Thứ sáu 16/01/2026 10:44
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện hưởng án treo đối với người phạm tội - Bất cập, hạn chế và kiến nghị hoàn thiện

Chế định án treo lần đầu tiên được ghi nhận tại Sắc lệnh số 21/SL ngày 14/02/1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành về tổ chức các Tòa án quân sự. Sau đó, chế định này chính thức được ghi nhận trong Bộ luật Hình sự năm 1985, sau đó là Bộ luật Hình sự năm 1999 và nay là Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Chế định án treo cho đến nay có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Việc áp dụng án treo đã tạo cơ hội cho những người phạm tội ít nghiêm trọng làm lại cuộc đời, không phải tách biệt, cách ly với xã hội. Tuy nhiên, hiện nay, việc hiểu và vận dụng các quy định của pháp luật về điều kiện hưởng án treo còn chưa có sự thống nhất. Trong phạm vi bài viết này, tác giả phân tích các quy định của pháp luật về điều kiện hưởng án treo, những bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện.

1. Điều kiện hưởng án treo theo quy định của pháp luật

Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rõ các điều kiện hưởng án treo, theo đó, người phạm tội khi bị xử phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nếu xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù thì Tòa án có thể xem xét cho hưởng án treo. Bên cạnh đó, Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo (Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP) và khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP (Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP) đã cụ thể hóa các điều kiện để người phạm tội được hưởng án treo bao gồm:

1.1. Về mức phạt tù

Mức hình phạt tù là căn cứ đầu tiên để Tòa án xem xét rằng, liệu người bị xử phạt tù có được hưởng án treo hay không. Tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định căn cứ để xem xét cho người bị áp dụng hình phạt tù được hưởng án treo là khi bị xử phạt tù không quá 03 năm. Đối với quy định này, pháp luật không quy định cụ thể về độ tuổi của người phạm tội cũng như tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có thể hiểu, đối với bất kỳ đối tượng phạm tội nào, kể cả người phạm tội là người chưa thành niên, khi bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hay tội đặc biệt nghiêm trọng trong trường đã được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà hình phạt tù không quá 03 năm thì căn cứ vào nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù thì Tòa án có thể xem xét cho hưởng án treo. Mặt khác, cũng có thể hiểu, người phạm tội khi bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt không quá 03 năm tù cũng được coi là đáp ứng điều kiện về “bị xử phạt tù không quá 03 năm”. Điều kiện về mức phạt tù được coi là điều kiện tiên quyết để làm cơ sở cho Tòa án đánh giá các điều kiện tiếp theo khi xem xét cho người phạm tội hưởng án treo. Trong trường hợp người phạm tội không thỏa mãn điều kiện này, các điều kiện tiếp theo sẽ không được Tòa án xem xét.

1.2. Về nhân thân người phạm tội

Nhân thân là điều kiện thứ hai để Tòa án xem xét cho người phạm tội được hưởng án treo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, người phạm tội phải là người “có nhân thân tốt”. Nhân thân người phạm tội là tổng hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất của người đó. Trong cơ chế hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội đóng vai trò quan trọng giúp luận giải nguyên nhân của tội phạm từ phía chủ quan người phạm tội để xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm phù hợp với từng nhóm người, nhóm nhân cách[1]. Một người phạm tội được coi là có nhân thân tốt “nếu ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc”. Tuy nhiên, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP đã có sự sửa đổi, cụ thể: Việc xác định người phạm tội có “nhân thân tốt” là không cần thiết, vì vậy, điểm a khoản 1 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP đã lược bỏ nội dung này và chỉ quy định “người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc”. Bên cạnh đó, quy định về “người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng” đã được sửa đổi thành “người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà tính đến ngày phạm tội lần này đã quá thời hạn”. Như vậy, quy định về nhân thân của người phạm tội tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP đã thể hiện sự linh hoạt hơn so với Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng. Đồng thời, Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP cũng bổ sung 02 trường hợp về nhân thân của người phạm tội, cụ thể: “Đối với người bị kết án mà khi định tội đã sử dụng tình tiết “đã bị xử lý kỷ luật” hoặc “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” hoặc “đã bị kết án” và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo” và “đối với người bị kết án mà vụ án được tách ra để giải quyết trong các giai đoạn khác nhau (tách thành nhiều vụ án) và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo”.

Những tình tiết về nhân thân vừa là điều kiện “cần”, vừa có ý nghĩa quan trọng khi xem xét cho người phạm tội hưởng án treo. Nhân thân phản ánh khả năng tự cải tạo, giáo dục của người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội. Khi người phạm tội cảm thấy ăn năn, hối lỗi và thành khẩn nhận tội thì họ có nhiều khả năng tự giáo dục, cải tạo hơn các đối tượng khác. Đây cũng là đặc điểm có liên quan đến việc đạt được mục đích của hình phạt, vì mục đích của hình phạt là cải tạo, giáo dục những người bị kết án, giáo dục các thành viên khác trong xã hội tuân thủ pháp luật, cũng như hỗ trợ cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả[2].

1.3. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong những điều kiện “cần” để đạt được mục đích của hình phạt và để hạn chế việc phải sử dụng các biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc cao[3]. Việc quy định các tình tiết giảm nhẹ trong quá trình truy cứu trách nhiệm hình sự đã tạo tiền đề quan trọng cho quá trình cảm hóa người phạm tội. Do vậy, một trong những điều kiện được hưởng án treo là phải có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khoản 3 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định: “Có từ 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự”. Như vậy, có thể hiểu, mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội được áp dụng tại quy định này là không cao, do đó, Tòa án có thể xem xét cho người phạm tội được hưởng án treo.

Bên cạnh đó, quy định này cũng đã thể hiện được sự khoan hồng, nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội khi quy định trường hợp có tình tiết tăng nặng thì số tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn từ 02 tình tiết và chỉ cần có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong số 22 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 gồm: (i) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm; (ii) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; (iii) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; (iv) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; (v) Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội; (vi) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; (vii) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; (viii) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn; (ix) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; (x) Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức; (xi) Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra; (xii) Phạm tội do lạc hậu; (xiii) Người phạm tội là phụ nữ có thai; (xiv) Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên; (xv) Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng; (xvi) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; (xvii) Người phạm tội tự thú; (xviii) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; (xix) Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án; (xx) Người phạm tội đã lập công chuộc tội; (xxi) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác; (xxii) Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

1.4. Về nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người bị kết án

Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định: “Có nơi cư trú rõ ràng hoặc nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục”. Nơi cư trú của người bị kết án phải “rõ ràng”, nơi làm việc phải “ổn định”, tính “rõ ràng”, “ổn định” phải được thể hiện cụ thể trong việc xác định địa chỉ mà người đó cư trú hoặc làm việc. Theo đó, nơi làm việc ổn định được hướng dẫn xác định như sau: “Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền”. Hoặc có thể xem xét đến nơi cư trú, “nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo”. Theo quy định của Luật Cư trú năm 2020, nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú và nơi tạm trú[4]. Trường hợp không xác định được nơi thường trú, nơi tạm trú của công dân do không đủ điều kiện đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú thì nơi cư trú được xác định là nơi ở hiện tại của người đó; trường hợp không có địa điểm chỗ ở cụ thể thì nơi ở hiện tại được xác định là đơn vị hành chính cấp xã nơi người đó đang thực tế sinh sống[5].

1.5. Xét thấy người phạm tội không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù và khi xem xét, quyết định cho bị cáo hưởng án treo Tòa án phải xem xét thận trọng, chặt chẽ các điều kiện để bảo đảm việc cho hưởng án treo đúng quy định của pháp luật, đặc biệt là đối với các trường hợp hướng dẫn tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều 3 Nghị quyết này

Theo quy định của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, để được hưởng án treo, người phạm tội ngoài việc phải đáp ứng đủ 03 điều kiện về mức hình phạt, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ như trên còn phải được Tòa án xem xét đối với điều kiện "nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Đây là quy định dẫn đến một số luồng quan điểm khác nhau và có nhiều vướng mắc trong việc áp dụng trên thực tế, đòi hỏi khi quyết định hình phạt, hội đồng xét xử cần phải cân nhắc kỹ. Việc quyết định hình phạt này có thể làm cho hội đồng xét xử dễ “tùy nghi” cho hưởng án treo mà không xem xét yếu tố phòng ngừa chung và răn đe đối với tình hình tội phạm, từ đó không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm[6].

Việc xem xét cho người bị kết án được hưởng án treo cũng cần phải xem xét có thuộc một trong các trường hợp không cho hưởng án treo hay không. Tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP đã quy định về 06 trường hợp người phạm tội không được hưởng án treo gồm:

“1. Người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp, lợi dụng chức vụ quyền hạn để trục lợi, cố ý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

2. Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng truy nã hoặc yêu cầu truy nã, trừ trường hợp đã ra đầu thú trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử;

3. Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo;

4. Người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, trừ một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

b) Người phạm tội bị xét xử và kết án về 02 tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

5. Người phạm tội 02 lần trở lên, trừ một trong các trường hợp sau:

a) Người phạm tội là người dưới 18 tuổi;

b) Các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng;

c) Các lần phạm tội, người phạm tội là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể;

d) Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú;

6. Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm”.

Trong một số trường hợp, mặc dù người phạm tội đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện được ưởng án treo như đã phân tích ở trên, tuy nhiên họ lại không được hưởng án treo. Có thể lý giải dựa theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP như sau: Người phạm tội không phân biệt đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định của pháp luật mà thuộc một trong các trường hợp không cho hưởng án treo thì không được hưởng án treo.

2. Một số bất cập về chế định án treo

Một là, điều kiện về nhân thân của người phạm tội:

Mặc dù quy định về điều kiện nhân thân của người phạm tội đã được Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP sửa đổi, tuy nhiên việc áp dụng trên thực tế vẫn còn một số vướng mắc. Theo đó, Nghị quyết quy định: “Người bị xử phạt tù có nhân thân là ngoài lần phạm tội này, người phạm tội chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc” (điểm a khoản 1 Điều 1). Trên thực tế, để xác định người phạm tội có “nhân thân là ngoài lần phạm tội này”, việc chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc của người phạm tội là không dễ thực hiện khi mà người phạm tội là người có nơi cư trú, nơi làm việc không rõ ràng, không ổn định. Những trường hợp này mặc dù đã được pháp luật về cư trú quy định, tuy nhiên, thời gian người phạm tội sinh hoạt ở các đơn vị hành chính đó có thể không đủ để đánh giá việc người đó có chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc hay không. Điều này có thể gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định điều kiện nhân thân của người phạm tội dẫn đến việc áp dụng các quy định về án treo chưa được chính xác, hiệu quả.

Hai là, điều kiện hưởng án treo đối với người chưa thành niên:

Người phạm tội là người chưa thành niên là đối tượng đặc biệt được Nhà nước quan tâm do đặc trưng về tâm sinh lý nên nhận thức của lứa tuổi này còn hạn chế, trình độ học vấn chưa hoàn thiện, vốn kinh nghiệm, hiểu biết xã hội còn ít, sự thông hiểu và chấp hành các chuẩn mực hành vi, chuẩn mực xã hội và pháp luật chưa cao, năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ, dễ bị kích động, dễ phạm sai lầm, dễ bị thúc đẩy vào việc thực hiện tội phạm[7]. Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với việc áp dụng án treo, pháp luật cũng có những chính sách khoan hồng đối với người phạm tội là người chưa thành niên, cụ thể: Theo điểm b, điểm c khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP quy định về những trường hợp không cho hưởng án treo, người bị kết án là người dưới 18 tuổi được hưởng án treo trong 02 trường hợp là bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội và phạm tội 02 lần trở lên. Tuy nhiên, quy định như vậy là mang tính áp dụng chung cho người dưới 18 tuổi, chưa có sự phân biệt trong việc xử lý. Bởi lẽ, người dưới 18 tuổi phạm tội được xác định gồm có người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, mà theo nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm” (Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015). Do đó, trên thực tế áp dụng quy định này có thể có một số vướng mắc đối với một số trường hợp như: Trong một vụ án hình sự có 02 người phạm tội gồm một người 15 tuổi, một người 17 tuổi 11 tháng cùng bị truy tố về nhiều tội nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội là khác nhau, khi đó, hai người phạm tội này có đều cùng được hưởng án treo hay không?

Ba là, điều kiện về việc “xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù” còn chưa rõ ràng:

Khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP quy định: “Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù nếu người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội”. Việc quy định “nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù...” dẫn đến có một số vướng mắc trong quá trình áp dụng. Tính từ thời điểm Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP có hiệu lực thi hành cho đến nay, vẫn chưa có văn bản pháp luật nào hướng dẫn các căn cứ để đánh giá đối với trường hợp người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, khi xem xét điều kiện này để ra quyết định cho người phạm tội hưởng án treo của hội đồng xét xử đều dựa trên ý chí chủ quan. Điều này có thể dẫn đến một số vụ việc do hội đồng xét xử nhận định không đúng tính chất, mức độ, hành vi vi phạm cũng như nguyên nhân của việc truy tố, xét xử và từ đó cho hưởng án treo chưa đúng quy định pháp luật.

3. Một số đề xuất, kiến nghị

Thứ nhất, khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP cần được nghiên cứu, cụ thể hóa về thời gian để xem xét việc người phạm tội có chấp hành chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc tại một đơn vị hành chính cấp xã trong trường hợp người phạm tội không có nơi cư trú ổn định, nơi làm việc rõ ràng nhằm khắc phục tình trạng Ủy ban nhân dân cấp xã bao che, cố ý xác nhận sai để người phạm tội đáp ứng điều kiện hưởng án treo. Bên cạnh đó, cũng cần bổ sung vào Điều này quy định về sự phối hợp giữa các đơn vị hành chính khi xác định người phạm tội có “nhân thân là ngoài lần phạm tội này” trong trường hợp người phạm tội thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc theo hướng như sau: “Được coi là có nhân thân tốt theo kết quả xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người phạm tội đang cư trú phối hợp với đơn vị có liên quan về việc ngoài lần phạm tội này, người phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú, nơi làm việc”. Việc quy định như vậy sẽ khắc phục được vướng mắc, lúng túng trong việc xác định người bị kết án có đủ điều kiện về nhân thân hay không.

Thứ hai, để pháp luật được thực hiện thống nhất, đúng quy định và thực hiện có lợi cho người phạm tội là người chưa thành niên, khoản 4, khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP cần được nghiên cứu xem xét bổ sung theo hướng quy định cụ thể đối với từng trường hợp người phạm tội là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được hưởng án treo khi phạm nhiều tội hoặc phạm tội 02 lần trở lên. Mặt khác, khi xem xét quyết định cho người phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi hưởng án treo, hội đồng xét xử cũng cần phải xem xét, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để việc giải quyết vụ án được “đúng người đúng tội”.

Thứ ba, khoản 5 Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP cần được nghiên cứu, cụ thể hóa theo hướng quy định rõ ràng và rành mạch hơn trong việc xác định “người phạm tội có khả năng tự cải tạo và việc cho họ hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” bằng cách đưa ra những điều kiện cụ thể, chính đáng, từ đó, Tòa án sẽ có căn cứ xem xét cho người phạm tội được hưởng khoan hồng. Mặt khác, Tòa án nhân dân tối cao cũng cần nghiên cứu, bổ sung các quy định nhằm giải thích cụ thể những trường hợp nào được coi là “không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù…” để làm căn cứ giúp cơ quan tiến hành tố tụng thuận lợi hơn trong việc áp dụng quy định của pháp luật về điều kiện hưởng án treo./.

Thùy Dung


[1] https://kiemsat.vn/ve-cac-yeu-to-chu-quan-thuoc-ban-than-voi-viec-hinh-thanh-dac-diem-nhan-than-nguoi-pham-toi-66177.html.

[2] https://tapchitoaan.vn/che-dinh-an-treo-trong-phap-luat-hinh-su-viet-nam.

[3] https://luatsucovandoanhnghiep.vn/tinh-tiet-tang-nang-tinh-tiet-giam-nhe-trach-nhiem-hinh-su-theo-blhs-2017/.

[4] Xem thêm Điều 11 Luật Cư trú năm 2020.

[5] Xem thêm khoản 1 Điều 19 Luật Cư trú năm 2020.

[6] https://amilawfirm.com/wp-content/uploads/2023/11/Ch%E1%BA%BF-%C4%91%E1%BB%8Bnh-%C3%A1n-treo-theo-ph%C3%

A1p-lu%E1%BA%ADt-h%C3%ACnh-s%E1%BB%B1-Vi%E1%BB%87t-Nam-t%E1%BB%AB-th%E1%BB%B1c-ti%E1%BB%85n-Mi%E1%BB%81n-Trung-v%C3%A0-T%C3%A2y-Nguy%C3%AAn-ts.pdf.

[7] https://tapchitoaan.vn/mot-so-vuong-mac-trong-viec-xu-ly-hinh-su-doi-voi-nguoi-duoi-18-tuoi-pham-toi8156.

html#:~:text=Ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20d%C6%B0%E1%BB%9Bi%2018%20tu%E1%BB%95i%20do,k%C3%ADch%

20%C4%91%E1%BB%99ng%2C%20d%E1%BB%85%20ph%E1%BA%A1m%20sai.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: