, phố P, phường K, quận N, thành phố H. Giá khởi điểm là 1,9 tỷ đồng. Hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói.

Có 05 khách hàng tham gia đấu giá những chỉ có 01 khách hàng trả giá, 1,9 tỷ và 04 khách hàng còn lại không trả giá. Trường hợp này căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 41 Luật Đấu giá tài sản không tuyên bố người trúng đấu giá được vì khách hàng chỉ trả bằng giá khởi điểm. Bên cạnh đó, căn cứ Điều 49 Luật Đấu giá tài sản năm 2016 thì đây là trường hợp có nhiều khách hàng tham gia đấu giá nhưng chỉ có 01 người trả giá thì cũng không được bán tài sản đối với tài sản lần đầu đưa ra đấu giá. Tuy nhiên, căn cứ vào Điều 52 Luật Đấu giá tài sản thì đây là trường hợp không được quy định là đấu giá không thành. Bên cạnh đó, căn cứ vào khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản quy định “người trúng đấu giá là cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên”. Khi gặp tình huống này, đấu giá viên sẽ không biết phải tuyên đấu giá thành hay đấu giá không thành? Đây là một tình huống rất dễ dẫn tới tranh chấp tại Tòa án giữa người trúng đấu giá, tổ chức đấu giá và người có tài sản. Người có tài sản cho rằng căn cứ vào Điều 41, Điều 49 Luật Đấu giá tài sản sẽ không được bán tài sản cho 01 người trả giá ở lần bán tài sản đầu tiên. Tổ chức đấu giá và người trúng đấu giá thì cho rằng căn cứ Điều 52 Luật Đấu giá tài sản đây không thuộc trường hợp đấu giá không thành. Căn cứ vào khoản 8 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản thì vẫn xác định được người trúng đấu giá đúng luật. Tác giả cho rằng, trong trường hợp này lại là sự thiếu sót của Luật Đấu giá tài sản khi quy định chưa hết các trường hợp đấu giá không thành. Nếu tuyên bố người trúng đấu giá trong trường hợp này sẽ tạo điều kiện cho các khách hàng thông đồng, dìm giá và mất hết đi ý nghĩa tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản, không cho phép bán tài sản lần đầu khi chỉ có 01 khách hàng trả giá. Bên cạnh đó, việc xác định đấu giá thành trong trường hợp này còn vi phạm Điều 41 Luật Đấu giá tài sản đối với hình thức đấu giá trực tiếp bằng lời nói bắt buộc người trả giá sau phải trả giá cao hơn người trả giá liền kề. Đối với hình thức đấu giá bằng lời nói theo quy định của Luật Đấu giá tài sản thì chỉ xác định được người trúng đấu giá sau khi đấu giá viên nhắc lại ba lần giá cao nhất đã trả và cao hơn giá khởi điểm mà không có người trả giá cao hơn.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đấu giá không thành trong Luật Đấu giá tài sản

Thứ nhất, cần sửa đổi quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Luật Đấu giá tài sản theo hướng sẽ tuyên là đấu giá không thành trong trường hợp giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm trong trường hợp cả 02 trường hợp là không công khai giá khởi điểm và công khai giá khởi điểm. Theo đó, chỉ cần thiết kế điểm c khoản 1 Điều 52 như sau: “Giá trả cao nhất mà vẫn thấp hơn giá khởi điểm và cuộc đấu giá được thực hiện theo phương thức trả giá lên”.

Thứ hai, bổ sung thêm trường hợp đấu giá tài sản lần đầu theo quy định tại Điều 49 Luật Đấu giá tài sản là một trong những trường hợp đấu giá không thành trong quy định tại Điều 52 Luật Đấu giá tài sản.

Thứ ba, bổ sung thêm trường hợp đấu giá trực tiếp bằng lời nói chỉ có 01 khách hàng trả giá bằng giá khởi điểm tại Điều 41 Luật Đấu giá tài sản là trường hợp đấu giá không thành theo quy định tại Điều 52 Luật Đấu giá tài sản. Theo đó, cần sửa quy định tại khoản 5 Điều 8 Luật Đấu giá tài sản cho chặt chẽ hơn theo hướng: “Người trúng đấu giá là cá nhân, tổ chức trả giá cao nhất so với giá khởi điểm hoặc bằng giá khởi điểm trong trường hợp không có người trả giá cao hơn giá khởi điểm khi đấu giá theo phương thức trả giá lên, trừ trường hợp quy định tại Điều 41 Luật này”.

TS. Lê Thị Hương Giang
Học viện Tư pháp

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: