Thứ hai 21/09/2026 02:51
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Di sản dùng vào việc thờ cúng là quyền sử dụng đất

Thờ cúng là một nếp sống văn hóa lâu đời của dân tộc ta, thể hiện lòng tôn kính người đã chết, đồng thời giáo dục các thế hệ sau kính trọng và ghi nhớ công ơn các bậc trên. Di sản dùng vào việc thờ cúng là một “đặc thù” của pháp luật Việt Nam vì nhiều hệ thống pháp luật không thấy xuất hiện chế định này .

1. Quy định của pháp luật dân sự về di sản dùng vào việc thờ cúng qua các thời kỳ

Người Việt Nam vốn xem thờ cúng tổ tiên là trách nhiệm thiêng liêng của con cháu đối với thế hệ đi trước, thể hiện sự thành kính và biết ơn đối với những người đã có công sinh thành và dưỡng dục. Để phong tục này được duy trì và phát triển, pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến đến nay đều có những quy định về hương hỏa nói riêng và di sản thờ cúng nói chung. Văn bản pháp luật cổ xưa nhất có thể kể đến là Bộ luật Hồng Đức có đến 13 điều quy định riêng về hương hỏa. Sau đó, Bộ luật Dân sự Sài Gòn năm 1972 cũng dành hẳn 50 điều luật quy định về vấn đề này. Đã có thời điểm pháp luật quy định về hương hỏa, tức thờ cúng là một nghĩa vụ bắt buộc của con cháu đối với ông bà, tổ tiên[1]. Chẳng hạn như, Điều 388 Bộ luật Hồng Đức quy định rằng: Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em, chị em tự chia nhau, thì lấy 1/20 số ruộng đất làm phần hương hỏa. Bên cạnh đó, Điều 83 Bộ luật Gia Long cũng quy định phải dành một phần di sản của người quá cố để lập hương hỏa.

Thuật ngữ “hương hỏa” được kế thừa thành thuật ngữ “di sản dùng vào việc thờ cúng” cho đến nay. Tuy nhiên, Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 và các Bộ luật Dân sự về sau không quy định chi tiết như trước. Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 chỉ dành duy nhất Điều 21 trong Chương 2 về thừa kế theo di chúc để quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng. Hai Bộ luật Dân sự năm 1995 và năm 2005 cũng chỉ dành duy nhất hai điều luật quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng (Điều 651 và Điều 673 thuộc Chương II về Thừa kế theo di chúc của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 648 và 670 Bộ luật Dân sự năm 2005 thuộc Chương XXIII về thừa kế theo di chúc của Bộ luật Dân sự năm 2005). Kế thừa các Bộ luật Dân sự trước đây, thuật ngữ “di sản dùng vào việc thờ cúng” cũng chỉ được quy định duy nhất tại hai điều luật là Điều 626 và Điều 645 thuộc Chương XXII về thừa kế theo di chúc của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, một người trước khi chết có thể lập di chúc để lại một phần di sản của mình dùng vào việc thờ cúng. Như vậy, từ năm 1995 đến nay, thờ cúng không còn là nghĩa vụ bắt buộc của con cháu đối với thế hệ đi trước. Chính vì vậy mà các Tòa án đã xét rằng, nếu không có di chúc thì không có di sản dùng vào việc thờ cúng[2]. Di sản, theo Điều 612 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Điều này cũng có nghĩa là, di sản dùng vào việc thờ cúng bao gồm cả bất động sản như đất đai, nhà thờ tự,… và động sản như bàn thờ, bát hương,… Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả chỉ đề cập đến di sản dùng vào việc thờ cúng là quyền sử dụng đất. Theo khoản 2 Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp di sản của người chết đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì họ mới được dành một phần di sản, trong đó có quyền sử dụng đất, dùng vào việc thờ cúng. Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định di sản dùng vào việc thờ cúng như sau: Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng. Với quy định này, có thể hiểu rằng, phần di sản dùng vào việc thờ cúng chỉ được dùng cho việc thờ cúng mà không thuộc quyền sở hữu của bất kỳ người thừa kế hoặc người nào khác. Di sản này cũng chỉ được sử dụng cho việc thờ cúng mà không được chia thừa kế. Đồng thời, phần di sản này được giao cho người được chỉ định trong di chúc để quản lý và thực hiện việc thờ cúng. Ngoài ra, Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định cụ thể về việc chỉ định người quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng như sau: Một là, người để lại di chúc chỉ định trong di chúc người quản lý phần di sản dùng vào việc thờ cúng; hai là, những người thừa kế cũng có thể giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của người thừa kế. Đối với trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng. Nếu những người thừa kế theo di chúc đều chết thì phần di sản dùng vào việc thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. Như vậy, với những quy định tại khoản 3 Điều 626 và Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể thấy rằng, việc để lại di sản thừa kế dùng vào việc thờ cúng, trong đó có quyền sử dụng đất, được thực hiện theo ý chí của người lập di chúc. Phần quyền sử dụng đất này không được chia thừa kế nên không được phép chuyển nhượng, trừ trường hợp để thanh toán nghĩa vụ do người chết để lại mà toàn bộ di sản không đủ để thực hiện.

2. Quy định của pháp luật đất đai về di sản dùng vào việc thờ cúng là quyền sử dụng đất

Tại Việt Nam, có thể thấy rằng, di sản dùng vào việc thờ cúng thường là nhà ở, nhà thờ gắn liền với quyền sử dụng đất nên di sản dùng vào việc thờ cúng có giá trị ngày càng lớn, tiềm ẩn nguy cơ tranh chấp cao do bản chất phức tạp của các mối quan hệ dòng tộc nhiều đời[3]. Với “tư cách” là luật chuyên ngành điều chỉnh các vấn đề về/liên quan đến đất đai, Luật Đất đai năm 2013 cũng đã có những quy định nhất định đối với di sản dùng vào việc thờ cúng là quyền sử dụng đất dù không trực tiếp.

Căn cứ vào mục đích sử dụng đất, Điều 10 Luật Đất đai năm 2013 phân loại đất đai thành 03 loại như sau:

Thứ nhất, nhóm đất nông nghiệp được xác định gồm: (i) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; (ii) Đất trồng cây lâu năm; (iii) Đất rừng sản xuất; (iv) Đất rừng phòng hộ; (v) Đất rừng đặc dụng; (vi) Đất nuôi trồng thủy sản; (vii) Đất làm muối; (viii) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh.

Thứ hai, nhóm đất phi nông nghiệp: (i) Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; (ii) Đất xây dựng trụ sở cơ quan; (iii) Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; (iv) Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; (v) Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; đất thương mại, dịch vụ; đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp; đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm; (vi) Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông (cảng hàng không, sân bay, cảng đường thủy nội địa, cảng hàng hải, hệ thống đường sắt, hệ thống đường bộ và công trình giao thông khác); thủy lợi; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; đất sinh hoạt cộng đồng, khu vui chơi, giải trí công cộng; đất công trình năng lượng; đất công trình bưu chính, viễn thông; đất chợ; đất bãi thải, xử lý chất thải và đất công trình công cộng khác; (vii) Đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; (viii) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; (ix) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng; (x) Đất phi nông nghiệp khác gồm đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động trong cơ sở sản xuất; đất xây dựng kho và nhà để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và đất xây dựng công trình khác của người sử dụng đất không nhằm mục đích kinh doanh mà công trình đó không gắn liền với đất ở.

Thứ ba, nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.

Như vậy, Luật Đất đai năm 2013 không phân loại “đất dùng vào việc thờ cúng” nhưng có thể hiểu rằng, đất được dùng vào việc thờ cúng có thể là một trong các loại đất vừa nêu trên. Tuy nhiên, theo nhóm tác giả, “đất dùng vào việc thờ cúng” thường là “đất phi nông nghiệp”, cụ thể là đất ở đô thị/nông thôn. Bởi lẽ, việc “thờ cúng” gắn liền với “nơi để thờ cúng” nên trên thửa đất dùng vào việc thờ cúng thường sẽ phải xây dựng công trình nhằm mục đích thờ cúng hoặc kết hợp vừa để ở, vừa thờ cúng. Do đó, phải là “đất ở” thì mới có thể xây dựng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng.

Theo khoản 1 Điều 95 Luật Đất đai năm 2013, đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý. Theo đó, quyền sử dụng đất dùng vào việc thờ cúng cũng phải đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như quy định tại Điều 97 Luật Đất đai năm 2013. Bên cạnh đó, điểm h khoản 8 Điều 6 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (được sửa đổi bởi khoản 6 Điều 6 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai và sửa đổi, bổ sung một số điều của các thông tư hướng dẫn thi hành Luật Đất đai) quy định về việc thể hiện nguồn gốc sử dụng đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất như sau: “Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất mà phải cấp Giấy chứng nhận cho bên nhận chuyển quyền thì ghi lần lượt hình thức nhận chuyển quyền (như nhận chuyển đổi; nhận chuyển nhượng; nhận thừa kế; được tặng cho; nhận góp vốn; trúng đấu giá; xử lý nợ thế chấp; giải quyết tranh chấp; do giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện quyết định (hoặc bản án) của Tòa án; thực hiện quyết định thi hành án;…); tiếp theo ghi nguồn gốc sử dụng đất như trên Giấy chứng nhận đã cấp lần đầu và được thể hiện theo quy định tại Thông tư này. Ví dụ: “Nhận chuyển nhượng đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất”. Tổ chức A đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân trước năm 2005, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận, nay sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh, khi công nhận quyền sử dụng đất sẽ ghi trên Giấy chứng nhận là “Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất”. Như vậy, theo quy định hiện hành, trên Giấy chứng nhận tại mục ghi thông tin “Nguồn gốc đất” sẽ không có nguồn gốc là “nhận thừa kế quyền sử dụng đất để dùng vào việc thờ cúng”.

Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường đã quy định về việc thể hiện nội dung tại điểm Ghi chú trên Giấy chứng nhận như sau: “Trường hợp trong quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, hợp đồng hoặc văn bản nhận chuyển quyền sử dụng đất và các giấy tờ khác về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; giấy tờ về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại các điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP có nội dung hạn chế về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì ghi nội dung hạn chế theo giấy tờ đó”.

Như vậy, về mặt lý thuyết, nếu người chết để lại di chúc (hoặc trường hợp các đồng thừa kế thỏa thuận trong trường hợp không có di chúc) với nội dung di sản là quyền sử dụng đất được dùng vào việc thờ cúng thì các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất này sẽ bị hạn chế, cụ thể là không được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp,... Do đó, tại mục Ghi chú của Giấy chứng nhận cần thể hiện nội dung hạn chế này theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Có thể thấy, pháp luật đất đai đưa ra những quy định mang tính “tương đối” nhằm bảo đảm ý chí của người để lại di sản bằng cách ghi các nội dung hạn chế (trong đó có việc hạn chế chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp đối với quyền sử dụng đất là di sản dùng vào việc thờ cúng) vào mục “Ghi chú” trên Giấy chứng nhận. Tuy nhiên, khái niệm về hạn chế quyền sở hữu còn chưa phổ biến tại Việt Nam[4] và vấn đề hạn chế một số quyền đối với quyền sử dụng đất vì mục đích thờ cúng cũng tương tự như vậy.

3. Một số bất cập và kiến nghị

Một là, quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng trong Bộ luật Dân sự hiện nay còn quá “mỏng”.

Không chỉ di sản là quyền sử dụng đất mà đối với di sản là các tài sản khác thì quy định của Bộ luật Dân sự hiện nay còn quá “mỏng”, chưa thiết lập được một nền móng vững chắc cho quy định này[5]. Do đó, thiết nghĩ trong tương lai, các nhà làm luật cần cân nhắc một cách nghiêm túc để bổ khuyết cho sự “thiếu vắng” các quy định này.

Hai là, pháp luật đất đai hiện nay đánh giá chưa đủ tầm quan trọng của di sản dùng vào việc thờ cúng là quyền sử dụng đất.

Việc ghi nhận nội dung hạn chế đối với quyền sử dụng đất chỉ được hướng dẫn ở cấp độ thông tư, cụ thể là khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo nhóm tác giả, việc hướng dẫn này có thể bị bỏ qua trong quá trình cấp Giấy chứng nhận, từ đó dẫn đến những tranh chấp không đáng có trong thực tiễn.

Ví dụ như vụ kiện yêu cầu thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp cho ông Huỳnh Ngọc Luyến[6]. Theo nội dung vụ án này thì nguồn gốc các thửa đất số 49 và 50 tờ bản đồ số 10 xã Diên Phú, huyện Diên Khánh do cha mẹ ông Luyến là ông Huỳnh Ngọc Minh và bà Trần Thị Huệ tạo lập. Năm 1992, ông Huỳnh Ngọc Minh chết, không để lại di chúc. Ngày 25/10/1995, mẹ ông Luyến (Trần Thị Huệ) cùng các con (Huỳnh Ngọc Long, Huỳnh Ngọc Luyến, Huỳnh Thị Ngọc Liên, Huỳnh Thị Lý, Huỳnh Thị Lai) lập văn bản thỏa thuận chuyển đất từ đường hương hỏa cho ông Huỳnh Ngọc Luyến với nội dung: Ông Luyến được quyền đăng ký, sử dụng toàn bộ diện tích 880m2 đất; ông Luyến phải bảo quản, quản lý đất gò mã của gia tộc, đồng thời không được sang nhượng với bất cứ hình thức nào. Ông Huỳnh Ngọc Luyến được Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00863QSDĐ/DP-DK ngày 14/10/1998 với diện tích 880m2 đất tại các thửa 49, 50 tờ bản đồ số 10 xã Diên Phú. Ngày 01/6/2006, ông Luyến chuyển nhượng 150m2 cho bà Huỳnh Thị Ngọc, bà Ngọc cũng đã được Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cũng trong ngày này, ông Luyến chuyển nhượng 148m2 cho bà Huỳnh Thị Lai, Huỳnh Thị Liên. Việc chuyển nhượng đất của ông Luyến đã bị gia đình ông khiếu nại và sau đó Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh phải thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00863QSDĐ/DP-DK đã cấp cho ông Luyến. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa cho rằng trong vụ án này có sự thiếu sót của cơ quan tham mưu: Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Diên Khánh không phát hiện trong hồ sơ văn bản thỏa thuận ghi “không được quyền sang nhượng với bất cứ hình thức nào” nên đã đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Diên Khánh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Luyến mà không ghi hạn chế về quyền định đoạt đối với diện tích đất cấp cho ông Luyến là không thể hiện đúng ý chí của các bên trong văn bản thỏa thuận về việc “chuyển quyền sử dụng đất từ đường hương hỏa”.

Từ đó cho thấy, quy định về việc ghi nhận nội dung hạn chế tại mục “Ghi chú” trên Giấy chứng nhận hiện nay theo khoản 1 Điều 11 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường là chưa thực sự thỏa đáng đối với di sản thờ cúng là quyền sử dụng đất. Bởi lẽ, khoản 5 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 có quy định minh thị về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ trong trường hợp không có tranh chấp. Việc ghi nhận cụ thể như khoản 5 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 là quan trọng “vì theo pháp luật hiện hành, một khi được pháp luật công nhận là người sở hữu hợp pháp thì chủ thể có thể thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản (một cách thuận lợi trong trường hợp không có người tranh chấp hoặc trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền không biết về nội dung di chúc về việc dùng tài sản làm di sản thờ cúng), bao gồm cả việc chuyển nhượng cho chủ thể khác với mục tiêu không phải để phục vụ công việc thờ cúng”[7]. Vì vậy, nhóm tác giả kiến nghị, việc ghi nhận di sản thờ cúng là quyền sử dụng đất cần được ghi nhận cụ thể trong Luật Đất đai và cần tương thích với các quy định của pháp luật dân sự trong cùng vấn đề. Do đó, trước mắt cần nâng cấp việc ghi nhận di sản dùng vào việc thờ cúng là quyền sử dụng đất từ cấp độ thông tư lên cấp độ nghị định để “mở đường” cho tiến trình chỉnh lý quy định này trong tương lai.

ThS. Nguyễn Phúc Thiện,

Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

TS. Lâm Tố Trang

Trưởng Bộ môn Luật dân sự, Khoa Luật, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Ảnh: internet


[1] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2021), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tr. 524.

[2] Đỗ Văn Đại (2019), tlđd, tr. 356.

[3] Lê Vũ Nam và Lê Bích Thủy (2021), Quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng thông qua công cụ tín thác, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210866, truy cập ngày 09/3/2024.

[4] Lê Vũ Nam và Lê Bích Thuỷ (2021), tlđd.

[5] Xem thêm: Lê Hoàng Nam (2022), Xác lập di sản dùng vào việc thờ cúng theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, tr. 66 - 72.

[6] Nguyễn Đình Nhựt (2017), VKSND tỉnh Khánh Hòa: Kiến nghị UBND huyện Diên Khánh trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, http://vkskh.gov.vn/vksnd-tinh-khanh-hoa-kien-nghi-ubnd-huyen-dien-khanh-trong-viec-cap-giay-chung_819_238_2_a.html, truy cập ngày 09/3/2024.

[7] Lê Vũ Nam và Lê Bích Thuỷ (2021), tlđd.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: