Thứ bảy 14/03/2026 13:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam - Nhu cầu và định hướng

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp môi trường về hiện trạng phát triển và năng lực của ngành công nghiệp môi trường, thì hiện nay Việt Nam hiện có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại.

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp môi trường về hiện trạng phát triển và năng lực của ngành công nghiệp môi trường, thì hiện nay Việt Nam hiện có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại. Kết quả điều tra, khảo sát trong năm 2015 của Hiệp hội Công nghiệp môi trường cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp môi trường có quy mô nhỏ, vốn dưới 5 tỷ đồng (chiếm khoảng 52,6% tổng số doanh nghiệp môi trường), số lượng doanh nghiệp quy mô lớn, vốn trên 500 tỷ đồng không nhiều (chiếm khoảng 2,84%). Theo Niên giám thống kê năm 2014, tổng sản phẩm theo giá hiện hành của doanh nghiệp môi trường năm 2014 là 19.526 tỷ, tương ứng gần 0,5% GDP. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp môi trường Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, do vậy cần có một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của ngành này. Trong bài viết này, tác giả phân tích những nhu cầu và định hướng điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam.

Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường (Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Ngành công nghiệp môi trường bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến lĩnh vực môi trường và có khả năng đem lại lợi nhuận từ các hoạt động này. Hoạt động của ngành công nghiệp môi trường sẽ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường đáp ứng nhu cầu phòng ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường, bao gồm: Các hoạt động đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và tái sinh các nguồn chất thải; cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường như nước, các loại vật liệu tái sinh và các nguồn năng lượng sạch; các hoạt động góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế; các hoạt động thu gom, xử lý các loại chất thải từ tất cả các hoạt động trong xã hội1… Với sự phát triển của mình, ngành công nghiệp môi trường không chỉ đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia mà còn có khả năng đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng chung toàn cầu. Tại Việt Nam, sản xuất có liên quan đến định hướng công nghiệp môi trường chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Hiện tại, nó đòi hỏi cần có một hệ thống các quy định pháp luật phù hợp làm cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển một cách đồng bộ và hiệu quả.

1. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, trước yêu cầu bảo đảm phát triển bền vững, nhu cầu xây dựng các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường là rất lớn. Nhu cầu đó xuất phát từ những đòi hỏi chủ yếu sau:

Một là, đòi hỏi từ thực tiễn điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Nhận thức được vai trò của công nghiệp môi trường trong bảo vệ môi trường cũng như phát triển kinh tế, trong những năm qua, Việt Nam đã có những quan tâm nhất định đến điều chỉnh pháp luật trong phát triển công nghiệp môi trường. Một số văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường đã được ban hành như:

- Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 20/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”. Đề án này có mục tiêu tổng quát là phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp có khả năng cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm xử lý, kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường. Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 là giai đoạn xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp môi trường; phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường, các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ môi trường đủ năng lực đáp ứng cơ bản nhiệm vụ bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là đạo luật đầu tiên trong hệ thống pháp luật môi trường có một số quy định liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường như:

+ Điều 142 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý, phát triển ngành công nghiệp môi trường và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quản lý.

+ Điều 151 và Điều 153 quy định về ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường. Theo quy định này, Nhà nước đầu tư và có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển công nghiệp môi trường. Các tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở công nghiệp môi trường sẽ được hưởng các ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước.

- Quyết định số 1292/QĐ-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là văn bản gần đây nhất quy định về phát triển công nghiệp môi trường. Văn bản này đề cập đến định hướng, mục tiêu và kế hoạch hành động phát triển công nghiệp môi trường. Theo đó, định hướng chung là phát triển mạnh ngành công nghiệp môi trường đến năm 2020 trở thành ngành công nghiệp chủ lực, có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu xử lý ô nhiễm, môi trường, sử dụng năng lượng bền vững. Với định hướng đó, một trong những mục tiêu của kế hoạch này là hoàn thiện cơ chế và chính sách ưu đãi, hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng.

Như vậy, hiện tại các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam rất ít và mới chỉ dừng lại ở quy định chung mà chưa được hướng dẫn áp dụng cụ thể, nên chưa thể triển khai thống nhất và hiệu quả trên thực tế. Nó cũng cho thấy, xây dựng các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam là nhu cầu tất yếu, cần sớm được đáp ứng.

Hai là, đòi hỏi từ thực tiễn bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Theo báo cáo tổng quan về hiện trạng môi trường Việt Nam tại Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, môi trường Việt Nam đã và đang có những diễn biến phức tạp. Đó là: Ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng tại ba lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai; ô nhiễm môi trường đô thị, các khu công nghiệp, làng nghề ngày càng trầm trọng; đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng, sinh vật ngoại lai xâm hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn ngày càng tăng. Công tác quản lý môi trường còn nhiều bất cập, vai trò của cộng đồng chưa được phát huy đúng mức… Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, sự cố môi trường có xu hướng gia tăng, làm cho vấn đề môi trường của nước ta đứng trước những thách thức rất lớn cần sớm được giải quyết2.

Trên bình diện quốc tế, theo đánh giá mới đây của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm... Còn theo kết quả nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe. Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ đã thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính theo chỉ số chung EPI, Việt Nam xếp thứ 793.

Thực trạng nêu trên cho thấy cần sớm triển khai các biện pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống chung của cộng đồng. Để làm được điều đó, không thể thiếu việc sử dụng các thiết bị công nghệ hay các loại hình dịch vụ xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường - sản phẩm của ngành công nghiệp môi trường. Nói cách khác, phát triển ngành công nghiệp môi trường là giải pháp kinh tế - kỹ thuật cần thiết để đáp ứng các đòi hỏi bức xúc của thực tiễn bảo vệ môi trường mà pháp luật môi trường không thể đứng ngoài sự phát triển đó. Tuy nhiên, đây hiện lại là “khoảng trống” lớn của hệ thống pháp luật môi trường hiện hành cần sớm được “lấp đầy”. Bởi lẽ, các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường không đơn thuần chỉ là sự định hướng hay khuyến khích mà còn ràng buộc các chủ thể có liên quan vào việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, với cộng đồng khi tiến hành các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường.

Ba là, đòi hỏi từ thực tiễn ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, công nghiệp môi trường là một ngành công nghiệp khá non yếu. Nền công nghiệp này hàng năm mới chỉ đáp ứng được 5% tổng nhu cầu xử lý nước thải đô thị, chế biến và tái chế khoảng 15% nhu cầu chất thải rắn và 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại. Theo thống kê của Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam, đến nay có khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường. Trong đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh được chia ra ba loại hình: Dịch vụ môi trường; sản xuất thiết bị và công nghệ; phát triển bền vững và phục hồi tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh các công ty môi trường đô thị thuộc sở hữu nhà nước, xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như tư nhân, liên doanh, liên kết4.

Mặc dù có những thay đổi đáng kể trong một số năm gần đây, song nhìn chung phát triển công nghiệp môi trường Việt Nam vẫn còn manh mún, đơn lẻ, thiếu sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, doanh thu còn thấp, chưa tương xứng với thị trường tiềm năng. Có thể đánh giá thực trạng ngành công nghiệp môi trường ở nước ta hiện nay như sau:

- Công nghệ và dịch vụ chưa phát triển; nhiều lĩnh vực và sản phẩm môi trường vẫn còn thiếu ở Việt Nam so với nhiều nước, nguồn cung về thiết bị, công nghệ và dịch vụ yếu, thiếu và chưa phong phú.

- Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường, các doanh nghiệp môi trường còn yếu và thiếu, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao và có kinh nghiệm, dẫn đến uy tín và thương hiệu của các nhà cung cấp chưa đủ thuyết phục người sử dụng nội địa, thiếu tính cạnh tranh với quốc tế.

- Ngành công nghiệp môi trường hiện tại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quốc gia trong thời gian tới nhằm gia tăng số lượng và chất lượng dịch vụ, sản phẩm môi trường của ngành công nghiệp này.

- Các doanh nghiệp công nghiệp môi trường ở Việt Nam chưa thực sự phát triển gắn liền với việc tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong và ngoài nước. Điều đó khiến mức độ lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài càng lớn do càng thiếu động lực và nguồn lực phát triển.

Thực trạng trên bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau như sự non kém trong kinh nghiệm phát triển công nghiệp môi trường; sự hạn chế về khả năng tài chính; sự yếu kém trong quản lý môi trường… Song, sự thiếu vắng các quy định pháp luật cần thiết làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường là một trong những nguyên nhân không nhỏ. Vì vậy, xây dựng các quy định pháp luật về phát triển ngành công nghiệp môi trường là đòi hỏi cấp thiết phát sinh từ thực trạng ngành công nghiệp môi trường ở nước ta hiện nay.

Bốn là, đòi hỏi từ xu hướng và tiềm năng phát triển ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, công nghiệp môi trường ở nước ta đã có những thay đổi đáng kể, với mức độ phát triển khá nhanh. Các số liệu thống kê bước đầu cho thấy, trong lĩnh vực xử lý nước thải, năm 2007 cả nước mới có 36 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, thì đến năm 2010 đã lên đến 153 doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải rắn, có 270 doanh nghiệp năm 2007 và đến năm 2010 là 463 doanh nghiệp. Tại thời điểm cuối năm 2012, theo khảo sát của Tổng cục Môi trường, có 3.982 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, trong đó có 3.581 doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2006 - 2012, riêng giai đoạn 2006 - 2009 đã có tới 2.321 doanh nghiệp được thành lập đăng ký hoạt động trong lĩnh vực này. Trong lĩnh vực xử lý nước thải, giai đoạn 2007 - 2010 tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký trung bình đạt 62%/năm, tốc độ gia tăng số lượng lao động đạt 45%/năm, tốc độ tăng vốn đạt trung bình 78 %/năm. Trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải rắn, tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp đạt 20%/năm trong giai đoạn 2007 - 2010, tăng lao động đạt 8%/năm và tăng nguồn vốn đạt 36%/năm. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng nêu trên có thể gây ra không ít hệ lụy cho môi trường nếu không được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất. Theo đó, tình trạng phát triển bất chấp những đòi hỏi về sự an toàn cho cộng đồng cũng như cho môi trường tự nhiên có thể xảy ra khi các chủ thể tiến hành phát triển công nghiệp môi trường chỉ chú trọng đến khai thác giá trị kinh tế của ngành công nghiệp này.

Ngoài sự phát triển nhanh chóng nêu trên, tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam là khá lớn. Theo kết quả điều tra khảo sát đánh giá về nhu cầu và năng lực phát triển ngành công nghiệp môi trường tại 20 tỉnh thành trên cả nước của Bộ Công Thương, kết quả đánh giá sơ bộ ban đầu cho thấy thị trường cho ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam có tiềm năng tương đối lớn. Lượng chất thải rắn phát thải hiện nay khoảng 30 triệu tấn và mức tăng trưởng hàng năm khoảng 7%. Ước tính nhu cầu thị trường cho lĩnh vực xử lý chất thải rắn hàng năm khoảng 2,340 tỷ đồng và đến năm 2010 đạt khoảng 3,900 tỷ đồng. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tiềm năng tái chế chất thải rắn công nghiệp cũng rất cao, ở nhiều ngành tỷ lệ chất thải có khả năng tái chế đạt hơn 80%. Mỗi năm sẽ tiết kiệm được 54 tỷ đồng nếu mỗi cơ sở sản xuất của 06 ngành công nghiệp tái chế 50% lượng chất thải của cơ sở mình5. Những tiềm năng khác về các lĩnh vực khác như phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm, dịch vụ hỗ trợ kĩ thuật, tư vấn chuyển giao công nghệ; sản xuất thiết bị, vật tư, nguyên liệu và sản phẩm thân thiện môi trường cũng là rất lớn. Song, tiềm năng này sẽ không dễ khai thác và phát triển mạnh nếu không có cơ chế pháp lý phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện các dịch vụ môi trường. Vì vậy, cần xây dựng các quy định pháp luật về cơ chế quản lý cũng như những ưu đãi, hỗ trợ đối với các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường nhằm tăng cường sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước vào các hoạt động đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải hay cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường…

2. Định hướng điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Xuất phát từ những đòi hỏi nêu trên, điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam cần sớm được thực hiện theo hướng sau:

Thứ nhất, điều chỉnh về chính sách phát triển công nghiệp môi trường

Nhóm quy định này cần đề cập đến các chính sách như:

- Chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công nghiệp môi trường.

- Chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường.

- Chính sách bảo đảm phát triển công nghiệp môi trường hài hòa các lĩnh vực: Sản xuất, chế tạo thiết bị bảo vệ môi trường; xử lý, tái chế chất thải và nghiên cứu phát triển công nghệ phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường.

- Chính sách đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng, xúc tiến đầu tư, hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ để phát triển công nghiệp môi trường.

Thứ hai, điều chỉnh về các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường

Nhóm quy định này cần được xây dựng riêng cho từng nội dung cụ thể của phát triển công nghiệp môi trường, bao gồm:

- Quy định về nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ công nghiệp môi trường: Quy định cụ thể các yêu cầu đối với nghiên cứu và ứng dụng chuyển giao công nghệ công nghiệp môi trường; các trường hợp được ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng...

- Quy định về công nghệ xử lý, tái chế chất thải. Các loại công nghệ xử lý, tái chế chất thải; các yêu cầu đối với công nghệ tái chế, xử lý chất thải là những vấn đề cơ bản cần được điều chỉnh trong nhóm quy định này.

- Quy định về thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường, đặc biệt là các thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường được ưu tiên phát triển. Nội dung điều chỉnh này cần quy định các vấn đề như: Danh mục thiết bị sản phẩm công nghiệp môi trường; các yêu cầu đặt ra đối với thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường...

- Quy định về phát triển dịch vụ môi trường, bao gồm các dịch vụ như: Thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc, phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường; phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường; tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường; giám định về môi trường đối với hàng hóa, máy móc, thiết bị, công nghệ; giám định thiệt hại về môi trường; giám định sức khỏe môi trường.

Thứ ba, điều chỉnh về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường

Để bảo đảm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường, nội dung điều chỉnh pháp luật về ưu đãi hỗ trợ cho công nghiệp môi trường cần quy định các vấn đề sau:

- Đối tượng được ưu đãi, hỗ trợ.

- Nguyên tắc ưu đãi, hỗ trợ.

- Các hình thức ưu đãi: Ưu đãi về thuế; ưu đãi về huy động vốn; ưu đãi tiền thuê đất...

- Hỗ trợ nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

Thứ tư, điều chỉnh về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong phát triển công nghiệp môi trường

Đây là quy định cần thiết để xác định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này trong phát triển công nghiệp môi trường. Chúng tôi cho rằng, cần xây dựng quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ngành như: Bộ Công thương; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Tài chính... và ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tóm lại, điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường là một đòi hỏi tất yếu trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Với việc xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về chính sách phát triển công nghiệp môi trường; về các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường; về những ưu đãi hỗ trợ cho phát triển công nghiệp môi trường hay trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với phát triển công nghiệp môi trường, Việt Nam sẽ có thêm cơ sở pháp lý để quản lý thống nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành công nghiệp “non nớt” này, góp phần bảo đảm sự bền vững về môi trường trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

TS. Vũ Thị Duyên Thủy
Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: