Thứ hai 16/03/2026 04:40
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Địa vị pháp lý của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp xã giai đoạn hiện nay

Công chức tư pháp - hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp - hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu, địa vị pháp lý của công chức hộ tịch – tư pháp cấp xã là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã khi thực hiện công tác tư pháp được pháp luật quy định. Công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã là bộ phận chuyên môn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cơ sở đồng thời chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp cấp trên, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện của Ngành Tư pháp nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần duy trì pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội ở cơ sở. Bài viết dưới đây tác giả đã khái quát chung về địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch và thực trạng công tác tổ chức, trưng dụng, điều động công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện nay cũng như một số giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của UBND xã giai đoạn hiện nay.

1. Khái quát chung về địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch xuất phát từ quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, các quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và các bảo đảm thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó của công chức tư pháp - hộ tịch. Công chức tư pháp - hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp xã quản lý nhà nước về công tác tư pháp trên địa bàn.

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng công an; chỉ huy trưởng quân sự; văn phòng - thống kê; địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); tài chính - kế toán; tư pháp - hộ tịch; văn hóa - xã hội”. Đồng thời, “công chức cấp xã do cấp huyện quản lý” (khoản 3 Điều 61). Điều 72 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định công chức làm công tác hộ tịch bao gồm: Công chức tư pháp - hộ tịch ở cấp xã; công chức làm công tác hộ tịch ở phòng tư pháp thuộc UBND cấp huyện; viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại cơ quan đại diện. Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã ngoài các tiêu chuẩn chung như các chức danh công chức khác phải có các tiêu chuẩn như: Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch; có chữ viết rõ ràng và trình độ tin học phù hợp theo yêu cầu công việc. Nhiệm vụ cụ thể của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là tham mưu, giúp UBND phường thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực tư pháp - hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật và trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phổ biến, giáo dục pháp luật; quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật và tổ chức lấy ý kiến nhân dân trên địa bàn cấp xã trong việc tham gia xây dựng pháp luật;

- Kiểm tra, rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và UBND phường báo cáo cơ quan có thẩm quyền theo quy định; tham gia công tác thi hành án dân sự trên địa bàn phường;

- Thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực theo quy định của pháp luật; phối hợp với công chức văn hóa - xã hội hướng dẫn xây dựng hương ước, quy ước ở thôn, tổ dân phố và công tác giáo dục tại địa bàn phường;

- Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện công tác hòa giải ở cơ sở.

Ngoài ra, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là cán bộ đầu mối kiểm soát thủ tục hành chính của UBND cấp xã, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật chuyên ngành và do chủ tịch UBND cấp xã giao.

Như vậy, có thể hiểu, địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là tổng thể các quy định của pháp luật về vị trí, vai trò, quyền và nghĩa vụ pháp lý và các bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ đó trên thực tế của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã khi thực hiện công tác tư pháp được pháp luật quy định. Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là bộ phận chuyên môn, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của chính quyền cơ sở có chức năng giúp chính quyền cơ sở thực hiện tốt các nhiệm vụ nói trên. Đồng thời, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan tư pháp cấp trên, là nơi trực tiếp tổ chức thực hiện của Ngành Tư pháp nhằm đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, nâng cao ý thức pháp luật, góp phần duy trì pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ và công bằng xã hội ở cơ sở.

Với địa vị pháp lý như vậy, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chính quyền địa phương. Đảng, Nhà nước ta coi công tác tư pháp cấp xã là một trong những biện pháp quan trọng góp phần tăng cường mối quan hệ, đoàn kết, nhất trí của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Công chức tư pháp - hộ tịch là những người thường xuyên và trực tiếp tiếp xúc với nhân dân địa phương, giải quyết yêu cầu, kiến nghị của nhân dân, là người trực tiếp xử lý các công việc hàng ngày của Nhà nước; trực tiếp giải quyết những công việc của địa phương mình và lắng nghe mọi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân mà không phải qua khâu trung gian nào, như vậy, công chức tư pháp - hộ tịch là những người thường xuyên, hàng ngày áp dụng pháp luật và bằng hành vi hành chính của mình giải quyết các công việc hành chính trong nội bộ địa phương; phổ biến, triển khai thực hiện mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng, Nhà nước và giải quyết những công việc hành chính ở địa phương về chứng thực, hộ tịch, hòa giải ở cơ sở, thi hành án dân sự, hình sự, quản lý nhà nước trên địa bàn…, các công việc này nếu được giải quyết tốt ở cơ sở thì hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước sẽ cao hơn.

2. Thực trạng công tác tổ chức và trưng dụng, điều động công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện nay

Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Vì vậy, khi công chức tư pháp - hộ tịch được giao công việc phù hợp với khả năng, sở trường, họ sẽ phát huy năng lực làm việc một cách tối đa, thực hiện tốt vai trò của mình trong những điều kiện bình thường nhất. Tuy nhiên, thực tế, công tác tổ chức và trưng dụng, điều động công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã hiện nay ở một số địa phương đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hoạt động của tư pháp cơ sở, cụ thể:

Thứ nhất, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thuộc quyền quản lý, điều động của UBND cấp cơ sở nên thường xuyên bị điều chuyển công tác, thay đổi nhiệm vụ, do vậy Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp về góc độ quản lý nhà nước không thể can thiệp được. Mặt khác, công chức tư pháp - hộ tịch là vị trí dễ bị thay đổi theo nhiệm kỳ của UBND nên chuyên môn bị hạn chế do không được bồi dưỡng nghiệp vụ kịp thời. Đây chính là nguyên nhân làm giảm hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hộ tịch.

Thứ hai, nhiệm vụ tư pháp ở cơ sở còn rất nặng nề, đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau và không ổn định. Hiện nay, ở các xã, phường, thị trấn, công chức tư pháp - hộ tịch ngoài việc tham mưu, giúp UBND phường, thị trấn (sau đây gọi chung là UBND cấp xã) phải đảm nhiệm 12 đầu việc, trong đó có việc đăng ký và quản lý hộ tịch. Trong khi đó, trên thực tế, tính chất chuyên môn của công tác hộ tịch và các công tác tư pháp khác (công tác văn bản, tuyên truyền pháp luật, hòa giải…) rất khác nhau, không phù hợp với việc ghép chung một cách cơ học hai loại nhiệm vụ này trong cùng một chức danh tư pháp - hộ tịch. Cũng chính vì phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau nên công chức tư pháp - hộ tịch không có thời gian đầu tư cho việc nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn cũng như cập nhật kịp thời những văn bản mới; cũng từ nguyên nhân này mà đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch không được chuyên nghiệp.

Theo số liệu rà soát đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội, tính đến ngày 30/9/2015, tổng số xã, phường, thị trấn là 584, tổng số công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã là 965. Tổng số xã có 02 công chức tư pháp - hộ tịch là 345. Như vậy, trong tổng số 584 đơn vị hành chính cấp xã, có 345 số xã có 02 công chức tư pháp - hộ tịch (đạt 59,07%). Trong đó, về trình độ chuyên môn: Thạc sỹ luật là 03, đại học, cao đẳng luật là 639, trung cấp luật là 234, thạc sỹ chuyên ngành khác là 03; đại học, cao đẳng chuyên ngành khác là 82, trung cấp chuyên ngành khác là 04. Số công chức tư pháp - hộ tịch có trình độ chuyên môn chuyên ngành luật là 876 trong tổng số 965 số công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã (đạt 90,78%). Về thời gian làm công tác tư pháp của công chức tư pháp - hộ tịch: Số công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã làm trên 10 năm là 304, từ 5 năm đến 10 năm là 312, dưới 05 năm là 349. Trong năm 2015, 100% số công chức tư pháp - hộ tịch được xếp loại đánh giá công chức loại A.

Tại Hà Nội, đối với UBND cấp xã, đến nay trên địa bàn 584 xã, phường, thị trấn của thành phố Hà Nội có 908 cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã. Nhiều xã, phường còn chưa đủ 02 chỉ tiêu biên chế theo quy định. Đa số cán bộ công chức thực hiện nhiệm vụ mới hiện nay là kiêm nhiệm. Chưa kể ngoài các công việc cụ thể được quy định tại Thông tư liên tịch số 23/2014/TTLT-BTP-BNV ngày 22/12/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và phòng tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh, còn phải làm nhiều việc khác bao gồm từ tổng hợp đơn thư, tiếp công dân đến theo dõi các hoạt động dân số, trẻ em… Khó khăn nữa là, qua mỗi đợt bầu cử, các kỳ đại hội, các nhiệm kỳ Đảng bộ, Ngành Tư pháp lại “mất” nhiều cán bộ do cán bộ tư pháp được cân nhắc lên những vị trí mới. Người mới được tuyển dụng qua thi tuyển công chức thì chưa có kinh nghiệm nên khó bắt nhịp ngay được với công việc. Việc nhiều dẫn đến cán bộ tư pháp phải kiêm nhiệm nhiều việc và đành “sức đến đâu, làm đến đó”. Điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thực thi công việc của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã cũng như hiệu quả triển khai công tác tư pháp nói chung và các nhiệm vụ mới của Ngành Tư pháp nói riêng.

Thứ ba, một số địa phương vẫn còn coi nhẹ công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ, chuyên môn, có địa phương chỉ tổ chức triển khai khi có những văn bản mới mà không định kỳ tổ chức bồi dưỡng về nghiệp vụ hộ tịch; chính vì không được kịp thời bồi dưỡng nghiệp vụ nên số công chức mới không đáp ứng được yêu cầu công việc. Cụ thể, tại Hà Nội, trong năm 2015, số cán bộ, công chức tư pháp - hộ tịch được bồi dưỡng nghiệp vụ trong năm là 163/965 tổng số cán bộ, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã.

3. Một số giải pháp nâng cao địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân xã giai đoạn hiện nay

Xuất phát từ tính chất và yêu cầu quản lý công tác tư pháp của UBND cấp xã, để tạo điều kiện cho công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện tốt công việc của mình, phục vụ cho nhu cầu, nhiệm vụ chính của Ngành và của địa phương, cần phải có quy định cụ thể về quyền hạn, nghĩa vụ và các bảo đảm thực hiện quyền hạn và nghĩa vụ đó cho công chức tư pháp - hộ tịch trên thực tế thực hiện nhiệm vụ công tác tư pháp. Đồng thời, căn cứ kế hoạch, chuyên đề của phòng tư pháp cấp trên trong từng lĩnh vực công tác để chỉ đạo công chức tư pháp - hộ tịch tổ chức thực hiện ở cơ sở; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về hoạt động tư pháp cấp xã trong các hoạt động nghiệp vụ như đăng ký, quản lý hộ tịch, soạn thảo văn bản, phổ biến giáo dục pháp luật…

Để đáp ứng yêu cầu công việc nói trên cần quan tâm đến trách nhiệm, vị trí, vai trò, địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội. Đồng thời, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, quy định rõ cơ chế hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các ban, ngành thuộc UBND cấp xã và công chức tư pháp - hộ tịch tương đối đầy đủ, tuy nhiên, trong quá trình áp dụng đã phát sinh một số hạn chế. Hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp xã trong một số hoạt động tư pháp chưa được phân cấp cụ thể và rõ ràng như lĩnh vực quốc tịch, thi hành án dân sự...; chưa có căn cứ pháp lý để làm cơ sở cho việc xác định số lượng công chức tư pháp - hộ tịch phù hợp với khối lượng công việc mà từng địa phương phải thực hiện. Việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng đối với công chức cấp xã... đang thiếu những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh; về quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã, UBND khi giao cho đơn vị soạn thảo văn bản pháp luật chưa quy định bắt buộc là phải qua công chức tư pháp - hộ tịch ký duyệt thẩm định mà chỉ có trách nhiệm gửi văn bản đã ký thông qua lên phòng tư pháp cấp huyện để thẩm định. Vì vậy, công chức tư pháp - hộ tịch chưa có điều kiện về hành lang pháp lý tư vấn cho UBND cấp xã trong việc soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương. Thực tế cho thấy, cần thiết phải có những biện pháp nhằm cải thiện hệ thống thể chế, thiết chế pháp luật tạo điều kiện để UBND cấp xã thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ tư pháp của mình. Vì vậy, cần tiến hành rà soát toàn bộ các văn bản pháp luật liên quan đến quản lý công tác tư pháp của UBND cấp xã để thúc đẩy quá trình sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định pháp luật chưa phù hợp hoặc còn thiếu theo hướng phân cấp thẩm quyền rõ ràng, có cơ chế làm việc cụ thể và hiệu quả cho công chức tư pháp - hộ tịch. Hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn tuyển dụng, chế độ tiền lương, thưởng và phụ cấp đảm bảo nguồn nhân lực cho chính quyền cấp xã và đời sống của công chức tư pháp - hộ tịch.

Hai là, nâng cao năng lực công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã

Đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch có vai trò quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện công tác tư pháp. Do vậy, việc nâng cao năng lực cho công chức tư pháp - hộ tịch là rất cần thiết. Các giải pháp nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của công chức tư pháp - hộ tịch gồm: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ theo hình thức tập trung hoặc không tập trung về quản lý hành chính, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật. Nội dung đào tạo thiết thực, phù hợp với yêu cầu công việc mà công chức tư pháp - hộ tịch đảm nhiệm; tích cực biên soạn các tài liệu nghiệp vụ, kiến thức pháp luật phổ thông cấp phát cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch; cải thiện chế độ tiền lương, thưởng, đồng thời giáo dục ý thức và tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch.

Ba là, cải cách chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ đối với công chức tư pháp - hộ tịch

Tiền lương và phụ cấp công vụ phải thực sự đúng với nguyên tắc hưởng theo năng lực, đặc biệt đối với công chức có tài năng và cống hiến nhiều. Tăng thu nhập cho công chức có năng lực chuyên môn để họ có đủ nhu cầu sinh hoạt và tái sản xuất sức lao động là trách nhiệm của các ngành, các địa phương cần vận dụng các chính sách khoán sản phẩm, đề án, đề tài, khoán chi hành chính thưởng… Cần chú ý phân biệt điều kiện và tiêu chuẩn để xác định tiêu chuẩn chức danh, trong đó bằng cấp, học vị là điều kiện; trình độ, năng lực, hiểu biết kỹ năng nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn là tiêu chuẩn. Đặc biệt, tiêu chuẩn cho từng chức danh phải dựa trên cơ sở mô tả đặc điểm, yêu cầu của từng công việc và chức năng, nhiệm vụ cụ thể... nhằm làm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, thực sự có tính khoa học, đảm bảo cho đội ngũ công chức thống nhất theo nguyên tắc, chuẩn mực chung để họ yên tâm công tác.

Bốn là, yêu cầu cải cách thủ tục hành chính

Mục tiêu của công cuộc cải cách tư pháp là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý phục vụ nhân dân. Đó là những yêu cầu mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đề ra cho hệ thống tư pháp. Công cuộc cải cách hành chính nhà nước ta đang là tâm điểm trong các nỗ lực của Đảng và Nhà nước nhằm tiến tới phát triển, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, do đó cải cách thủ tục hành chính phải đáp ứng được các yêu cầu cơ bản: Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở phải thông suốt, trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả; thủ tục hành chính được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính đạt mức trên 80% vào năm 2020 và đội ngũ công chức tư pháp - hộ tịch có đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thực thi công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự phát triển của đất nước; 100% công chức tư pháp - hộ tịch được bố trí theo đúng vị trí việc làm.

Trên cơ sở những cải cách đối với thủ tục hành chính, cần nâng cao địa vị pháp lý của công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã trong thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với công tác tư pháp ở cơ sở theo hướng:

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã có năng lực chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công việc mà mình đảm nhiệm.

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã tận tâm, mẫn cán với công việc, thể hiện trách nhiệm và đạo đức công vụ khi thực hiện công việc được giao, có tinh thần hợp tác, giúp đỡ đồng nghiệp.

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện đúng các quy định của pháp luật với ý thức tự giác và kỷ luật nghiêm minh, tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách làm việc.

- Công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã kính trọng, lễ phép với nhân dân; tôn trọng quyền con người, quyền công dân; gần dân, lắng nghe ý kiến nguyện vọng của dân và khiêm tốn học hỏi nhân dân.

Như vậy, muốn nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính công trong quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân, thủ tục hành chính, quy trình giải quyết công việc phải rõ ràng, thời gian giải quyết được rút ngắn, từng loại thủ tục được niêm yết công khai, minh bạch đã tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân đến liên hệ giải quyết công việc… Công chức tư pháp - hộ tịch giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện công tác tư pháp cấp xã vì các thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân. Để thực hiện được những công việc trên, ngoài việc đáp ứng các tiêu chuẩn của một công chức cấp xã nói chung, công chức tư pháp - hộ tịch phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện theo quy định tiêu chuẩn của đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch. Tuy nhiên, việc triển khai áp dụng các quy định vào tình hình thực tế địa phương của công chức tư pháp - hộ tịch có đạt hiệu quả cao hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan như: Môi trường chính trị - luật pháp; trình độ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật; trình độ phát triển dân trí; trình độ học vấn của công chức cấp xã; vị trí công việc, khối lượng công việc, điều kiện lao động...

ThS. Trần Thị Mai

UBND phường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.

Theo dõi chúng tôi trên: