Thứ ba 25/08/2026 06:54
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật Hình sự

Bài viết chỉ ra một số tồn tại trong quy định và áp dụng pháp luật về dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” trong một số tội phạm thuộc Chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.



1. Một số bất cập trong quy định và áp dụng pháp luật

Trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015), dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” là dấu hiệu quy định trong cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại 86 điều luật. Cụ thể là 05 điều (Điều 159, 163, 164, 165, 167) trong Chương XV - Các tội xâm phạm quyền tự do của con người; quyền tự do, dân chủ của công dân; 05 điều (Điều 172, 173, 174, 175 và 178) trong Chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu; 05 điều (Điều 181, 182, 183, 185, 186) trong Chương XVII - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình; 25 điều (Điều 188, 189, 190, 191, 192, 195, 197, 198, 199, 200, 201, 202, 209, 216, 217a, 219, 220, 221, 222, 225, 226, 227, 228, 232, 234) trong Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; 07 điều (Điều 235, 240, 242, 243, 244, 245, 246) trong Chương XIX - Các tội phạm về môi trường; 07 điều (Điều 247, 249, 250, 252, 253, 254, 259) trong Chương XX - Các tội phạm về ma túy; 24 điều (Điều 266, 268, 269, 270, 271, 274, 275, 276, 278, 286, 287, 293, 294, 296, 297, 306, 314, 316, 317, 318, 320, 321, 322, 326) trong Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng; 06 điều (Điều 332, 340, 343, 345, 346, 347) trong Chương XXII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính; 02 điều (Điều 380, 388) trong Chương XIV - Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Mặc dù, Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính đã hết hay chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt, tuy nhiên, quá trình áp dụng cần xác định: Việc xử phạt vi phạm hành chính phải chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Nếu đã hết thời hạn thì không áp dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thực tiễn áp dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” là dấu hiệu định tội trong cấu thành cơ bản của tội phạm được quy định tại 05 điều trong Chương XVI - Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật Hình sự năm 2015 có một số tồn tại sau đây:

Thứ nhất, xác định các hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch tài sản của người này thành tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Trong Chương XVI, có 08 tội xâm phạm sở hữu mang tính chất chiếm đoạt tài sản, bao gồm: Tội cướp tài sản; tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong 08 tội phạm này, có 04 tội quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp trị giá tài sản bị chiếm đoạt dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, bao gồm: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172), tội trộm cắp tài sản (Điều 173), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174) và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175). Vấn đề đặt ra là hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính được bao gồm những hành vi nào?

Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (viết tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999) cũng quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt” trong cấu thành cơ bản của 04 tội phạm nêu trên. Tại tiểu mục 1.3, Mục 1 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25/12/2001 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật Hình sự năm 1999 xác định có 10 hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính, bao gồm: Cướp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; cướp giật tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Vậy có vận dụng hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP để xác định các hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính trong Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không?

Nghiên cứu 10 hành vi chiếm đoạt tài sản nêu trên, chúng tôi cho rằng, Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP xác định hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản và cướp giật tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính là không chính xác. Bởi vì, dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” chỉ quy định trong cấu thành cơ bản của các tội phạm mà trị giá tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu bắt buộc để định tội, bao gồm: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chính vì trị giá tài sản là dấu hiệu bắt buộc để định tội, nên người phạm tội phải chiếm đoạt trên mức tối thiểu (02 triệu đồng hoặc 04 triệu đồng), nếu dưới mức tối thiểu thì một trong các điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”. Đối với các tội phạm cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản và cướp giật tài sản, trị giá tài sản không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội, nó chỉ có ý nghĩa định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong các tội phạm này, người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi thì đã cấu thành tội phạm, do vậy, các hành vi này luôn là tội phạm, không thể là vi phạm hành chính và bị xử phạt như trong Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP xác định. Đây cũng chính là lý do Bộ luật Hình sự năm 1999 cũng như Bộ luật Hình sự năm 2015 không quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” trong cấu thành cơ bản của tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản và cướp giật tài sản. Theo chúng tôi, các hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt không bao gồm 04 hành vi cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản và cướp giật tài sản như trong Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP xác định.

Cùng với dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính, cả Bộ luật Hình sự năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015 đều xác định dấu hiệu đã bị kết án về một số tội phạm chưa được xóa án tích là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp trị giá tài sản bị chiếm đoạt dưới mức tối thiểu. Trong Bộ luật Hình sự năm 1999, số lượng tội phạm bị kết án này bao gồm 10 tội (theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP là 08 tội xâm phạm sở hữu mang tính chất chiếm đoạt tài sản, cùng với tội tham ô tài sản và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản). Trong Bộ luật Hình sự năm 2015, số lượng tội phạm này là 09 tội (08 tội xâm phạm sở hữu mang tính chất chiếm đoạt tài sản và tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản – Điều 290). Việc Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP xác định 10 tội chiếm đoạt tài sản bị kết án tương ứng với 10 hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt hành chính, vậy có xác định hành vi tham ô tài sản và hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản bị xử lý kỷ luật là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 2015 hay không? Ngoài 04 hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính (công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) còn hành vi chiếm đoạt tài sản nào khác bị xử phạt vi phạm chính hoặc xử lý kỷ luật là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự?

Thứ hai, so với trường hợp người dưới 18 tuổi bị kết án về một số tội phạm chưa được xóa án tích là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu áp dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” sẽ không có lợi đối với người dưới 18 tuổi, trong khi trường hợp người dưới 18 tuổi “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản” có tính chất, mức độ nguy hiểm thấp hơn trường hợp đã bị kết án. Theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi” bị kết án; người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý” thì không có án tích. Như vậy, người dưới 18 tuổi bị kết án về các tội phạm nói chung, tội phạm xâm phạm sở hữu nói riêng thỏa mãn điều kiện nêu trên thì không bị coi là có án tích, khi đó sẽ không bị áp dụng dấu hiệu “đã bị kết án về tội… chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản và hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

Theo khoản 1 Điều 5 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm hành chính”. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không loại trừ trách nhiệm đối với người dưới 18 tuổi, người dưới 18 tuổi vẫn có thể bị xử phạt nếu đủ điều kiện. Như vậy, nếu người dưới 18 tuổi “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi…” và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt theo Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì vẫn bị áp dụng dấu hiệu này để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, sử dụng trái phép tài sản và hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

So sánh hai trường hợp trên thấy rằng, trường hợp “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi…” có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn trường hợp “đã bị kết án về tội…”, tuy nhiên, lại áp dụng dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” mà không áp dụng dấu hiệu “đã bị kết án” để truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp trị giá tài sản dưới mức tối thiểu. Việc áp dụng như vậy là đúng theo quy định của pháp luật, nhưng bất hợp lý, bởi lẽ, người dưới 18 tuổi trước đó có hành vi nguy hiểm hơn, nhưng lại có lợi hơn nếu vi phạm về sau trong một số trường hợp.

Thứ ba, dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính trong Điều 177 Bộ luật Hình sự năm 2015. Khoản 1 Điều 177 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định cấu thành cơ bản của tội sử dụng trái phép tài sản với nội dung: “Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc dưới 500.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật này thì bị phạt…”. Như vậy, một trong những điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội sử dụng trái phép tài sản là tài sản bị sử dụng trái phép có trị giá từ 100 triệu đồng trở lên và trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép tài sản. Theo chúng tôi, việc Bộ luật Hình sự quy định thỏa mãn đồng thời cả 02 điều kiện nêu trên là không hợp lý, bởi lẽ, nếu tài sản bị sử dụng trái phép có trị giá rất lớn cũng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự nếu trước đó chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, điều này không đáp ứng yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trên thực tiễn. Cùng với đó, quy định ở trên sẽ xung đột với các tội phạm xâm phạm sở hữu cũng quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” (tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp tài sản, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản) do các tội phạm này đều quy định theo hướng, tài sản có trị giá trên mức tối thiểu, nếu dưới mức tối thiểu thì truy cứu trách nhiệm hình sự nếu trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính, không cần thỏa mãn đồng thời cả hai điều kiện.

2. Kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

Một là, thời gian tới, đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết, hoặc liên ngành tư pháp Trung ương ban hành Thông tư liên tịch xác định, hướng dẫn áp dụng thống nhất các hành vi chiếm đoạt tài sản bị xử phạt vi phạm hành chính là điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự trong Chương các tội xâm phạm sở hữu Bộ luật Hình sự năm 2015, cũng như hướng dẫn giải quyết những vướng mắc khác có liên quan đến các tội phạm xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự.

Hai là, nghiên cứu, sửa đổi quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 theo hướng không áp dụng thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính đối với người dưới 18 tuổi; hoặc sửa đổi dấu hiệu “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm” thành “người từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm”.

Sở dĩ tác giả không đề xuất sửa đổi Điều 107 Bộ luật Hình sự hiện hành quy định về xóa án tích đối với người dưới 18 tuổi, bởi vì, khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định không có án tích chỉ trong một số trường hợp, không phải tất cả các tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự. Nếu sửa đổi sẽ ảnh hưởng tới chính sách hình sự “tăng tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội”, không đạt được nguyên tắc “bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” quy định tại Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015. Cùng với đó, mặc dù không bị coi là có án tích, tuy nhiên người dưới 18 tuổi vẫn bị kết án và khi đó các cơ quan chức năng, trong đó có lực lượng Công an nhân dân vẫn áp dụng các biện pháp giáo dục, phòng ngừa nghiệp vụ đối với họ.

Ba là, sửa đổi khoản 1 Điều 177 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng như sau: “Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là di vật, cổ vật tại Điều 219 và Điều 220 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.

ThS. Nguyễn Văn Tùng
ThS. Bùi Công Thắng
Học viện Cảnh sát nhân dân

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: