Thứ năm 15/01/2026 08:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đẩy mạnh triển khai Quy chế số 02 - Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp

Trước thực trạng chậm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp còn diễn ra tại một số địa phương trên cả nước, đặc biệt, triển khai nhiệm vụ Bộ luật Hình sự năm 2015 giao cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Trước thực trạng chậm thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp còn diễn ra tại một số địa phương trên cả nước, đặc biệt, triển khai nhiệm vụ Bộ luật Hình sự năm 2015 giao cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp) cấp Phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích đối với các trường hợp đương nhiên được xóa án tích, tại Thông báo số 02/TB-BCA-BTP ngày 23/02/2017 của Bộ Công an và Bộ Tư pháp về việc Thông báo kết luận của Bộ trưởng Bộ Công an và Bộ trưởng Bộ Tư pháp về công tác phối hợp năm 2017 và các năm tiếp theo, đã giao cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia phối hợp với Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát (nay là Cục Hồ sơ nghiệp vụ - V06), Bộ Công an ký quy chế phối hợp trong việc tra cứu, xác minh thông tin lý lịch tư pháp qua đường điện tử để cấp Phiếu lý lịch tư pháp. Ngày 29/6/2018, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp và Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an đã ký Quy chế số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 phối hợp tra cứu, xác minh thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp, có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 (gọi tắt là Quy chế số 02). Theo Quy chế số 02, Sở Tư pháp sẽ tiến hành đồng thời tra cứu tại 03 cơ quan: Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp - Cục Hồ sơ nghiệp vụ, Bộ Công an - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh trên đường truyền mạng qua Phần mềm Hỗ trợ tra cứu, xác minh, thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp (gọi tắt là phần mềm). Phần mềm này do Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và đơn vị cung cấp phần mềm nâng cấp từ phần mềm “kiềng ba chân” và đã cài đặt cho các Sở Tư pháp đang thực hiện giải pháp “kiềng ba chân” sử dụng từ ngày 01/1/2019. Ngoài ra, Quy chế số 02 đã quy định Cục Hồ sơ nghiệp vụ và Phòng Hồ sơ nghiệp vụ có trách nhiệm trả kết quả trong thời hạn 05 ngày làm việc, trường hợp có thông tin liên quan đến việc khởi tố, kết án thì thời hạn 09 ngày làm việc, qua đó, bảo đảm cho Sở Tư pháp kịp thời trong công tác cấp Phiếu lý lịch tư pháp và rút ngắn thời hạn cấp Phiếu theo tinh thần cải cách hành chính của địa phương.

Để triển khai thực hiện tốt Quy chế số 02, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã có văn bản hướng dẫn các Sở Tư pháp trên toàn quốc thực hiện một số nội dung liên quan. Cụ thể: Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Sở Tư pháp phải thực hiện việc xác minh hành vi phạm tội mới để xem xét điều kiện đương nhiên được xóa án tích và cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho người bị kết án khi có yêu cầu. Để xác định một người có hành vi phạm tội mới, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Sở Tư pháp căn cứ vào quyết định khởi tố bị can của cơ quan điều tra đã được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn hoặc quyết định khởi tố bị can của Viện kiểm sát theo quy định. Ngoài ra, để xác định một người có thực hiện hành vi phạm tội mới hay không còn phải căn cứ vào một số quyết định khác của cơ quan tiến hành tố tụng, như: Quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can; quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án; quyết định phục hồi điều tra, phục hồi vụ án... Như vậy, trường hợp người từng bị kết án có hành vi phạm tội mới thì Sở Tư pháp cũng phải xem xét về tiến trình tố tụng của người đó để thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp được chính xác, đầy đủ.

Trong khi đó, theo Điều 4 Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015, có 03 hệ thống cơ quan điều tra, bao gồm: (i) Cơ quan Điều tra của Công an nhân dân; (ii) Cơ quan Điều tra trong Quân đội nhân dân; (iii) Cơ quan Điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Ngoài ra, tại Điều 9 Luật này còn có 07 nhóm các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, như: Các cơ quan của Bộ đội biên phòng; Hải quan; Kiểm lâm; Kiểm ngư; Cảnh sát biển; một số cơ quan của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân.

Do đó, nếu thực hiện theo quy định tại Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/01/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp và Điều 25 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, Sở Tư pháp chỉ tiến hành xác minh thông tin đương sự có bị khởi tố hay không tại tại Ủy ban nhân dân cấp xã/Công an cấp xã hoặc chỉ tại Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh là chưa đủ thông tin vì hầu như cơ quan điều tra không gửi quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn về nơi cư trú của bị can hoặc đương sự có hành vi phạm tội ở ngoài tỉnh nhưng khi làm tờ khai yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp chỉ khai cư trú duy nhất trong tỉnh (Nghị định số 111/2010/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ban hành trước khi có Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự nên nhiều nội dung, trong đó có nội dung này còn bất cập). Vì những lý do nêu trên, để đảm bảo thông tin lý lịch tư pháp được chính xác, khách quan, toàn diện và cập nhật được thông tin về hành vi phạm tội mới của người yêu cầu cấp phiếu thì phải tra cứu trên phần mềm mới tích hợp đầy đủ được thông tin.

Về nội dung này, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã hướng dẫn tại Công văn số 558/TTLLTPQG-HCTH ngày 26/12/2018 về việc hướng dẫn nghiệp vụ lý lịch tư pháp gửi Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để kịp thời tra cứu, xác minh và trả kết quả, đề nghị Sở Tư pháp ngay sau khi tiếp nhận hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp, chuyển toàn bộ hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp đồng thời đến Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - Bộ Tư pháp, Cục Hồ sơ nghiệp vụ - Bộ Công an và Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh trên đường truyền mạng, thông qua Phần mềm Hỗ trợ tra cứu, xác minh, thông tin để cấp Phiếu lý lịch tư pháp đã được cài đặt cho Sở Tư pháp, ngoại trừ các trường hợp Sở Tư pháp tự chủ động tra cứu, xác minh tại Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp để cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Luật Lý lịch tư pháp.

Như vậy, việc thực hiện đầy đủ Quy chế số 02 sẽ giúp Sở Tư pháp tiết kiệm được thời gian xác minh hành vi phạm tội mới tại Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời bảo đảm tính chính xác, đầy đủ đối với loại thông tin này.

Đối với Cục Hồ sơ nghiệp vụ (V06), Bộ Công an: Để bảo đảm cho lực lượng hồ sơ nghiệp vụ trong toàn ngành Công an triển khai thực hiện Quy chế số 02 đồng bộ, hiệu quả, Cục Hồ sơ nghiệp vụ đã ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quy chế số 02. Ngày 07/3/2019, Cục Hồ sơ nghiệp vụ đã tổ chức Hội nghị tập huấn công tác tra cứu, xác minh thông tin và hướng dẫn cài đặt, quản trị, sử dụng phần mềm “giải pháp công nghệ thông tin” để cấp Phiếu lý lịch tư pháp nhằm tập huấn cho cán bộ thuộc Cục Hồ sơ nghiệp vụ và Phòng Hồ sơ nghiệp vụ (PV06) Công an các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

Để thực hiện Quy chế số 02 được toàn diện, đầy đủ, bảo đảm 63/63 địa phương triển khai thực hiện, ngày 30/5/2019, Lãnh đạo Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 1974/BTP-TTLLTPQG về việc triển khai Quy chế số 02/QCPH-TTLLTPQG-C53 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để chỉ đạo các cơ quan liên quan trên địa bàn thực hiện.

Sau khi Công văn số 1974/BTP-TTLLTPQG của Bộ Tư pháp nêu trên được ban hành, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố, các Sở Tư pháp đã nghiêm túc thực hiện đúng theo yêu cầu, chỉ đạo của Bộ Tư pháp; bố trí cán bộ, đầu tư trang thiết bị, phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện đầy đủ những nội dung của Quy chế số 02. Công an các tỉnh/thành cũng khẩn trương thực hiện theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố và Cục Hồ sơ nghiệp vụ.

Hiện nay, sau một thời gian ngắn thực hiện, Quy chế số 02 đã phát huy hiệu quả tích cực, chỉ trong Quý II/2019, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã phối hợp với Cục Hồ sơ nghiệp vụ và các Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh đã tra cứu xác minh và trả kết quả cho Sở Tư pháp hơn 140.000 hồ sơ để cấp Phiếu lý lịch tư pháp, cơ bản bảo đảm thời hạn theo đúng Quy chế và sớm hơn thời hạn Luật định. Hơn nữa, do tra cứu 03 bên (Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Cục Hồ sơ nghiệp vụ và Phòng Hồ sơ nghiệp vụ) nên tính chính xác của kết quả tra cứu, xác minh được bảo đảm, toàn diện và đầy đủ. Việc triển khai Quy chế số 02 đã được các Sở Tư pháp đồng tình, ủng hộ, đặc biệt là mang lại lợi ích thiết thực trực tiếp cho công dân Việt Nam và người nước ngoài có yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

N.H

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: