Thứ bảy 30/05/2026 19:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam - Nhu cầu và định hướng

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp môi trường về hiện trạng phát triển và năng lực của ngành công nghiệp môi trường, thì hiện nay Việt Nam hiện có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại.

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp môi trường về hiện trạng phát triển và năng lực của ngành công nghiệp môi trường, thì hiện nay Việt Nam hiện có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại. Kết quả điều tra, khảo sát trong năm 2015 của Hiệp hội Công nghiệp môi trường cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp môi trường có quy mô nhỏ, vốn dưới 5 tỷ đồng (chiếm khoảng 52,6% tổng số doanh nghiệp môi trường), số lượng doanh nghiệp quy mô lớn, vốn trên 500 tỷ đồng không nhiều (chiếm khoảng 2,84%). Theo Niên giám thống kê năm 2014, tổng sản phẩm theo giá hiện hành của doanh nghiệp môi trường năm 2014 là 19.526 tỷ, tương ứng gần 0,5% GDP. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp môi trường Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, do vậy cần có một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của ngành này. Trong bài viết này, tác giả phân tích những nhu cầu và định hướng điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam.

Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường (Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Ngành công nghiệp môi trường bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến lĩnh vực môi trường và có khả năng đem lại lợi nhuận từ các hoạt động này. Hoạt động của ngành công nghiệp môi trường sẽ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường đáp ứng nhu cầu phòng ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường, bao gồm: Các hoạt động đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và tái sinh các nguồn chất thải; cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường như nước, các loại vật liệu tái sinh và các nguồn năng lượng sạch; các hoạt động góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế; các hoạt động thu gom, xử lý các loại chất thải từ tất cả các hoạt động trong xã hội1… Với sự phát triển của mình, ngành công nghiệp môi trường không chỉ đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia mà còn có khả năng đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng chung toàn cầu. Tại Việt Nam, sản xuất có liên quan đến định hướng công nghiệp môi trường chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Hiện tại, nó đòi hỏi cần có một hệ thống các quy định pháp luật phù hợp làm cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển một cách đồng bộ và hiệu quả.

1. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, trước yêu cầu bảo đảm phát triển bền vững, nhu cầu xây dựng các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường là rất lớn. Nhu cầu đó xuất phát từ những đòi hỏi chủ yếu sau:

Một là, đòi hỏi từ thực tiễn điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Nhận thức được vai trò của công nghiệp môi trường trong bảo vệ môi trường cũng như phát triển kinh tế, trong những năm qua, Việt Nam đã có những quan tâm nhất định đến điều chỉnh pháp luật trong phát triển công nghiệp môi trường. Một số văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường đã được ban hành như:

- Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 20/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”. Đề án này có mục tiêu tổng quát là phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp có khả năng cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm xử lý, kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường. Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 là giai đoạn xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp môi trường; phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường, các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ môi trường đủ năng lực đáp ứng cơ bản nhiệm vụ bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là đạo luật đầu tiên trong hệ thống pháp luật môi trường có một số quy định liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường như:

+ Điều 142 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý, phát triển ngành công nghiệp môi trường và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quản lý.

+ Điều 151 và Điều 153 quy định về ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường. Theo quy định này, Nhà nước đầu tư và có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển công nghiệp môi trường. Các tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở công nghiệp môi trường sẽ được hưởng các ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước.

- Quyết định số 1292/QĐ-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là văn bản gần đây nhất quy định về phát triển công nghiệp môi trường. Văn bản này đề cập đến định hướng, mục tiêu và kế hoạch hành động phát triển công nghiệp môi trường. Theo đó, định hướng chung là phát triển mạnh ngành công nghiệp môi trường đến năm 2020 trở thành ngành công nghiệp chủ lực, có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu xử lý ô nhiễm, môi trường, sử dụng năng lượng bền vững. Với định hướng đó, một trong những mục tiêu của kế hoạch này là hoàn thiện cơ chế và chính sách ưu đãi, hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng.

Như vậy, hiện tại các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam rất ít và mới chỉ dừng lại ở quy định chung mà chưa được hướng dẫn áp dụng cụ thể, nên chưa thể triển khai thống nhất và hiệu quả trên thực tế. Nó cũng cho thấy, xây dựng các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam là nhu cầu tất yếu, cần sớm được đáp ứng.

Hai là, đòi hỏi từ thực tiễn bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Theo báo cáo tổng quan về hiện trạng môi trường Việt Nam tại Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, môi trường Việt Nam đã và đang có những diễn biến phức tạp. Đó là: Ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng tại ba lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai; ô nhiễm môi trường đô thị, các khu công nghiệp, làng nghề ngày càng trầm trọng; đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng, sinh vật ngoại lai xâm hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn ngày càng tăng. Công tác quản lý môi trường còn nhiều bất cập, vai trò của cộng đồng chưa được phát huy đúng mức… Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, sự cố môi trường có xu hướng gia tăng, làm cho vấn đề môi trường của nước ta đứng trước những thách thức rất lớn cần sớm được giải quyết2.

Trên bình diện quốc tế, theo đánh giá mới đây của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm... Còn theo kết quả nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe. Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ đã thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính theo chỉ số chung EPI, Việt Nam xếp thứ 793.

Thực trạng nêu trên cho thấy cần sớm triển khai các biện pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống chung của cộng đồng. Để làm được điều đó, không thể thiếu việc sử dụng các thiết bị công nghệ hay các loại hình dịch vụ xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường - sản phẩm của ngành công nghiệp môi trường. Nói cách khác, phát triển ngành công nghiệp môi trường là giải pháp kinh tế - kỹ thuật cần thiết để đáp ứng các đòi hỏi bức xúc của thực tiễn bảo vệ môi trường mà pháp luật môi trường không thể đứng ngoài sự phát triển đó. Tuy nhiên, đây hiện lại là “khoảng trống” lớn của hệ thống pháp luật môi trường hiện hành cần sớm được “lấp đầy”. Bởi lẽ, các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường không đơn thuần chỉ là sự định hướng hay khuyến khích mà còn ràng buộc các chủ thể có liên quan vào việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, với cộng đồng khi tiến hành các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường.

Ba là, đòi hỏi từ thực tiễn ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, công nghiệp môi trường là một ngành công nghiệp khá non yếu. Nền công nghiệp này hàng năm mới chỉ đáp ứng được 5% tổng nhu cầu xử lý nước thải đô thị, chế biến và tái chế khoảng 15% nhu cầu chất thải rắn và 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại. Theo thống kê của Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam, đến nay có khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường. Trong đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh được chia ra ba loại hình: Dịch vụ môi trường; sản xuất thiết bị và công nghệ; phát triển bền vững và phục hồi tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh các công ty môi trường đô thị thuộc sở hữu nhà nước, xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như tư nhân, liên doanh, liên kết4.

Mặc dù có những thay đổi đáng kể trong một số năm gần đây, song nhìn chung phát triển công nghiệp môi trường Việt Nam vẫn còn manh mún, đơn lẻ, thiếu sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, doanh thu còn thấp, chưa tương xứng với thị trường tiềm năng. Có thể đánh giá thực trạng ngành công nghiệp môi trường ở nước ta hiện nay như sau:

- Công nghệ và dịch vụ chưa phát triển; nhiều lĩnh vực và sản phẩm môi trường vẫn còn thiếu ở Việt Nam so với nhiều nước, nguồn cung về thiết bị, công nghệ và dịch vụ yếu, thiếu và chưa phong phú.

- Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường, các doanh nghiệp môi trường còn yếu và thiếu, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao và có kinh nghiệm, dẫn đến uy tín và thương hiệu của các nhà cung cấp chưa đủ thuyết phục người sử dụng nội địa, thiếu tính cạnh tranh với quốc tế.

- Ngành công nghiệp môi trường hiện tại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quốc gia trong thời gian tới nhằm gia tăng số lượng và chất lượng dịch vụ, sản phẩm môi trường của ngành công nghiệp này.

- Các doanh nghiệp công nghiệp môi trường ở Việt Nam chưa thực sự phát triển gắn liền với việc tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong và ngoài nước. Điều đó khiến mức độ lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài càng lớn do càng thiếu động lực và nguồn lực phát triển.

Thực trạng trên bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau như sự non kém trong kinh nghiệm phát triển công nghiệp môi trường; sự hạn chế về khả năng tài chính; sự yếu kém trong quản lý môi trường… Song, sự thiếu vắng các quy định pháp luật cần thiết làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường là một trong những nguyên nhân không nhỏ. Vì vậy, xây dựng các quy định pháp luật về phát triển ngành công nghiệp môi trường là đòi hỏi cấp thiết phát sinh từ thực trạng ngành công nghiệp môi trường ở nước ta hiện nay.

Bốn là, đòi hỏi từ xu hướng và tiềm năng phát triển ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, công nghiệp môi trường ở nước ta đã có những thay đổi đáng kể, với mức độ phát triển khá nhanh. Các số liệu thống kê bước đầu cho thấy, trong lĩnh vực xử lý nước thải, năm 2007 cả nước mới có 36 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, thì đến năm 2010 đã lên đến 153 doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải rắn, có 270 doanh nghiệp năm 2007 và đến năm 2010 là 463 doanh nghiệp. Tại thời điểm cuối năm 2012, theo khảo sát của Tổng cục Môi trường, có 3.982 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, trong đó có 3.581 doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2006 - 2012, riêng giai đoạn 2006 - 2009 đã có tới 2.321 doanh nghiệp được thành lập đăng ký hoạt động trong lĩnh vực này. Trong lĩnh vực xử lý nước thải, giai đoạn 2007 - 2010 tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký trung bình đạt 62%/năm, tốc độ gia tăng số lượng lao động đạt 45%/năm, tốc độ tăng vốn đạt trung bình 78 %/năm. Trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải rắn, tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp đạt 20%/năm trong giai đoạn 2007 - 2010, tăng lao động đạt 8%/năm và tăng nguồn vốn đạt 36%/năm. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng nêu trên có thể gây ra không ít hệ lụy cho môi trường nếu không được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất. Theo đó, tình trạng phát triển bất chấp những đòi hỏi về sự an toàn cho cộng đồng cũng như cho môi trường tự nhiên có thể xảy ra khi các chủ thể tiến hành phát triển công nghiệp môi trường chỉ chú trọng đến khai thác giá trị kinh tế của ngành công nghiệp này.

Ngoài sự phát triển nhanh chóng nêu trên, tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam là khá lớn. Theo kết quả điều tra khảo sát đánh giá về nhu cầu và năng lực phát triển ngành công nghiệp môi trường tại 20 tỉnh thành trên cả nước của Bộ Công Thương, kết quả đánh giá sơ bộ ban đầu cho thấy thị trường cho ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam có tiềm năng tương đối lớn. Lượng chất thải rắn phát thải hiện nay khoảng 30 triệu tấn và mức tăng trưởng hàng năm khoảng 7%. Ước tính nhu cầu thị trường cho lĩnh vực xử lý chất thải rắn hàng năm khoảng 2,340 tỷ đồng và đến năm 2010 đạt khoảng 3,900 tỷ đồng. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tiềm năng tái chế chất thải rắn công nghiệp cũng rất cao, ở nhiều ngành tỷ lệ chất thải có khả năng tái chế đạt hơn 80%. Mỗi năm sẽ tiết kiệm được 54 tỷ đồng nếu mỗi cơ sở sản xuất của 06 ngành công nghiệp tái chế 50% lượng chất thải của cơ sở mình5. Những tiềm năng khác về các lĩnh vực khác như phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm, dịch vụ hỗ trợ kĩ thuật, tư vấn chuyển giao công nghệ; sản xuất thiết bị, vật tư, nguyên liệu và sản phẩm thân thiện môi trường cũng là rất lớn. Song, tiềm năng này sẽ không dễ khai thác và phát triển mạnh nếu không có cơ chế pháp lý phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện các dịch vụ môi trường. Vì vậy, cần xây dựng các quy định pháp luật về cơ chế quản lý cũng như những ưu đãi, hỗ trợ đối với các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường nhằm tăng cường sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước vào các hoạt động đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải hay cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường…

2. Định hướng điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Xuất phát từ những đòi hỏi nêu trên, điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam cần sớm được thực hiện theo hướng sau:

Thứ nhất, điều chỉnh về chính sách phát triển công nghiệp môi trường

Nhóm quy định này cần đề cập đến các chính sách như:

- Chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công nghiệp môi trường.

- Chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường.

- Chính sách bảo đảm phát triển công nghiệp môi trường hài hòa các lĩnh vực: Sản xuất, chế tạo thiết bị bảo vệ môi trường; xử lý, tái chế chất thải và nghiên cứu phát triển công nghệ phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường.

- Chính sách đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng, xúc tiến đầu tư, hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ để phát triển công nghiệp môi trường.

Thứ hai, điều chỉnh về các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường

Nhóm quy định này cần được xây dựng riêng cho từng nội dung cụ thể của phát triển công nghiệp môi trường, bao gồm:

- Quy định về nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ công nghiệp môi trường: Quy định cụ thể các yêu cầu đối với nghiên cứu và ứng dụng chuyển giao công nghệ công nghiệp môi trường; các trường hợp được ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng...

- Quy định về công nghệ xử lý, tái chế chất thải. Các loại công nghệ xử lý, tái chế chất thải; các yêu cầu đối với công nghệ tái chế, xử lý chất thải là những vấn đề cơ bản cần được điều chỉnh trong nhóm quy định này.

- Quy định về thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường, đặc biệt là các thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường được ưu tiên phát triển. Nội dung điều chỉnh này cần quy định các vấn đề như: Danh mục thiết bị sản phẩm công nghiệp môi trường; các yêu cầu đặt ra đối với thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường...

- Quy định về phát triển dịch vụ môi trường, bao gồm các dịch vụ như: Thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc, phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường; phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường; tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường; giám định về môi trường đối với hàng hóa, máy móc, thiết bị, công nghệ; giám định thiệt hại về môi trường; giám định sức khỏe môi trường.

Thứ ba, điều chỉnh về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường

Để bảo đảm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường, nội dung điều chỉnh pháp luật về ưu đãi hỗ trợ cho công nghiệp môi trường cần quy định các vấn đề sau:

- Đối tượng được ưu đãi, hỗ trợ.

- Nguyên tắc ưu đãi, hỗ trợ.

- Các hình thức ưu đãi: Ưu đãi về thuế; ưu đãi về huy động vốn; ưu đãi tiền thuê đất...

- Hỗ trợ nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

Thứ tư, điều chỉnh về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong phát triển công nghiệp môi trường

Đây là quy định cần thiết để xác định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này trong phát triển công nghiệp môi trường. Chúng tôi cho rằng, cần xây dựng quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ngành như: Bộ Công thương; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Tài chính... và ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tóm lại, điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường là một đòi hỏi tất yếu trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Với việc xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về chính sách phát triển công nghiệp môi trường; về các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường; về những ưu đãi hỗ trợ cho phát triển công nghiệp môi trường hay trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với phát triển công nghiệp môi trường, Việt Nam sẽ có thêm cơ sở pháp lý để quản lý thống nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành công nghiệp “non nớt” này, góp phần bảo đảm sự bền vững về môi trường trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

TS. Vũ Thị Duyên Thủy
Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: