Thứ năm 27/08/2026 02:01
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều động công chức - Những bất cập và giải pháp

Điều động là việc cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác. Bài viết về những hạn chế trong trường hợp điều động công chức, thủ tục điều động công chức và đưa ra giải pháp để hoàn thiện hơn về công tác này.

Điều động là việc cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền quyết định chuyển từ cơ quan, tổ chức, đơn vị này đến làm việc ở cơ quan, tổ chức, đơn vị khác. Bài viết về những hạn chế trong trường hợp điều động công chức, thủ tục điều động công chức và đưa ra giải pháp để hoàn thiện hơn về công tác này.

1. Những bất cập của pháp luật quy định về trường hợp điều động và thủ tục điều động công chức

Thứ nhất, quy định của pháp luật về các trường hợp điều động công chức còn định tính, chưa cụ thể

Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) quy định việc điều động công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Bên cạnh đó, công chức được điều động phải đạt yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với vị trí việc làm mới (Điều 50).

Theo quy định này, thuật ngữ cần giải thích rõ là “yêu cầu nhiệm vụ”. Trên thực tế, chưa tìm thấy văn bản quy phạm pháp luật nào giải thích thuật ngữ “yêu cầu nhiệm vụ” mà chỉ căn cứ vào quyết định của chủ thể có thẩm quyền ra quyết định điều động. Việc xác định nhiệm vụ cụ thể nào sẽ do người có thẩm quyền quyết định. Thẩm quyền ở đây được hiểu là quyền hành động và quyền quyết định, tức là quyền được làm những công việc nhất định và quyền hạn giải quyết công việc đó trong pháp vi pháp luật cho phép[1]. Thông thường, thẩm quyền gắn liền với hai yếu tố: (i) Những quyền và nghĩa vụ chung quy định gắn liền với việc thực hiện những chức năng nhất định, những vấn đề, nhiệm vụ nhất định trong lĩnh vực, hoạt động nhất định; (ii) Những quyền hạn cụ thể nhằm thực hiện quyền và nghĩa vụ nêu trên[2]. Điều này có thể dẫn đến việc điều động mang tính chủ quan hơn là khách quan như yêu cầu của pháp luật.

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền điều động sẽ tự xác định yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của mình cũng như đánh giá công chức được điều động, hầu hết căn cứ vào quy hoạch, nhu cầu công tác hàng năm. Chính quy định mang tính định tính này dẫn tới tình trạng điều động công chức chưa đúng. Một ví dụ tại tỉnh Thanh Hóa đã được báo chí phản ánh, đó là trường hợp Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa điều động ông Lương Ngọc Hùng, Chánh án Tòa án nhân dân TP. Thanh Hóa về làm Trưởng Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và thi hành án Tòa án nhân dân tỉnh. Việc điều động này đã không đúng theo Quy chế điều động, luân chuyển, biệt phái công chức Ngành Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, ban hành kèm theo Quyết định số 36/QĐ-TCCB ngày 01/03/2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, bởi vì, theo Điều 3 của Quy chế thì lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh, công chức có thời gian công tác còn lại dưới 18 tháng trước khi đủ tuổi nghỉ hưu hoặc có lý do sức khỏe và hoàn cảnh gia đình không phải là đối tượng áp dụng của Quy chế này. Trong trường hợp này, ông Hùng còn 15 tháng 15 ngày là đến tuổi nghỉ hưu theo chế độ[3].

Một vấn đề khác trong điều động công chức đó là yếu tố “năng lực”. Thuật ngữ “năng lực” được hiểu là năng lực thực thi nhiệm vụ của một cá nhân, là khả năng thực hiện một hoạt động, giải quyết một (loại) công việc cụ thể trên thực tế[4]. Nguyên tắc điều động phải dựa trên nguyên tắc xác định và quản lý vị trí việc làm và phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý công chức. Vị trí công việc được xác định và điều chỉnh phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị. Trên thực tế thì cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào bằng cấp, chứng chỉ và quá trình hoạt động của công chức để đánh giá về chuyên môn, năng lực. Chính quy định chưa rõ ràng này, có thể dẫn đến những hạn chế trong công tác điều động công chức.

Thứ hai, thủ tục điều động công chức chưa thống nhất

Theo quy định của pháp luật hiện hành, người đứng đầu cơ quan, tổ chức được phân công, phân cấp quản lý công chức quyết định việc điều động công chức thuộc thẩm quyền quản lý hoặc báo cáo, trình cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật[5].

Về nguyên tắc, thủ tục bắt đầu bằng việc xác định căn cứ quy hoạch, nhu cầu công tác và năng lực, sở trường của công chức, người đứng đầu cơ quan, tổ chức được phân công, phân cấp quản lý công chức xây dựng kế hoạch, biện pháp điều động công chức thuộc phạm vi quản lý, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định thực hiện[6].

Có thể thấy, trong thủ tục điều động thì bước đầu tiên là phải căn cứ vào quy hoạch và nhu cầu công tác. Quy hoạch được xem là công tác phát hiện, bồi dưỡng nguồn công chức có đức, có tài và có năng lực để thực thi công vụ và để thực hiện công tác quản lý trong cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng nhiệm vụ chính trị của địa phương[7]. Yêu cầu chung của quy hoạch công chức là phải có đề án quy hoạch công chức, tức là phải có kế hoạch tổng thể, dài hạn về đội ngũ công chức và xác định các công việc cụ thể mà công chức có thể đảm trách. Ngoài ra, việc quy hoạch phải có tính thực tiễn, khả thi và phù hợp với từng giai đoạn nhất định. Cần lưu ý thêm trong quy hoạch phải có cơ cấu tổng thể theo trình độ ngành nghề, lĩnh vực công tác, độ tuổi, giới tính, dân tộc để có thể điều động công chức một cách hợp lý và hiệu quả nhất.

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan có thẩm quyền vận dụng quy trình điều động công chức khá linh hoạt. Ví dụ: Tại TP. Hồ Chí Minh, việc điều động công chức thực hiện với ba hình thức tùy vào căn cứ là nguyện vọng của công chức hoặc do nhu cầu của tổ chức mà có các bước cụ thể khác nhau cho từng cách thức: (i) Điều động công chức trong biên chế khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thành phố (nếu do nguyện vọng công chức thì theo 03 bước, nếu theo nhu cầu của tổ chức thì theo 04 bước); (ii) Điều động công chức từ biên chế khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thành phố về khối chính quyền (nếu do nguyện vọng công chức thì theo 04 bước, nếu theo nhu cầu của tổ chức thì theo 05 bước); (iii) Tiếp nhận công chức từ khối chính quyền về biên chế khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội thành phố (nếu do nguyện vọng công chức thì theo 04 bước, nếu theo nhu cầu của tổ chức thì theo 05 bước)[8].

Tỉnh Trà Vinh quy định ba quy trình điều động công chức trong cơ quan hành chính khá cụ thể, bao gồm: (i) Trình tự, thủ tục điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ đơn vị A sang đơn vị B (gồm 07 bước); (ii) Trình tự, thủ tục điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở đơn vị A sang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý ở đơn vị B (gồm 10 bước); (iii) Trình tự, thủ tục điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ đơn vị A sang đơn vị B (gồm 10 bước)[9].

Nhìn chung, đối với công chức trong cơ quan hành chính cấp tỉnh, thông thường, Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc Sở Nội vụ sẽ căn cứ đề nghị của các đơn vị về việc điều động công chức để phục vụ cho nhu cầu công tác của đơn vị. Trường hợp các cơ quan hành chính nhà nước trực thuộc Ủy ban nhân dân không chủ động đề xuất, Sở Nội vụ rà soát đề xuất đưa công chức, viên chức của các cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh vào xây dựng kế hoạch điều động công chức hàng năm của Ủy ban nhân dân tỉnh.

Thứ ba, chính sách đối với công chức trong cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh được điều động chưa đủ mạnh để tạo kích thích, động lực và an tâm công tác

Thực trạng cho thấy nhiều địa phương chưa có những chính sách đặc thù để hỗ trợ cho công chức được điều động. Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ nhà ở công vụ cũng chưa đầy đủ, chủ yếu chỉ là nhà ở công vụ bố trí cho công chức được điều động có giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp phó cấp sở và tương đương trở lên, chưa đề cập đến các trường hợp khác.

Một hạn chế nữa trong chính sách điều động công chức là vấn đề về hỗ trợ chi phí. Theo khảo sát từ thực trạng thì việc hỗ trợ chi phí đi lại chưa cao, nhất là ở cấp huyện, vùng xã đảo, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngoài ra, nhiều địa phương (ví dụ Trà Vinh) cũng chưa có chính sách hỗ trợ chi phí sinh hoạt, ăn, ở cho công chức được điều động. Đồng thời, chưa có giải pháp phù hợp đối với các công chức được điều động trong điều kiện khó khăn về gia đình, nhất là công chức nữ.

2. Giải pháp hoàn thiện

2.1. Các giải pháp mang tính pháp lý

- Đối với các trường hợp điều động: Pháp luật cần phải chuyển hóa quy định mang tính định tính sang định lượng về yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức, cụ thể là thông qua các tiêu chí về đánh giá định lượng công chức được điều động.

Chúng ta không thấy nhiều các quyết định ban hành quy chế về điều động của các cơ quan quy định rõ vấn đề này. Hầu hết căn cứ vào quy hoạch, nhu cầu công tác hàng năm. Chính quy định mang tính định tính này mà nhiều trường hợp điều động công chức chưa đúng. Liên quan đến năng lực chuyên môn, trên thực tế thì cơ quan có thẩm quyền thường căn cứ vào bằng cấp, chứng chỉ và quá trình hoạt động của công chức để đánh giá về chuyên môn, năng lực. Tuy nhiên, nhiều trường hợp điều động do nhu cầu công tác hơn là nhu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ. Với những hạn chế nêu trên, tác giả kiến nghị là cần phải có những quy định mang tính định lượng khi xác định “nhiệm vụ, yêu cầu cụ thể”.

- Đối với trường hợp năng lực chuyên môn: Cần đánh giá công việc, bao gồm: (i) Kiến thức của công chức được điều động mà công việc đòi hỏi; đánh giá kết quả công việc trước đó mà công chức đã thực hiện; thái độ thực hiện công vụ của công chức trước thời gian được điều động; (ii) Đánh giá thái độ và tính cách công chức được điều động (nhận thức, quan điểm, ý chí cầu tiến, kỹ năng giao tiếp xã hội…); (iii) Đánh giá năng lực công chức được điều động, bao gồm năng lực lãnh đạo, năng lực tư duy, năng lực nghiên cứu. (iv) Đánh giá khả năng thích ứng của công chức được điều động để xác định khả năng phù hợp cao nhất với công việc.

- Đối với các thẩm quyền điều động: Các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm cần rà soát, sửa đổi, bổ sung, thể chế hóa nội dung và nguyên tắc kiểm soát quyền lực nhà nước trong công tác cán bộ[10] vào các văn bản pháp luật liên quan đến công tác điều động công chức, nhất là công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý. Các văn bản quy phạm trọng tâm cần rà soát là các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 để đồng bộ với quy định của Đảng, theo hướng xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm[11].

Bên cạnh đó, cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất và đầy đủ các hình thức quy trách nhiệm theo quy định của pháp luật đối với các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ[12]. Theo đó, Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị nêu rất cụ thể về trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị; thành viên cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo địa phương, cơ quan, đơn vị; người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, địa phương, cơ quan, đơn vị; người đứng đầu các cơ quan, đơn vị được giao thực hiện công tác cán bộ ở các cấp; cán bộ tham mưu, đề xuất và nhân sự đối với việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Trong khi đó, các quy định của pháp luật đối với vấn đề này chưa được cụ thể trong quá trình tổ chức thực hiện. Tiếp tục nghiên cứu, ban hành quy định về phân cấp và thẩm quyền trong công tác điều động công chức, nhất là công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong phạm vi của cơ quan, đơn vị, địa phương; trong đó, cần phân định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu để có đủ cơ sở pháp lý quy trách nhiệm khi sai phạm hoặc nhằm hạn chế triệt để việc lạm quyền, lộng quyền, kể cả là khắc phục tình trạng chạy chức, chạy quyền trong việc điều động, bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

- Đối với các thủ tục điều động: Cần quy định thống nhất trong văn bản quy phạm pháp luật. Thực trạng cho thấy các cơ quan có thẩm quyền vận dụng quy trình khá linh hoạt và chính sự linh hoạt này có thể dẫn đến sự tùy nghi. Trong thủ tục điều động cần tiếp tục hoàn thiện quy trình điều động công chức trong cơ quan hành chính đối với ba trường hợp cụ thể trên nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch; đồng thời, nghiên cứu xây dựng mới trình tự, thủ tục điều động công chức (kể cả giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý) đối với các trường hợp sau: (i) Từ đơn vị A sang đơn vị B trong cùng một cơ quan, đơn vị, địa phương; (ii) Từ cơ quan đảng, đoàn thể sang cơ quan hành chính nhà nước và ngược lại. Đồng thời, từng bước hoàn thiện tổng thể quy trình, trình tự, thủ tục đối với các trường hợp điều động công chức gắn với các quy trình, trình tự, thủ tục trong các khâu khác của công tác nhân sự theo hướng có nhiều chủ thể tham gia để góp phần tăng cường kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, góp phần chống chạy chức, chạy quyền. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần phải thực hiện đồng bộ các khâu điều động công chức từ khâu chuẩn bị hồ sơ, tiến hành làm quy trình điều động bảo đảm đúng, đầy đủ các bước trên nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch. Đồng thời, phân định rõ trách nhiệm của người đứng đầu với ban lãnh đạo, tập thể cơ quan, đơn vị trong từng bước của quy trình điều động công chức. Nhất là quy định đánh giá công chức khi điều động, bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn[13].

- Đối với việc thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức trong cơ quan hành chính nhà nước: Ngoài việc thực hiện các chế độ, chính sách theo quy định, những địa phương có điều kiện nguồn lực cần nghiên cứu xây dựng thêm chế độ, chính sách trong công tác cán bộ, trong đó, có việc điều động công chức để bảo đảm sự hỗ trợ phù hợp, cơ bản đầy đủ các mặt đời sống thiết yếu của công chức được điều động, nhất là điều động công chức từ cấp huyện đến công tác tại cấp tỉnh và ngược lại, trong đó, đặc biệt quan tâm đến công chức là nữ.

2.2. Các giải pháp mang tính kỹ thuật

Một là, tiếp tục triển khai quán triệt thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của Trung ương liên quan công tác điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước; tạo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động ở các cấp, các ngành và trong công chức, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, đổi mới về nội dung, phương pháp và thực hiện đồng bộ, có hệ thống việc đánh giá nhận xét, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, luân chuyển công chức và thực hiện chính sách cán bộ. Kịp thời cụ thể hóa các văn bản của Trung ương về công tác điều động công chức trong cơ quan hành chính địa phương để chỉ đạo tổ chức thực hiện công tác điều động công chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương trong từng thời kỳ nhất định.

Hai là, xây dựng kế hoạch điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước đúng quy hoạch, đúng mục tiêu và đối tượng cụ thể nhằm bảo đảm đội ngũ kế thừa trước mắt và lâu dài, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy hoạch “động” và “mở”. Điều động công chức từng địa phương, cơ quan, đơn vị phải gắn với các khâu khác trong công tác nhân sự (quy hoạch, đánh giá, đào tạo - bồi dưỡng, bố trí - sử dụng, thực hiện chính sách công chức). Quan tâm điều động tạo nguồn công chức lãnh đạo, quản lý trẻ có thành tích xuất sắc, công chức là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ. Trong quá trình chỉ đạo thực hiện công tác điều động cần bảo đảm nội dung, quy trình theo hướng dẫn.

Ba là, các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền cần đổi mới khâu nhận xét, đánh giá công chức nhằm thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bố trí, sử dụng, điều động công chức trong cơ quan nhà nước, bảo vệ chính trị nội bộ, trước hết là nhân sự chủ chốt, công chức lãnh đạo, quản lý các cấp, xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Bốn là, mạnh dạn bố trí công chức trẻ, công chức nữ có triển vọng vào các chức danh lãnh đạo, quản lý để có thời gian thử thách, rèn luyện, khẳng định qua thực tiễn. Thực hiện thi tuyển chức danh cấp phó sở, ngành và tương đương. Cải tiến quy trình công tác điều động theo hướng mở rộng và phát huy dân chủ, phát huy trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân người đứng đầu.

Năm là, chú trọng điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước theo chiều dọc, mạnh dạn điều động số công chức đang giữ chức vụ cấp phó của các sở, ban, ngành, đoàn thể ở tỉnh và trưởng phòng chuyên môn trực thuộc còn trẻ có triển vọng trong quy hoạch về đảm nhận các chức danh chủ chốt của cấp dưới. Tăng cường điều động công chức trong cơ quan hành chính nhà nước theo chiều ngang, cán bộ từ khối Đảng, đoàn thể sang khối chính quyền và ngược lại. Chú trọng điều động công chức lãnh đạo, quản lý ở địa phương này sang địa phương khác.

Sáu là, triển khai thực hiện tốt chủ trương chuyển đổi vị trí công tác theo quy định của Đảng và pháp luật, từng bước bố trí công chức không phải là người địa phương. Các địa phương cũng cần bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở địa phương, cơ quan, đơn vị không giữ chức vụ quá hai nhiệm kỳ liên tiếp ở một địa phương, cơ quan, đơn vị. Các cấp ủy thường xuyên theo dõi, quản lý, giám sát và có biện pháp hỗ trợ đối với công chức thuộc diện điều động, lãnh đạo thực hiện nghiêm túc việc đánh giá, nhận xét công chức được điều động định kỳ hàng năm để nhằm giúp đỡ và phát huy tốt nhất năng lực của công chức.

Lâm Minh Đằng
Tỉnh ủy Trà Vinh



[1]. Nguyễn Thị Ngọc Tuyết (2016), “Thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính của Tòa án nhân dân cấp tỉnh”, Luật văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 5 - 6.

[2]. Nguyễn Cửu Việt (2005), “Cải cách hành chính: Về khái niệm thẩm quyền”, Nghiên cứu lập pháp, (8), tr. 12.

[3]. Văn Thanh, “Điều động cán bộ sai quy định?

[4]. Phạm Đức Toàn, “Quản lý công chức theo năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính ở Việt Nam”
[5]. Khoản 2 Điều 26 Nghị định số138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

[6]. Khoản 3 Điều 26 Nghị định 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

[7]. Xem thêm Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (Khóa IX) về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số 42-NQ/TW và Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (Khóa XI).

[8]. Tham khảo thêm Đảng Bộ Thành phồ Hồ Chí Minh, “Hồ sơ điều động cán bộ, công chức”

[9]. Quy định số 3117-QĐ/TU, ngày 10/01/2018 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Trà Vinh về luân chuyển cán bộ, Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND, ngày 07/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh về ban hành Quy định về phân cấp sử dụng, quản lý cán bộ và tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức trong các cơ quan Nhà nước trên địa bàn tỉnh Trà Vinh

[10]. Vấn đề này được quy định tại Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII; Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

[11]. Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

[12]. Vấn đề này được nêu tại Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

[13]. Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018 của Bộ Chính trị về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 7/2026

(Cập nhật bởi LuatVietnam.vn)
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam[1]

Tóm tắt: Mô hình chính quyền địa phương hai cấp được triển khai ở Việt Nam từ ngày 01/7/2025 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh, gọn, tăng cường phân quyền, phân cấp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị địa phương. Nghiên cứu phân tích các cơ hội và thách thức trong quá trình triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, làm rõ những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, bảo đảm nguồn lực và nâng cao năng lực quản trị địa phương, từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam thời gian tới.
Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Một số bất cập của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Sau hơn 13 năm thi hành, Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân dân. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số và hoàn thiện thể chế theo chủ trương, định hướng của Đảng, nhiều quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 bộc lộ những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành, tổng kết thực tiễn thi hành và bối cảnh phát triển đất nước giai đoạn mới, nghiên cứu làm rõ những bất cập về tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, đối tượng đặc thù, nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và sự không thống nhất của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 với một số luật liên quan. Từ đó, kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong bối cảnh hiện nay.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật - Yêu cầu chuyển từ phổ biến, giáo dục pháp luật hình thức sang tiếp cận dựa trên nhu cầu của người dân

Tóm tắt: Việc sửa đổi Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 là cấp thiết trước yêu cầu khắc phục tình trạng tuyên truyền thiên về hình thức, chưa gắn chặt với những vấn đề pháp lý mà người dân thực sự cần được hỗ trợ. Nghiên cứu phân tích khoảng cách giữa nguyên tắc phù hợp với nhu cầu và cơ chế nhận diện, phản ánh, đáp ứng, đo lường nhu cầu pháp lý trong dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật[1] (dự thảo Luật). Trên cơ sở phân tích quy phạm, bình luận chính sách và tiếp cận liên ngành về nhu cầu pháp lý, năng lực pháp lý, tiếp cận công lý, nghiên cứu tập trung vào các quy định về nguyên tắc, nội dung, hình thức, hướng dẫn và giải đáp pháp luật, đối tượng đặc thù, giáo dục pháp luật trong cơ sở giáo dục, trách nhiệm tổ chức thực hiện, cơ chế cấp xã, chuyển đổi số và đánh giá hiệu quả. Kết quả nghiên cứu cho thấy, dự thảo Luật đã có nhiều định hướng tích cực nhưng thiếu cơ chế khảo sát nhu cầu, thiết kế nội dung theo tình huống, chuyển tuyến hỗ trợ pháp lý và đánh giá khả năng hiểu, vận dụng pháp luật. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cách tiếp cận lấy nhu cầu pháp lý của người dân làm trung tâm.
Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên ở Việt Nam

Tóm tắt: Sự phát triển nhanh, mạnh mẽ của không gian mạng đang tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, đồng thời, đặt ra nhiều rủi ro đối với người chưa thành niên. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trở thành yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật cho nhóm đối tượng này. Nghiên cứu phân tích sự cần thiết của chuyển đổi số trong phổ biến, giáo dục pháp luật đối với người chưa thành niên; đánh giá thực trạng triển khai tại Việt Nam, chỉ ra những hạn chế, bất cập, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho người chưa thành niên.

Theo dõi chúng tôi trên: