Thứ bảy 24/10/2026 18:11
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam - Nhu cầu và định hướng

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp môi trường về hiện trạng phát triển và năng lực của ngành công nghiệp môi trường, thì hiện nay Việt Nam hiện có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại.

Theo báo cáo của Hiệp hội Công nghiệp môi trường về hiện trạng phát triển và năng lực của ngành công nghiệp môi trường, thì hiện nay Việt Nam hiện có khoảng gần 4.000 doanh nghiệp được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực môi trường như: Thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại. Kết quả điều tra, khảo sát trong năm 2015 của Hiệp hội Công nghiệp môi trường cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp công nghiệp môi trường có quy mô nhỏ, vốn dưới 5 tỷ đồng (chiếm khoảng 52,6% tổng số doanh nghiệp môi trường), số lượng doanh nghiệp quy mô lớn, vốn trên 500 tỷ đồng không nhiều (chiếm khoảng 2,84%). Theo Niên giám thống kê năm 2014, tổng sản phẩm theo giá hiện hành của doanh nghiệp môi trường năm 2014 là 19.526 tỷ, tương ứng gần 0,5% GDP. Điều đó cho thấy, ngành công nghiệp môi trường Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, do vậy cần có một cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động của ngành này. Trong bài viết này, tác giả phân tích những nhu cầu và định hướng điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam.

Công nghiệp môi trường là một ngành kinh tế cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ và sản phẩm phục vụ các yêu cầu về bảo vệ môi trường (Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014). Ngành công nghiệp môi trường bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến lĩnh vực môi trường và có khả năng đem lại lợi nhuận từ các hoạt động này. Hoạt động của ngành công nghiệp môi trường sẽ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ môi trường đáp ứng nhu cầu phòng ngừa ô nhiễm và bảo vệ môi trường, bao gồm: Các hoạt động đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải và tái sinh các nguồn chất thải; cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường như nước, các loại vật liệu tái sinh và các nguồn năng lượng sạch; các hoạt động góp phần tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế; các hoạt động thu gom, xử lý các loại chất thải từ tất cả các hoạt động trong xã hội1… Với sự phát triển của mình, ngành công nghiệp môi trường không chỉ đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường của mỗi quốc gia mà còn có khả năng đóng góp không nhỏ cho sự tăng trưởng chung toàn cầu. Tại Việt Nam, sản xuất có liên quan đến định hướng công nghiệp môi trường chỉ mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Hiện tại, nó đòi hỏi cần có một hệ thống các quy định pháp luật phù hợp làm cơ sở pháp lý vững chắc cho sự phát triển một cách đồng bộ và hiệu quả.

1. Nhu cầu điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Trong điều kiện hiện tại của Việt Nam, trước yêu cầu bảo đảm phát triển bền vững, nhu cầu xây dựng các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường là rất lớn. Nhu cầu đó xuất phát từ những đòi hỏi chủ yếu sau:

Một là, đòi hỏi từ thực tiễn điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Nhận thức được vai trò của công nghiệp môi trường trong bảo vệ môi trường cũng như phát triển kinh tế, trong những năm qua, Việt Nam đã có những quan tâm nhất định đến điều chỉnh pháp luật trong phát triển công nghiệp môi trường. Một số văn bản pháp luật có liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường đã được ban hành như:

- Quyết định số 1030/QĐ-TTg ngày 20/7/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025”. Đề án này có mục tiêu tổng quát là phát triển ngành công nghiệp môi trường thành một ngành công nghiệp có khả năng cung cấp các công nghệ, thiết bị, dịch vụ, sản phẩm môi trường phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường nhằm xử lý, kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường. Giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015 là giai đoạn xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp môi trường; phát triển các doanh nghiệp công nghiệp môi trường, các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng công nghệ môi trường đủ năng lực đáp ứng cơ bản nhiệm vụ bảo vệ môi trường, sử dụng bền vững tài nguyên; nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc phát triển ngành công nghiệp môi trường.

- Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 là đạo luật đầu tiên trong hệ thống pháp luật môi trường có một số quy định liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường như:

+ Điều 142 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ và Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xử lý các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng thuộc thẩm quyền quản lý, phát triển ngành công nghiệp môi trường và tổ chức triển khai thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực quản lý.

+ Điều 151 và Điều 153 quy định về ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường. Theo quy định này, Nhà nước đầu tư và có chính sách hỗ trợ tổ chức, cá nhân phát triển công nghiệp môi trường. Các tổ chức, cá nhân xây dựng cơ sở công nghiệp môi trường sẽ được hưởng các ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước.

- Quyết định số 1292/QĐ-TTg ngày 01/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng thực hiện chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản hướng đến năm 2020, tầm nhìn 2030 là văn bản gần đây nhất quy định về phát triển công nghiệp môi trường. Văn bản này đề cập đến định hướng, mục tiêu và kế hoạch hành động phát triển công nghiệp môi trường. Theo đó, định hướng chung là phát triển mạnh ngành công nghiệp môi trường đến năm 2020 trở thành ngành công nghiệp chủ lực, có đóng góp quan trọng trong nền kinh tế, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu xử lý ô nhiễm, môi trường, sử dụng năng lượng bền vững. Với định hướng đó, một trong những mục tiêu của kế hoạch này là hoàn thiện cơ chế và chính sách ưu đãi, hỗ trợ, tạo môi trường thuận lợi và hấp dẫn thu hút đầu tư phát triển ngành công nghiệp môi trường và tiết kiệm năng lượng.

Như vậy, hiện tại các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam rất ít và mới chỉ dừng lại ở quy định chung mà chưa được hướng dẫn áp dụng cụ thể, nên chưa thể triển khai thống nhất và hiệu quả trên thực tế. Nó cũng cho thấy, xây dựng các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam là nhu cầu tất yếu, cần sớm được đáp ứng.

Hai là, đòi hỏi từ thực tiễn bảo vệ môi trường tại Việt Nam

Theo báo cáo tổng quan về hiện trạng môi trường Việt Nam tại Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, môi trường Việt Nam đã và đang có những diễn biến phức tạp. Đó là: Ô nhiễm môi trường tiếp tục gia tăng tại ba lưu vực sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy, sông Đồng Nai; ô nhiễm môi trường đô thị, các khu công nghiệp, làng nghề ngày càng trầm trọng; đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng, sinh vật ngoại lai xâm hại và sinh vật biến đổi gen xâm lấn ngày càng tăng. Công tác quản lý môi trường còn nhiều bất cập, vai trò của cộng đồng chưa được phát huy đúng mức… Trong khi đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, sự cố môi trường có xu hướng gia tăng, làm cho vấn đề môi trường của nước ta đứng trước những thách thức rất lớn cần sớm được giải quyết2.

Trên bình diện quốc tế, theo đánh giá mới đây của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, với 59 điểm trong bảng xếp hạng chỉ số hiệu quả hoạt động môi trường, Việt Nam đứng ở vị trí 85/163 các nước được xếp hạng. Các nước khác trong khu vực như Philippines 66 điểm, Thái Lan 62 điểm, Lào 60 điểm, Trung Quốc 49 điểm, Indonesia 45 điểm... Còn theo kết quả nghiên cứu của Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp và ảnh hưởng nhiều nhất đến sức khỏe. Mới đây, hai trung tâm nghiên cứu môi trường thuộc Đại học Yale và Columbia của Mỹ đã thực hiện báo cáo thường niên khảo sát ở 132 quốc gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ 123/132 quốc gia khảo sát; về ảnh hưởng của môi trường đến sức khỏe đứng vị trí 77; về chất lượng nước Việt Nam được xếp hạng 80. Tính theo chỉ số chung EPI, Việt Nam xếp thứ 793.

Thực trạng nêu trên cho thấy cần sớm triển khai các biện pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống chung của cộng đồng. Để làm được điều đó, không thể thiếu việc sử dụng các thiết bị công nghệ hay các loại hình dịch vụ xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường - sản phẩm của ngành công nghiệp môi trường. Nói cách khác, phát triển ngành công nghiệp môi trường là giải pháp kinh tế - kỹ thuật cần thiết để đáp ứng các đòi hỏi bức xúc của thực tiễn bảo vệ môi trường mà pháp luật môi trường không thể đứng ngoài sự phát triển đó. Tuy nhiên, đây hiện lại là “khoảng trống” lớn của hệ thống pháp luật môi trường hiện hành cần sớm được “lấp đầy”. Bởi lẽ, các quy định pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường không đơn thuần chỉ là sự định hướng hay khuyến khích mà còn ràng buộc các chủ thể có liên quan vào việc thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước, với cộng đồng khi tiến hành các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường.

Ba là, đòi hỏi từ thực tiễn ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Tại Việt Nam, công nghiệp môi trường là một ngành công nghiệp khá non yếu. Nền công nghiệp này hàng năm mới chỉ đáp ứng được 5% tổng nhu cầu xử lý nước thải đô thị, chế biến và tái chế khoảng 15% nhu cầu chất thải rắn và 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại. Theo thống kê của Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam, đến nay có khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp môi trường. Trong đó, hoạt động sản xuất, kinh doanh được chia ra ba loại hình: Dịch vụ môi trường; sản xuất thiết bị và công nghệ; phát triển bền vững và phục hồi tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh các công ty môi trường đô thị thuộc sở hữu nhà nước, xuất hiện ngày càng nhiều các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác như tư nhân, liên doanh, liên kết4.

Mặc dù có những thay đổi đáng kể trong một số năm gần đây, song nhìn chung phát triển công nghiệp môi trường Việt Nam vẫn còn manh mún, đơn lẻ, thiếu sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, doanh thu còn thấp, chưa tương xứng với thị trường tiềm năng. Có thể đánh giá thực trạng ngành công nghiệp môi trường ở nước ta hiện nay như sau:

- Công nghệ và dịch vụ chưa phát triển; nhiều lĩnh vực và sản phẩm môi trường vẫn còn thiếu ở Việt Nam so với nhiều nước, nguồn cung về thiết bị, công nghệ và dịch vụ yếu, thiếu và chưa phong phú.

- Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường, các doanh nghiệp môi trường còn yếu và thiếu, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao và có kinh nghiệm, dẫn đến uy tín và thương hiệu của các nhà cung cấp chưa đủ thuyết phục người sử dụng nội địa, thiếu tính cạnh tranh với quốc tế.

- Ngành công nghiệp môi trường hiện tại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường quốc gia trong thời gian tới nhằm gia tăng số lượng và chất lượng dịch vụ, sản phẩm môi trường của ngành công nghiệp này.

- Các doanh nghiệp công nghiệp môi trường ở Việt Nam chưa thực sự phát triển gắn liền với việc tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ trong và ngoài nước. Điều đó khiến mức độ lệ thuộc vào các doanh nghiệp nước ngoài càng lớn do càng thiếu động lực và nguồn lực phát triển.

Thực trạng trên bắt nguồn từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau như sự non kém trong kinh nghiệm phát triển công nghiệp môi trường; sự hạn chế về khả năng tài chính; sự yếu kém trong quản lý môi trường… Song, sự thiếu vắng các quy định pháp luật cần thiết làm cơ sở pháp lý cho các hoạt động liên quan đến phát triển công nghiệp môi trường là một trong những nguyên nhân không nhỏ. Vì vậy, xây dựng các quy định pháp luật về phát triển ngành công nghiệp môi trường là đòi hỏi cấp thiết phát sinh từ thực trạng ngành công nghiệp môi trường ở nước ta hiện nay.

Bốn là, đòi hỏi từ xu hướng và tiềm năng phát triển ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, công nghiệp môi trường ở nước ta đã có những thay đổi đáng kể, với mức độ phát triển khá nhanh. Các số liệu thống kê bước đầu cho thấy, trong lĩnh vực xử lý nước thải, năm 2007 cả nước mới có 36 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, thì đến năm 2010 đã lên đến 153 doanh nghiệp. Trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải rắn, có 270 doanh nghiệp năm 2007 và đến năm 2010 là 463 doanh nghiệp. Tại thời điểm cuối năm 2012, theo khảo sát của Tổng cục Môi trường, có 3.982 doanh nghiệp đăng ký hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ môi trường, trong đó có 3.581 doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn 2006 - 2012, riêng giai đoạn 2006 - 2009 đã có tới 2.321 doanh nghiệp được thành lập đăng ký hoạt động trong lĩnh vực này. Trong lĩnh vực xử lý nước thải, giai đoạn 2007 - 2010 tốc độ gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký trung bình đạt 62%/năm, tốc độ gia tăng số lượng lao động đạt 45%/năm, tốc độ tăng vốn đạt trung bình 78 %/năm. Trong lĩnh vực thu gom và xử lý chất thải rắn, tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp đạt 20%/năm trong giai đoạn 2007 - 2010, tăng lao động đạt 8%/năm và tăng nguồn vốn đạt 36%/năm. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng nêu trên có thể gây ra không ít hệ lụy cho môi trường nếu không được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất. Theo đó, tình trạng phát triển bất chấp những đòi hỏi về sự an toàn cho cộng đồng cũng như cho môi trường tự nhiên có thể xảy ra khi các chủ thể tiến hành phát triển công nghiệp môi trường chỉ chú trọng đến khai thác giá trị kinh tế của ngành công nghiệp này.

Ngoài sự phát triển nhanh chóng nêu trên, tiềm năng phát triển của ngành công nghiệp môi trường tại Việt Nam là khá lớn. Theo kết quả điều tra khảo sát đánh giá về nhu cầu và năng lực phát triển ngành công nghiệp môi trường tại 20 tỉnh thành trên cả nước của Bộ Công Thương, kết quả đánh giá sơ bộ ban đầu cho thấy thị trường cho ngành công nghiệp môi trường ở Việt Nam có tiềm năng tương đối lớn. Lượng chất thải rắn phát thải hiện nay khoảng 30 triệu tấn và mức tăng trưởng hàng năm khoảng 7%. Ước tính nhu cầu thị trường cho lĩnh vực xử lý chất thải rắn hàng năm khoảng 2,340 tỷ đồng và đến năm 2010 đạt khoảng 3,900 tỷ đồng. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, tiềm năng tái chế chất thải rắn công nghiệp cũng rất cao, ở nhiều ngành tỷ lệ chất thải có khả năng tái chế đạt hơn 80%. Mỗi năm sẽ tiết kiệm được 54 tỷ đồng nếu mỗi cơ sở sản xuất của 06 ngành công nghiệp tái chế 50% lượng chất thải của cơ sở mình5. Những tiềm năng khác về các lĩnh vực khác như phòng ngừa kiểm soát ô nhiễm, dịch vụ hỗ trợ kĩ thuật, tư vấn chuyển giao công nghệ; sản xuất thiết bị, vật tư, nguyên liệu và sản phẩm thân thiện môi trường cũng là rất lớn. Song, tiềm năng này sẽ không dễ khai thác và phát triển mạnh nếu không có cơ chế pháp lý phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp phát triển và hoàn thiện các dịch vụ môi trường. Vì vậy, cần xây dựng các quy định pháp luật về cơ chế quản lý cũng như những ưu đãi, hỗ trợ đối với các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường nhằm tăng cường sự tham gia của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước vào các hoạt động đánh giá, phân tích và bảo vệ môi trường; các hoạt động kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải hay cung cấp và vận chuyển các tài nguyên môi trường…

2. Định hướng điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường tại Việt Nam

Xuất phát từ những đòi hỏi nêu trên, điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam cần sớm được thực hiện theo hướng sau:

Thứ nhất, điều chỉnh về chính sách phát triển công nghiệp môi trường

Nhóm quy định này cần đề cập đến các chính sách như:

- Chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để mọi tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công nghiệp môi trường.

- Chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường.

- Chính sách bảo đảm phát triển công nghiệp môi trường hài hòa các lĩnh vực: Sản xuất, chế tạo thiết bị bảo vệ môi trường; xử lý, tái chế chất thải và nghiên cứu phát triển công nghệ phục vụ yêu cầu bảo vệ môi trường.

- Chính sách đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu ứng dụng, xúc tiến đầu tư, hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ để phát triển công nghiệp môi trường.

Thứ hai, điều chỉnh về các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường

Nhóm quy định này cần được xây dựng riêng cho từng nội dung cụ thể của phát triển công nghiệp môi trường, bao gồm:

- Quy định về nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ công nghiệp môi trường: Quy định cụ thể các yêu cầu đối với nghiên cứu và ứng dụng chuyển giao công nghệ công nghiệp môi trường; các trường hợp được ưu tiên nghiên cứu và ứng dụng...

- Quy định về công nghệ xử lý, tái chế chất thải. Các loại công nghệ xử lý, tái chế chất thải; các yêu cầu đối với công nghệ tái chế, xử lý chất thải là những vấn đề cơ bản cần được điều chỉnh trong nhóm quy định này.

- Quy định về thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường, đặc biệt là các thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường được ưu tiên phát triển. Nội dung điều chỉnh này cần quy định các vấn đề như: Danh mục thiết bị sản phẩm công nghiệp môi trường; các yêu cầu đặt ra đối với thiết bị, sản phẩm công nghiệp môi trường...

- Quy định về phát triển dịch vụ môi trường, bao gồm các dịch vụ như: Thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải; quan trắc, phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường; phát triển, chuyển giao công nghệ sản xuất thân thiện với môi trường, công nghệ môi trường; tư vấn, đào tạo, cung cấp thông tin về môi trường; giám định về môi trường đối với hàng hóa, máy móc, thiết bị, công nghệ; giám định thiệt hại về môi trường; giám định sức khỏe môi trường.

Thứ ba, điều chỉnh về các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ phát triển công nghiệp môi trường

Để bảo đảm khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường, nội dung điều chỉnh pháp luật về ưu đãi hỗ trợ cho công nghiệp môi trường cần quy định các vấn đề sau:

- Đối tượng được ưu đãi, hỗ trợ.

- Nguyên tắc ưu đãi, hỗ trợ.

- Các hình thức ưu đãi: Ưu đãi về thuế; ưu đãi về huy động vốn; ưu đãi tiền thuê đất...

- Hỗ trợ nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ; hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

Thứ tư, điều chỉnh về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong phát triển công nghiệp môi trường

Đây là quy định cần thiết để xác định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này trong phát triển công nghiệp môi trường. Chúng tôi cho rằng, cần xây dựng quy định cụ thể trách nhiệm của các Bộ, ngành như: Bộ Công thương; Bộ Tài nguyên và Môi trường; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Tài chính... và ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Tóm lại, điều chỉnh pháp luật về phát triển công nghiệp môi trường là một đòi hỏi tất yếu trong điều kiện hiện tại của Việt Nam. Với việc xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về chính sách phát triển công nghiệp môi trường; về các hoạt động phát triển công nghiệp môi trường; về những ưu đãi hỗ trợ cho phát triển công nghiệp môi trường hay trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với phát triển công nghiệp môi trường, Việt Nam sẽ có thêm cơ sở pháp lý để quản lý thống nhất và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành công nghiệp “non nớt” này, góp phần bảo đảm sự bền vững về môi trường trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

TS. Vũ Thị Duyên Thủy
Trường Đại học Luật Hà Nội

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: