Thứ năm 08/10/2026 07:35
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Địa vị pháp lý của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay

Công chức tư pháp - hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp - hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu, địa vị pháp lý của công chức hộ tịch – tư pháp cấp xã là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã khi thực hiện công tác tư pháp được pháp luật quy định. Công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã là bộ phận chuyên môn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cơ sở đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp cấp trên, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện của Ngành Tư pháp nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần duy trì pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội ở cơ sở. Bài viết dưới đây tác giả đã khái quát chung về địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch và thực trạng công tác tổ chức, trưng dụng, điều động công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện nay cũng như một số giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của UBND xã giai đoạn hiện nay.

1. Khái quát chung về địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch xuất phát từ quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, các quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và các bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó của công chức tư pháp - hộ tịch. Công chức tư pháp - hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước về công tác tư pháp trên địa bàn.

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng công an; chỉ huy trưởng quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội”. Đồng thời, “công chức cấp xã do cấp huyện quản lý” (khoản 3 Điều 61). Điều 72 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định công chức làm công tác hộ tịch bao gồm: Công chức tư pháp - hộ tịch ở cấp xã; công chức làm công tác hộ tịch ở phòng tư pháp thuộc UBND cấp huyện; viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại cơ quan đại diện. Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã ngoài các tiêu chuẩn chung như các chức danh công chức khác phải có các tiêu chuẩn như: Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch; có chữ viết rõ ràng và trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc. Nhiệm vụ cụ thể của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là tham mưu, giúp UBND phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp - hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;

- Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và UBND phường báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định; tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn phường;

- Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức văn hóa - xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn phường;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở.

Ngoài ra, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là cán bộ đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của UBND cấp xã, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do chủ tịch UBND cấp xã giao.

Như vậy, có thể hiểu, địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã khi thực hiện công tác tư pháp được pháp luật quy định. Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là bộ phận chuyên môn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cơ sở có chức năng giúp chính quyền cơ sở thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên. Đồng thời, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp cấp trên, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện của Ngành Tư pháp nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần duy trì pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội ở cơ sở.

Với địa vị pháp lý như vậy, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chính quyền địa phương. Đảng, Nhà nước ta coi công tác tư pháp cấp xã là một trong những biện pháp quan trọng góp phần tăng cường mối quan hệ, đoàn kết, nhất trí của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Công chức tư pháp - hộ tịch là những người thường xuyên và trực tiếp tiếp xúc với nhân dân địa phương, giải quyết yêu cầu, kiến nghị của nhân dân, là người trực tiếp xử lý các công việc hàng ngày của Nhà nước; trực tiếp giải quyết những công việc của địa phương mình và lắng nghe mọi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân mà không phải qua khâu trung gian nào, như vậy, công chức tư pháp - hộ tịch là những người thường xuyên, hàng ngày áp dụng pháp luật và bằng hành vi hành chính của mình giải quyết các công việc hành chính trong nội bộ địa phương; phổ biến, triển khai thực hiện mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và giải quyết những công việc hành chính ở địa phương về chứng thực, hộ tịch, hòa giải ở cơ sở, thi hành án dân sự, hình sự, quản lý nhà nước trên địa bàn…, các công việc này nếu được giải quyết tốt ở cơ sở thì hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ cao hơn.

2. Thực trạng công tác tổ chức và trưng dụng, điều động công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện nay

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Vì vậy, khi công chức tư pháp - hộ tịch được giao công việc phù hợp với khả năng, sở trường, họ sẽ phát huy năng lực làm việc một cách tối đa, thực hiện tốt vai trò của mình trong những điều kiện bình thường nhất. Tuy nhiên, thực tế, công tác tổ chức và trưng dụng, điều động công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện nay ở một số địa phương đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của tư pháp cơ sở, cụ thể:

Thứ nhất, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thuộc quyền quản lý, điều động của UBND cấp cơ sở nên thường xuyên bị điều chuyển công tác, thay đổi nhiệm vụ, do vậy Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp về góc độ quản lý nhà nước không thể can thiệp được. Mặt khác, công chức tư pháp - hộ tịch là vị trí dễ bị thay đổi theo nhiệm kỳ của UBND nên chuyên môn bị hạn chế do không được bồi dưỡng nghiệp vụ kịp thời. Đây chính là nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch.

Thứ hai, nhiệm vụ tư pháp ở cơ sở còn rất nặng nề, đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau và không ổn định. Hiện nay, ở các xã, phường, thị trấn, công chức tư pháp - hộ tịch ngoài việc tham mưu, giúp UBND phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) phải đảm nhiệm 12 đầu việc, trong đó có việc đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi đó, trên thực tế, tính chất chuyên môn của công tác hộ tịch và các công tác tư pháp khác (công tác văn bản, tuyên truyền pháp luật, hòa giải…) rất khác nhau, không phù hợp với việc ghép chung một cách cơ học hai loại nhiệm vụ này trong cùng một chức danh tư pháp - hộ tịch. Cũng chính vì phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau nên công chức tư pháp - hộ tịch không có thời gian đầu tư cho việc nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cập nhật kịp thời những văn bản mới; cũng từ nguyên nhân này mà đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch không được chuyên nghiệp.

Theo số liệu rà soát đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội, tính đến ngày 30/9/2015, tổng số xã, phường, thị trấn là 584, tổng số công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là 965. Tổng số xã có 02 công chức tư pháp - hộ tịch là 345. Như vậy, trong tổng số 584 đơn vị hành chính cấp xã, có 345 số xã có 02 công chức tư pháp - hộ tịch (đạt 59,07%). Trong đó, về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ luật là 03, đại học, cao đẳng luật là 639, trung cấp luật là 234, thạc sỹ chuyên ngành khác là 03; đại học, cao đẳng chuyên ngành khác là 82, trung cấp chuyên ngành khác là 04. Số công chức tư pháp - hộ tịch có trình độ chuyên môn chuyên ngành luật là 876 trong tổng số 965 số công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã (đạt 90,78%). Về thời gian làm công tác tư pháp của công chức tư pháp - hộ tịch: Số công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã làm trên 10 năm là 304, từ 5 năm đến 10 năm là 312, dưới 05 năm là 349. Trong năm 2015, 100% số công chức tư pháp - hộ tịch được xếp loại đánh giá công chức loại A.

Tại Hà Nội, đối với UBND cấp xã, đến nay trên địa bàn 584 xã, phường, thị trấn của thành phố Hà Nội có 908 cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã. Nhiều xã, phường còn chưa đủ 02 chỉ tiêu biên chế theo quy định. Đa số cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ mới hiện nay là kiêm nhiệm. Chưa kể ngoài các công việc cụ thể được quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và phòng tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, còn phải làm nhiều việc khác bao gồm từ tổng hợp đơn thư, tiếp công dân đến theo dõi các hoạt động dân số, trẻ em… Khó khăn nữa là, qua mỗi đợt bầu cử, các kỳ đại hội, các nhiệm kỳ Đảng bộ, Ngành Tư pháp lại “mất” nhiều cán bộ do cán bộ tư pháp được cân nhắc lên những vị trí mới. Người mới được tuyển dụng qua thi tuyển công chức thì chưa có kinh nghiệm nên khó bắt nhịp ngay được với công việc. Việc nhiều dẫn đến cán bộ tư pháp phải kiêm nhiệm nhiều việc và đành “sức đến đâu, làm đến đó”. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thực thi công việc của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã cũng như hiệu quả triển khai công tác tư pháp nói chung và các nhiệm vụ mới của Ngành Tư pháp nói riêng.

Thứ ba, một số địa phương vẫn còn coi nhẹ công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, có địa phương chỉ tổ chức triển khai khi có những văn bản mới mà không định kỳ tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ hộ tịch; chính vì không được kịp thời bồi dưỡng nghiệp vụ nên số công chức mới không đáp ứng được yêu cầu công việc. Cụ thể, tại Hà Nội, trong năm 2015, số cán bộ, công chức tư pháp - hộ tịch được bồi dưỡng nghiệp vụ trong năm là 163/965 tổng số cán bộ, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã.

3. Một số giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân xã giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ tính chất và yêu cầu quản lý công tác tư pháp của UBND cấp xã, để tạo điều kiện cho công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện tốt công việc của mình, phục vụ cho nhu cầu, nhiệm vụ chính của Ngành và của địa phương, cần phải có quy định cụ thể về quyền hạn, nghĩa vụ và các bảo đảm thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ đó cho công chức tư pháp - hộ tịch trên thực tế thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp. Đồng thời, căn cứ kế hoạch, chuyên đề của phòng tư pháp cấp trên trong từng lĩnh vực công tác để chỉ đạo công chức tư pháp - hộ tịch tổ chức thực hiện ở cơ sở; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về hoạt động tư pháp cấp xã trong các hoạt động nghiệp vụ như đăng ký, quản lý hộ tịch, soạn thảo văn bản, phổ biến giáo dục pháp luật…

Để đáp ứng yêu cầu công việc nói trên cần quan tâm đến trách nhiệm, vị trí, vai trò, địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội. Đồng thời, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, quy định rõ cơ chế hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các ban, ngành thuộc UBND cấp xã và công chức tư pháp - hộ tịch tương đối đầy đủ, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng đã phát sinh một số hạn chế. Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong một số hoạt động tư pháp chưa được phân cấp cụ thể và rõ ràng như lĩnh vực quốc tịch, thi hành án dân sự...; chưa có căn cứ pháp lý để làm cơ sở cho việc xác định số lượng công chức tư pháp - hộ tịch phù hợp với khối lượng công việc mà từng địa phương phải thực hiện. Việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng đối với công chức cấp xã... đang thiếu những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh; về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã, UBND khi giao cho đơn vị soạn thảo văn bản pháp luật chưa quy định bắt buộc là phải qua công chức tư pháp - hộ tịch ký duyệt thẩm định mà chỉ có trách nhiệm gửi văn bản đã ký thông qua lên phòng tư pháp cấp huyện để thẩm định. Vì vậy, công chức tư pháp - hộ tịch chưa có điều kiện về hành lang pháp lý tư vấn cho UBND cấp xã trong việc soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Thực tế cho thấy, cần thiết phải có những biện pháp nhằm cải thiện hệ thống thể chế, thiết chế pháp luật tạo điều kiện để UBND cấp xã thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tư pháp của mình. Vì vậy, cần tiến hành rà soát toàn bộ các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý công tác tư pháp của UBND cấp xã để thúc đẩy quá trình sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định pháp luật chưa phù hợp hoặc còn thiếu theo hướng phân cấp thẩm quyền rõ ràng, có cơ chế làm việc cụ thể và hiệu quả cho công chức tư pháp - hộ tịch. Hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn tuyển dụng, chế độ tiền lương, thưởng và phụ cấp đảm bảo nguồn nhân lực cho chính quyền cấp xã và đời sống của công chức tư pháp - hộ tịch.

Hai là, nâng cao năng lực công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch có vai trò quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện công tác tư pháp. Do vậy, việc nâng cao năng lực cho công chức tư pháp - hộ tịch là rất cần thiết. Các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của công chức tư pháp - hộ tịch gồm: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ theo hình thức tập trung hoặc không tập trung về quản lý hành chính, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật. Nội dung đào tạo thiết thực, phù hợp với yêu cầu công việc mà công chức tư pháp - hộ tịch đảm nhiệm; tích cực biên soạn các tài liệu nghiệp vụ, kiến thức pháp luật phổ thông cấp phát cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch; cải thiện chế độ tiền lương, thưởng, đồng thời giáo dục ý thức và tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch.

Ba là, cải cách chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với công chức tư pháp - hộ tịch

Tiền lương và phụ cấp công vụ phải thực sự đúng với nguyên tắc hưởng theo năng lực, đặc biệt đối với công chức có tài năng và cống hiến nhiều. Tăng thu nhập cho công chức có năng lực chuyên môn để họ có đủ nhu cầu sinh hoạt và tái sản xuất sức lao động là trách nhiệm của các ngành, các địa phương cần vận dụng các chính sách khoán sản phẩm, đề án, đề tài, khoán chi hành chính thưởng… Cần chú ý phân biệt điều kiện và tiêu chuẩn để xác định tiêu chuẩn chức danh, trong đó bằng cấp, học vị là điều kiện; trình độ, năng lực, hiểu biết kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn là tiêu chuẩn. Đặc biệt, tiêu chuẩn cho từng chức danh phải dựa trên cơ sở mô tả đặc điểm, yêu cầu của từng công việc và chức năng, nhiệm vụ cụ thể... nhằm làm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, thực sự có tính khoa học, đảm bảo cho đội ngũ công chức thống nhất theo nguyên tắc, chuẩn mực chung để họ yên tâm công tác.

Bốn là, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính

Mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý phục vụ nhân dân. Đó là những yêu cầu mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra cho hệ thống tư pháp. Công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta đang là tâm điểm trong các nỗ lực của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới phát triển, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, do đó cải cách thủ tục hành chính phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản: Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở phải thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả; thủ tục hành chính được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính đạt mức trên 80% vào năm 2020 và đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch có đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thực thi công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự phát triển của đất nước; 100% công chức tư pháp - hộ tịch được bố trí theo đúng vị trí việc làm.

Trên cơ sở những cải cách đối với thủ tục hành chính, cần nâng cao địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với công tác tư pháp ở cơ sở theo hướng:

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc mà mình đảm nhiệm.

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách nhiệm và đạo đức công vụ khi thực hiện công việc được giao, có tinh thần hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp.

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện đúng các quy định của pháp luật với ý thức tự giác và kỷ luật nghiêm minh, tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách làm việc.

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã kính trọng, lễ phép với nhân dân; tôn trọng quyền con người, quyền công dân; gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của dân và khiêm tốn học hỏi nhân dân.

Như vậy, muốn nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính công trong quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân, thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc phải rõ ràng, thời gian giải quyết được rút ngắn, từng loại thủ tục được niêm yết công khai, minh bạch đã tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đến liên hệ giải quyết công việc… Công chức tư pháp - hộ tịch giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công tác tư pháp cấp xã vì các thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Để thực hiện được những công việc trên, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn của một công chức cấp xã nói chung, công chức tư pháp - hộ tịch phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện theo quy định tiêu chuẩn của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch. Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng các quy định vào tình hình thực tế địa phương của công chức tư pháp - hộ tịch có đạt hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan như: Môi trường chính trị - luật pháp; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật; trình độ phát triển dân trí; trình độ học vấn của công chức cấp xã; vị trí công việc, khối lượng công việc, điều kiện lao động...

ThS. Trần Thị Mai

UBND phường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: