Chủ nhật 31/05/2026 06:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điểm mới trong quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam hiện nay

Có thể nhận thấy, trong suốt quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì khâu xây dựng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường là rất quan trọng.

Tóm tắt: Bài viết phân tích những quy định mới của pháp luật về đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam với những cải cách mạnh mẽ nhằm cải thiện môi trường, bảo đảm sức khỏe cộng đồng và phát triển bền vững.

Abstract: The article analyzes the new legal provisions on environmental impact assessment in Vietnam with strong reforms to improve the environment, ensure public health and sustainable development.

1. Đối tượng thực hiện đánh giá tác động môi trường

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực đạt số điểm cụ thể như: Philippines 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm... Còn theo kết quả nghiên cứu khác tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe[1]. Việt Nam đang phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm, suy thoái môi trường. Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhiều doanh nghiệp hoạt động có nguy cơ gây tác động xấu đến môi trường cần được kiểm soát chặt chẽ. Có một số trường hợp, nhiều chủ thể thực hiện những hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tuy đã bị xử lý vi phạm nhưng những hậu quả để lại vẫn kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng. Vì vậy, ngoài việc dựa vào các tiêu chí môi trường cụ thể, cần căn cứ vào tính chất, mục đích, nội dung, quy mô của dự án, địa điểm thực hiện dự án… để tiến hành thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM) thật sự có hiệu quả trong thực tế.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định các dự án sau đây thuộc đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường:

(i) Các dự án thuộc nhóm I là nhóm dự án đầu tư có nguy cơ tác động xấu đến môi trường ở mức độ cao, bao gồm 06 loại dự án:

- Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn; dự án thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại; dự án có nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất;

- Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường; dự án không thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô lớn hoặc với quy mô trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất lớn hoặc với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất quy mô trung bình trở lên nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu di dân, tái định cư với quy mô lớn.

(ii) Các dự án thuộc nhóm II là nhóm dự án đầu tư có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, trong đó có 04 loại dự án cụ thể phải thực hiện đánh giá tác động môi trường:

- Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô trung bình hoặc với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất trung bình hoặc với quy mô, công suất nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;

- Dự án có yêu cầu di dân, tái định cư với quy mô trung bình.

Tuy nhiên, đối với các dự án đầu tư công khẩn cấp theo quy định của pháp luật về đầu tư công, pháp luật quy định không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường.

2. Thực hiện đánh giá tác động môi trường

Có thể thấy, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong quá trình xây dựng khung pháp lý về môi trường như việc ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, năm 2005, năm 2014 và mới nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, trong đó, các chế định về đánh giá tác động môi trường ngày càng được hoàn thiện hơn. Một trong những vai trò quan trọng của pháp luật về đánh giá tác động môi trường là giúp đạt đến mục tiêu phát triển bền vững. Việc thực hiện đánh giá tác động môi trường thuộc trách nhiệm của chủ dự án hoặc thông qua đơn vị tư vấn có đủ điều kiện thực hiện. Các chủ thể thực hiện đánh giá tác động môi trường phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những thông tin, số liệu, các đánh giá, các giải pháp xử lý môi trường... trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Việc này được thực hiện đồng thời với quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu tương đương với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án. Quy định về thời điểm thực hiện đánh giá tác động môi trường như trên là hoàn toàn phù hợp, giúp cho việc lựa chọn quyết định dự án đầu tư chính xác hơn, giúp cho các nhà đầu tư cũng như các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường hiểu rõ hơn về những lợi ích và rủi ro tiềm tàng đã được phân tích, dự báo thông qua hoạt động thực hiện đánh giá tác động môi trường đối với các thành phần môi trường nơi thực hiện dự án, giúp các cơ quan có thẩm quyền có điều kiện lựa chọn đúng đắn đối với những hoạt động phát triển một cách hợp lý và bền vững hơn.

Theo quy định của pháp luật, mỗi dự án đầu tư chỉ lập một báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đây cũng là một điểm mới trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, tạo thuận lợi cho các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình kiểm tra, giám sát các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường. Báo cáo được quy định bao gồm 10 nội dung chủ yếu: (i) Xuất xứ của dự án đầu tư, chủ dự án đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư; căn cứ pháp lý, kỹ thuật; phương pháp đánh giá tác động môi trường và phương pháp khác được sử dụng (nếu có). (ii) Sự phù hợp của dự án đầu tư với quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan. (iii) Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và hoạt động của dự án đầu tư có khả năng tác động xấu đến môi trường. (iv) Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đa dạng sinh học; đánh giá hiện trạng môi trường; nhận dạng các đối tượng bị tác động, yếu tố nhạy cảm về môi trường nơi thực hiện dự án đầu tư; thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án đầu tư. (v) Nhận dạng, đánh giá, dự báo các tác động môi trường chính, chất thải phát sinh theo các giai đoạn của dự án đầu tư đến môi trường; quy mô, tính chất của chất thải; tác động đến đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên, di tích lịch sử - văn hóa và yếu tố nhạy cảm khác; tác động do giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có); nhận dạng, đánh giá sự cố môi trường có thể xảy ra của dự án đầu tư. (vi) Công trình, biện pháp thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải. (vii) Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực khác của dự án đầu tư đến môi trường; phương án cải tạo, phục hồi môi trường (nếu có); phương án bồi hoàn đa dạng sinh học (nếu có); phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường. (viii) Chương trình quản lý và giám sát môi trường. (ix) Kết quả tham vấn. (x) Kết luận, kiến nghị và cam kết của chủ dự án đầu tư. Đây là những nội dung tối thiểu, chính yếu của báo cáo đánh giá tác động môi trường được pháp luật quy định cụ thể, rõ ràng. Bất cứ một dự án đầu tư nào thuộc đối tượng phải đánh giá tác động môi trường theo quy định đều phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường theo định hướng dựa trên 10 nội dung quy định nêu trên.

Có thể nhận thấy, trong suốt quá trình lập báo cáo đánh giá tác động môi trường thì khâu xây dựng nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường là rất quan trọng. Để xây dựng hiệu quả các nội dung trong báo cáo, nhất là phần đánh giá tổng quan về hiện trạng môi trường nơi thực hiện dự án và những vùng lân cận thì việc phân tích, đánh giá và dự báo các tác động của dự án đến các thành phần môi trường tự nhiên như đất, nước, không khí...; tác động đến sức khỏe của cộng đồng cũng như các yếu tố có liên quan khác... rất cần được thực hiện một cách chi tiết và có trách nhiệm.

3. Tham vấn trong đánh giá tác động môi trường

Tham vấn cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường là sự ghi nhận sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm quyền lợi của các nhóm đối tượng chịu tác động từ dự án, đồng thời, hỗ trợ quá trình ra quyết định đối với các dự án phát triển.

Tham vấn trong đánh giá tác động môi trường thể hiện việc đề cao ý kiến đóng góp của cộng đồng vào quy trình đánh giá tác động môi trường nhằm bảo đảm báo cáo đánh giá tác động môi trường được minh bạch, chuẩn xác, chất lượng cao, đồng thời tạo điều kiện cho các chủ thể trực tiếp bị tác động bởi dự án và những chủ thể khác có liên quan có thể tham gia vào hoạt động đánh giá tác động môi trường. Đây là một trong những yếu tố quan trọng góp phần kiểm soát ô nhiễm bảo vệ môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện công tác này thời gian qua còn mang nặng tính hình thức; quy trình, thủ tục tham vấn chưa bảo đảm minh bạch, công khai, làm giảm đáng kể ý nghĩa và hiệu quả hoạt động tham vấn[2].

Để khắc phục tình trạng này, cần bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh quy định pháp luật về đối tượng được tham vấn trong quá trình đánh giá tác động môi trường bao gồm 02 nhóm sau: (i) Cộng đồng dân cư, cá nhân chịu tác động trực tiếp bởi dự án đầu tư; (ii) Cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư. Bảo đảm kết quả tham vấn cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức liên quan là thông tin quan trọng để chủ dự án đầu tư nghiên cứu cân nhắc trong việc đưa ra các giải pháp giảm thiểu tác động của dự án đầu tư đối với môi trường và hoàn thiện báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án[3]. Cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư khi được tham vấn phải trả lời chủ dự án đầu tư bằng văn bản về nội dung được tham vấn trong thời hạn quy định; trường hợp hết thời hạn quy định mà không có văn bản trả lời thì được coi là thống nhất với nội dung tham vấn. Trường hợp các ý kiến đóng góp, các kiến nghị của cộng đồng vào quy trình đánh giá tác động môi trường không được tiếp thu, chủ dự án đầu tư phải giải trình đầy đủ, rõ ràng.

Nội dung tham vấn phải xác thực với dự án đầu tư và cần được sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu phù hợp với trình độ của các đối tượng được tham vấn. Việc tham vấn ý kiến các chủ thể bị tác động trực tiếp và có liên quan trực tiếp đến dự án đầu tư được tiến hành dưới các hình thức như đăng tải trên trang thông tin điện tử; tổ chức họp lấy ý kiến hoặc lấy ý kiến bằng văn bản. Quy định này cho thấy, thông qua nhiều kênh thông tin khác nhau, người dân được quyền tham gia ý kiến, được quyền trao đổi, chia sẻ, điều này cũng hỗ trợ, giúp cho chủ đầu tư hiểu rõ về những đặc điểm môi trường tự nhiên nơi sẽ thực hiện dự án để từ đó có thể đưa ra các giải pháp tối ưu bảo vệ môi trường.

4. Thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là một trong những khâu quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường. Trách nhiệm này do các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tổ chức thực hiện nhằm rà soát, xem xét về sự phù hợp của báo cáo, của dự án, của các phương pháp đánh giá tác động môi trường được sử dụng trong quá trình thực hiện dự án… Bên cạnh đó, thông qua hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, các cơ quan thẩm định cũng đánh giá được tính chính xác, khách quan về mặt khoa học đối với các đề xuất, giải pháp bảo vệ môi trường trong nội dung của bản báo cáo được cam kết thực hiện trong suốt vòng đời của dự án.

Lần đầu tiên, việc công khai số lượng thành viên Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đây là sự thay đổi rất đáng được khích lệ, bởi quy định này sẽ góp phần nâng cao trình độ cán bộ công tác trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ môi trường tại Việt Nam hiện nay. Hội đồng thẩm định có trách nhiệm kiểm tra, xem xét cụ thể từng nội dung trong bản báo cáo đánh giá tác động môi trường, đồng thời, viết bản nhận xét và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thẩm định của mình. Trong quá trình thẩm định, cơ quan thẩm định được tiến hành các hoạt động khảo sát, kiểm chứng các thông tin, số liệu về hiện trạng môi trường tại địa điểm thực hiện dự án và khu vực kế cận; lấy mẫu phân tích kiểm chứng; tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp phản biện nội dung của báo cáo đánh giá tác động môi trường; tổ chức các cuộc họp đánh giá theo chuyên đề[4]. Kết quả của Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là cơ sở quan trọng để các cơ quan thẩm định xem xét và quyết định việc phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.

Có thể nhận thấy, các quy định về hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đang ngày càng được hoàn thiện, các tiêu chí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cũng được xây dựng ngày càng chặt chẽ, có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Trách nhiệm tổ chức thẩm định, cách thức tiến hành và các hoạt động thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường quy định tại Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, theo đó, tùy từng loại dự án, thẩm quyền tổ chức thẩm định sẽ thuộc về một trong các cơ quan: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, khắc phục được hạn chế trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là quy định các bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án thuộc thẩm quyền quyết định phê duyệt đầu tư của mình (trừ đối tượng thuộc thẩm quyền thẩm định của Bộ Tài nguyên và Môi trường).

Quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường là một trong các căn cứ để cơ quan có thẩm quyền cấp, điều chỉnh giấy phép khai thác khoáng sản đối với dự án đầu tư khai thác khoáng sản; phê duyệt kế hoạch thăm dò, kế hoạch phát triển mỏ đối với dự án đầu tư thăm dò, khai thác dầu khí; phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư; kết luận thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi đối với dự án đầu tư xây dựng; cấp giấy phép môi trường; cấp giấy phép nhận chìm ở biển; quyết định giao khu vực biển và quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư khác... Đặc biệt, với quy định quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường hết hiệu lực khi dự án, cơ sở được cấp giấy phép môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã xác lập đúng vai trò của công cụ đánh giá tác động môi trường tương ứng với giai đoạn triển khai, xây dựng trước khi dự án đi vào vận hành trong thực tế.

5. Trách nhiệm của chủ dự án đầu tư và cơ quan thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường sau khi có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo

Trách nhiệm của chủ dự án đầu tư sau khi có quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định cụ thể rõ ràng tại Điều 37 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã giúp cho các chủ dự án đầu tư, các chủ doanh nghiệp hiểu rõ và tuân thủ tốt hơn các quy định của pháp luật về đánh giá tác động môi trường, hạn chế vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Quy định phải công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường dù đã được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, nhưng chưa có quy định thời điểm công khai, hình thức công khai, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp có thể trì hoãn việc này, họ có thể “bao biện” rằng chưa công khai chứ không phải không công khai. Việc trì hoãn công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường của các chủ dự án đầu tư, đặc biệt là những dự án đầu tư có tác động lớn về môi trường, khiến cộng đồng, các chuyên gia và xã hội thiếu thông tin để giám sát. Với chủ trương toàn dân giám sát và bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cần khắc phục được bất cập này. Lần đầu tiên quy định chủ dự án đầu tư có trách nhiệm công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường sau khi được phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo, nội dung báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường, trừ thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật để lấy ý kiến của các bên liên quan cũng đã được quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Hình thức công khai báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt kết quả thẩm định được thực hiện thông qua cổng thông tin của cơ quan, tổ chức, trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc các hình thức khác, bảo đảm thuận tiện cho những chủ thể có liên quan tiếp nhận thông tin môi trường. Đây là bước tiến đáng ghi nhận của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

TS. Lê Kim Nguyệt
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội



[1]. https://moitruong.com.vn/moi-truong-sos/hien-trang-moi-truong-viet-nam-va-nhung-loi-bao-dong-5659.htm, truy cập ngày 07/4/2022.

[2]. http://www.vacne.org.vn/tham-van-cong-dong-trong-dtm-chua-di-vao-thuc-chat/211469.html, truy cập ngày 15/9/2020.

[3]. Khoản 5 Điều 33 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định kết quả tham vấn trong đánh giá tác động môi trường phải được chủ dự án đầu tư tiếp thu, thể hiện đầy đủ, trung thực các ý kiến, kiến nghị của đối tượng được tham vấn, đối tượng quan tâm đến dự án đầu tư.

[4]. Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29/5/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: