Thứ hai 19/01/2026 17:52
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới trong quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay

Có thể nhận thấy, trong suốt quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì khâu xây dựng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường là rất quan trọng.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định mới của pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam với những cải cách mạnh mẽ nhằm cải thiện môi trường, bảo đảm sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững.

Abstract: The article analyzes the new legal provisions on environmental impact assessment in Vietnam with strong reforms to improve the environment, ensure public health and sustainable development.

1. Đối tượng thực hiện đánh giá tác động môi trường

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực đạt số điểm cụ thể như: Philippines 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm... Còn theo kết quả nghiên cứu khác tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe[1]. Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường. Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhiều doanh nghiệp hoạt động có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường cần được kiểm soát chặt chẽ. Có một số trường hợp, nhiều chủ thể thực hiện những hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tuy đã bị xử lý vi phạm nhưng những hậu quả để lại vẫn kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, ngoài việc dựa vào các tiêu chí môi trường cụ thể, cần căn cứ vào tính chất, mục đích, nội dung, quy mô của dự án, địa điểm thực hiện dự án… để tiến hành thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thật sự có hiệu quả trong thực tế.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định các dự án sau đây thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường:

(i) Các dự án thuộc nhóm I là nhóm dự án đầu tư có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao, bao gồm 06 loại dự án:

- Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn; dự án thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại; dự án có nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất;

- Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường; dự án không thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô lớn hoặc với quy mô trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất lớn hoặc với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất quy mô trung bình trở lên nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu di dân, tái định cư với quy mô lớn.

(ii) Các dự án thuộc nhóm II là nhóm dự án đầu tư có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, trong đó có 04 loại dự án cụ thể phải thực hiện đánh giá tác động môi trường:

- Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô trung bình hoặc với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất trung bình hoặc với quy mô, công suất nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu di dân, tái định cư với quy mô trung bình.

Tuy nhiên, đối với các dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật quy định không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường.

2. Thực hiện đánh giá tác động môi trường

Có thể thấy, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong quá trình xây dựng khung pháp lý về môi trường như việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, năm 2005, năm 2014 và mới nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trong đó, các chế định về đánh giá tác động môi trường ngày càng được hoàn thiện hơn. Một trong những vai trò quan trọng của pháp luật về đánh giá tác động môi trường là giúp đạt đến mục tiêu phát triển bền vững. Việc thực hiện đánh giá tác động môi trường thuộc trách nhiệm của chủ dự án hoặc thông qua đơn vị tư vấn có đủ điều kiện thực hiện. Các chủ thể thực hiện đánh giá tác động môi trường phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thông tin, số liệu, các đánh giá, các giải pháp xử lý môi trường... trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Việc này được thực hiện đồng thời với quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu tương đương với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án. Quy định về thời điểm thực hiện đánh giá tác động môi trường như trên là hoàn toàn phù hợp, giúp cho việc lựa chọn quyết định dự án đầu tư chính xác hơn, giúp cho các nhà đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường hiểu rõ hơn về những lợi ích và rủi ro tiềm tàng đã được phân tích, dự báo thông qua hoạt động thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các thành phần môi trường nơi thực hiện dự án, giúp các cơ quan có thẩm quyền có điều kiện lựa chọn đúng đắn đối với những hoạt động phát triển một cách hợp lý và bền vững hơn.

Theo quy định của pháp luật, mỗi dự án đầu tư chỉ lập một báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đây cũng là một điểm mới trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tạo thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình kiểm tra, giám sát các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Báo cáo được quy định bao gồm 10 nội dung chủ yếu: (i) Xuất xứ của dự án đầu tư, chủ dự án đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư; căn cứ pháp lý, kỹ thuật; phương pháp đánh giá tác động môi trường và phương pháp khác được sử dụng (nếu có). (ii) Sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan. (iii) Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và hoạt động của dự án đầu tư có khả năng tác động xấu đến môi trường. (iv) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đa dạng sinh học; đánh giá hiện trạng môi trường; nhận dạng các đối tượng bị tác động, yếu tố nhạy cảm về môi trường nơi thực hiện dự án đầu tư; thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án đầu tư. (v) Nhận dạng, đánh giá, dự báo các tác động môi trường chính, chất thải phát sinh theo các giai đoạn của dự án đầu tư đến môi trường; quy mô, tính chất của chất thải; tác động đến đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa và yếu tố nhạy cảm khác; tác động do giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có); nhận dạng, đánh giá sự cố môi trường có thể xảy ra của dự án đầu tư. (vi) Công trình, biện pháp thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải. (vii) Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực khác của dự án đầu tư đến môi trường; phương án cải tạo, phục hồi môi trường (nếu có); phương án bồi hoàn đa dạng sinh học (nếu có); phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. (viii) Chương trình quản lý và giám sát môi trường. (ix) Kết quả tham vấn. (x) Kết luận, kiến nghị và cam kết của chủ dự án đầu tư. Đây là những nội dung tối thiểu, chính yếu của báo cáo đánh giá tác động môi trường được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng. Bất cứ một dự án đầu tư nào thuộc đối tượng phải đánh giá tác động môi trường theo quy định đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo định hướng dựa trên 10 nội dung quy định nêu trên.

Có thể nhận thấy, trong suốt quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì khâu xây dựng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường là rất quan trọng. Để xây dựng hiệu quả các nội dung trong báo cáo, nhất là phần đánh giá tổng quan về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và những vùng lân cận thì việc phân tích, đánh giá và dự báo các tác động của dự án đến các thành phần môi trường tự nhiên như đất, nước, không khí...; tác động đến sức khỏe của cộng đồng cũng như các yếu tố có liên quan khác... rất cần được thực hiện một cách chi tiết và có trách nhiệm.

3. Tham vấn trong đánh giá tác động môi trường

Tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường là sự ghi nhận sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm quyền lợi của các nhóm đối tượng chịu tác động từ dự án, đồng thời, hỗ trợ quá trình ra quyết định đối với các dự án phát triển.

Tham vấn trong đánh giá tác động môi trường thể hiện việc đề cao ý kiến đóng góp của cộng đồng vào quy trình đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm báo cáo đánh giá tác động môi trường được minh bạch, chuẩn xác, chất lượng cao, đồng thời tạo điều kiện cho các chủ thể trực tiếp bị tác động bởi dự án và những chủ thể khác có liên quan có thể tham gia vào hoạt động đánh giá tác động môi trường. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần kiểm soát ô nhiễm bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác này thời gian qua còn mang nặng tính hình thức; quy trình, thủ tục tham vấn chưa bảo đảm minh bạch, công khai, làm giảm đáng kể ý nghĩa và hiệu quả hoạt động tham vấn[2].

Để khắc phục tình trạng này, cần bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh quy định pháp luật về đối tượng được tham vấn trong quá trình đánh giá tác động môi trường bao gồm 02 nhóm sau: (i) Cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi dự án đầu tư; (ii) Cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư. Bảo đảm kết quả tham vấn cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức liên quan là thông tin quan trọng để chủ dự án đầu tư nghiên cứu cân nhắc trong việc đưa ra các giải pháp giảm thiểu tác động của dự án đầu tư đối với môi trường và hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án[3]. Cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư khi được tham vấn phải trả lời chủ dự án đầu tư bằng văn bản về nội dung được tham vấn trong thời hạn quy định; trường hợp hết thời hạn quy định mà không có văn bản trả lời thì được coi là thống nhất với nội dung tham vấn. Trường hợp các ý kiến đóng góp, các kiến nghị của cộng đồng vào quy trình đánh giá tác động môi trường không được tiếp thu, chủ dự án đầu tư phải giải trình đầy đủ, rõ ràng.

Nội dung tham vấn phải xác thực với dự án đầu tư và cần được sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu phù hợp với trình độ của các đối tượng được tham vấn. Việc tham vấn ý kiến các chủ thể bị tác động trực tiếp và có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư được tiến hành dưới các hình thức như đăng tải trên trang thông tin điện tử; tổ chức họp lấy ý kiến hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Quy định này cho thấy, thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau, người dân được quyền tham gia ý kiến, được quyền trao đổi, chia sẻ, điều này cũng hỗ trợ, giúp cho chủ đầu tư hiểu rõ về những đặc điểm môi trường tự nhiên nơi sẽ thực hiện dự án để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tối ưu bảo vệ môi trường.

4. Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là một trong những khâu quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường. Trách nhiệm này do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện nhằm rà soát, xem xét về sự phù hợp của báo cáo, của dự án, của các phương pháp đánh giá tác động môi trường được sử dụng trong quá trình thực hiện dự án… Bên cạnh đó, thông qua hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, các cơ quan thẩm định cũng đánh giá được tính chính xác, khách quan về mặt khoa học đối với các đề xuất, giải pháp bảo vệ môi trường trong nội dung của bản báo cáo được cam kết thực hiện trong suốt vòng đời của dự án.

Lần đầu tiên, việc công khai số lượng thành viên Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đây là sự thay đổi rất đáng được khích lệ, bởi quy định này sẽ góp phần nâng cao trình độ cán bộ công tác trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Hội đồng thẩm định có trách nhiệm kiểm tra, xem xét cụ thể từng nội dung trong bản báo cáo đánh giá tác động môi trường, đồng thời, viết bản nhận xét và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thẩm định của mình. Trong quá trình thẩm định, cơ quan thẩm định được tiến hành các hoạt động khảo sát, kiểm chứng các thông tin, số liệu về hiện trạng môi trường tại địa điểm thực hiện dự án và khu vực kế cận; lấy mẫu phân tích kiểm chứng; tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phản biện nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường; tổ chức các cuộc họp đánh giá theo chuyên đề[4]. Kết quả của Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là cơ sở quan trọng để các cơ quan thẩm định xem xét và quyết định việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Có thể nhận thấy, các quy định về hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đang ngày càng được hoàn thiện, các tiêu chí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng được xây dựng ngày càng chặt chẽ, có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Trách nhiệm tổ chức thẩm định, cách thức tiến hành và các hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, theo đó, tùy từng loại dự án, thẩm quyền tổ chức thẩm định sẽ thuộc về một trong các cơ quan: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, khắc phục được hạn chế trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là quy định các bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt đầu tư của mình (trừ đối tượng thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

Quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là một trong các căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản đối với dự án đầu tư khai thác khoáng sản; phê duyệt kế hoạch thăm dò, kế hoạch phát triển mỏ đối với dự án đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí; phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư; kết luận thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng; cấp giấy phép môi trường; cấp giấy phép nhận chìm ở biển; quyết định giao khu vực biển và quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư khác... Đặc biệt, với quy định quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hết hiệu lực khi dự án, cơ sở được cấp giấy phép môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xác lập đúng vai trò của công cụ đánh giá tác động môi trường tương ứng với giai đoạn triển khai, xây dựng trước khi dự án đi vào vận hành trong thực tế.

5. Trách nhiệm của chủ dự án đầu tư và cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường sau khi có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo

Trách nhiệm của chủ dự án đầu tư sau khi có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể rõ ràng tại Điều 37 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã giúp cho các chủ dự án đầu tư, các chủ doanh nghiệp hiểu rõ và tuân thủ tốt hơn các quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường, hạn chế vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Quy định phải công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường dù đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, nhưng chưa có quy định thời điểm công khai, hình thức công khai, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp có thể trì hoãn việc này, họ có thể “bao biện” rằng chưa công khai chứ không phải không công khai. Việc trì hoãn công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường của các chủ dự án đầu tư, đặc biệt là những dự án đầu tư có tác động lớn về môi trường, khiến cộng đồng, các chuyên gia và xã hội thiếu thông tin để giám sát. Với chủ trương toàn dân giám sát và bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cần khắc phục được bất cập này. Lần đầu tiên quy định chủ dự án đầu tư có trách nhiệm công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường sau khi được phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo, nội dung báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường, trừ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để lấy ý kiến của các bên liên quan cũng đã được quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Hình thức công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt kết quả thẩm định được thực hiện thông qua cổng thông tin của cơ quan, tổ chức, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho những chủ thể có liên quan tiếp nhận thông tin môi trường. Đây là bước tiến đáng ghi nhận của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

TS. Lê Kim Nguyệt
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



[1]. https://moitruong.com.vn/moi-truong-sos/hien-trang-moi-truong-viet-nam-va-nhung-loi-bao-dong-5659.htm, truy cập ngày 07/4/2022.

[2]. http://www.vacne.org.vn/tham-van-cong-dong-trong-dtm-chua-di-vao-thuc-chat/211469.html, truy cập ngày 15/9/2020.

[3]. Khoản 5 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định kết quả tham vấn trong đánh giá tác động môi trường phải được chủ dự án đầu tư tiếp thu, thể hiện đầy đủ, trung thực các ý kiến, kiến nghị của đối tượng được tham vấn, đối tượng quan tâm đến dự án đầu tư.

[4]. Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.

Theo dõi chúng tôi trên: