Chủ nhật 26/07/2026 18:57
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và kiến nghị

Tóm tắt: Thông qua việc bình luận và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với lao động giúp việc gia đình, bài viết đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng và phù hợp với lao động khác, có tính đến đặc điểm riêng của công việc. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình.


Abstract: By means of comments and assessment on the practical implementation of regulations on working hours, hygiene and safety at the workplace, wages, social insurance and medical insurance for domestic workers, the article proposes some recommendations to amend the laws to protect the domestic workers sufficiently in comparison with other workers while considering the specific features of domestic workers. Moreover, the article also points out some methods to improve the practical effectiveness of policies on working conditions and employment of domestic workers policies.

Ở Việt Nam, thuật ngữ giúp việc gia đình lần đầu tiên được đề cập đến trong Bộ luật Lao động năm 1994, song còn rất mờ nhạt, phải đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời thì lao động giúp việc gia đình mới được quy định chính thức tại một mục riêng (Mục 5 của Chương XI). Theo đó, khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình”. Trong năm 2014, các quy định về giúp việc gia đình ngày càng cụ thể hơn với sự ra đời của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình (Nghị định số 27/2014/NĐ-CP) và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP (Thông tư số 19). Các văn bản này đã quy định khá đầy đủ về điều kiện lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình với các nội dung tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

1.1. Về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình

Trên cơ sở quy định về tiền lương chung trong pháp luật lao động Việt Nam, tiếp cận với quy định riêng về tiền lương đối với lao động giúp việc trong Công ước 189 của ILO, nội dung tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012: “Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở” để làm cơ sở thực hiện việc trả lương cho người lao động giúp việc gia đình.

Điều 15 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định khá cụ thể về mức tiền lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương. Mức tiền lương do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), nhưng không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 quy định: “Mức lương bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc” (khoản 3 Điều 17). Quy định này đã hướng dẫn rõ về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình dựa trên đặc điểm riêng của công việc này là gắn liền với sinh hoạt của gia chủ. Thông thường, nơi ở và với chi phí ăn uống được kết hợp hàng ngày cùng với gia đình và vì vậy những nguy cơ cho tình trạng lạm dụng, không xác định rõ ràng giữa lương và chi phí ăn ở khi thoả thuận hợp đồng có thể sẽ xảy ra gây bất lợi cho người lao động. Việc xác định tiền lương không thấp hơn lương tối thiểu vùng đảm bảo sự bình đẳng trong tương quan về quyền lợi với các lao động khác khi lao động giúp việc gia đình vẫn thường được xếp vào nhóm lao động dễ bị trả lương thấp hơn. Những quy định về tiền lương và chi phí ăn ở của lao động giúp việc gia đình không chỉ có ý nghĩa làm cơ sở cho các bên xác định và thỏa thuận tiền lương mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ thu nhập đối tượng lao động đặc biệt này.

Đối với hình thức và thời hạn trả lương, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định do hai bên thỏa thuận. Trường hợp trả lương qua tài khoản ngân hàng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện để người lao động mở tài khoản ngân hàng. Các loại phí liên quan đến mở, duy trì tài khoản do hai bên thỏa thuận. Người sử dụng lao động không được thu phí chuyển khoản tiền lương vào tài khoản của người lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 có quy định về hình thức trả lương theo tháng, theo tuần, theo ngày và theo giờ và thỏa thuận thời hạn, thời điểm trả lương cố định trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng và ghi trong hợp đồng lao động (khoản 4 Điều 6). Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần, tháng thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần, tháng làm việc hoặc trả gộp do hai bên thỏa thuận. Quy định này đã đảm bảo sự linh hoạt trong trả lương với đối tượng lao động có công việc khá đặc biệt này.

Tương tự quy định về tiền lương ngừng việc đối với các quan hệ lao động nói chung, nghĩa vụ trả lương cho lao động giúp việc gia đình cũng đặt ra cho người sử dụng lao động. Tùy thuộc vào các trường hợp ngừng việc mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ hoặc không trả lương cho lao động giúp việc gia đình. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương cho người lao động trong trường hợp người lao động phải ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, trường hợp không do lỗi của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động không phải trả lương cho người lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

Theo quy định của pháp luật lao động, trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm việc ngoài thời gian ghi trong hợp đồng lao động, làm việc vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì người sử dụng lao động phải trả tiền lương làm thêm giờ.

Thực tiễn cho thấy, không thể phủ nhận được rằng mức tiền lương cho lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam còn thấp, việc đảm bảo thực hiện theo quy định pháp luật còn nhiều hạn chế thể hiện ở tình trạng lạm dụng lao động, không trả lương, trả ít, huy động làm thêm giờ không trả lương, chưa rõ ràng trong xác định lương và các khoản khác như tiền ăn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thưởng… Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các bên thỏa thuận tiền lương và ghi trong hợp đồng lao động, song thực tế đa phần hợp đồng lao động giao kết với lao động giúp việc gia đình bằng hình thức lời nói dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý cho việc trả lương, khi có khúc mắc, tranh chấp về tiền lương khó giải quyết mà phần thiệt thòi thường nghiêng về phía người giúp việc.

Từ việc thiếu những thỏa thuận về mặt pháp lý dưới hình thức văn bản, cùng với đặc thù nghề nghiệp các công việc trong gia đình là những công việc gắn với sinh hoạt gia đình và diễn ra bất cứ khoảng thời gian nào trong ngày dẫn đến xu hướng lạm dụng thời gian làm việc mà không được hưởng lương[1]. Ngay cả vấn đề khấu trừ lương cũng như tiền thưởng cũng thường không được rõ ràng, thậm chí nguy cơ không trả lương là vấn đề lao động giúp việc cũng thường tính đến. Cũng không loại trừ một số trường hợp, người lao động là giúp việc gia đình còn bị giữ lương để đảm bảo thực hiện công việc giúp việc gia đình cho các hợp đồng kế tiếp hoặc vì những lý do khác. Do vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể cũng như nâng cao nhận thức cho lao động giúp việc gia đình về quyền và nghĩa vụ liên quan đến vấn đề tiền lương nhằm đảm bảo sự công bằng cũng như hướng tới một hành lang pháp lý đảm bảo việc làm bền vững cho lao động này.

1.2. Về thời giờ làm việc nghỉ ngơi và an toàn, vệ sinh lao động của lao động giúp việc gia đình

Với đặc thù riêng về công việc, lao động giúp việc gia đình có thời giờ làm việc gắn liền với sinh hoạt của hộ gia đình, vì vậy, bên cạnh những quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, pháp luật cũng có những quy định riêng cho đối tượng này. Quy định này đảm bảo công bằng và nâng vị thế của lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng với lao động khác. Thực tế cho thấy, các công việc giúp việc gia đình là những công việc nhỏ nhặt, thường xuyên và không tên có thể diễn ra vào bất kỳ thời điểm nào trong sinh hoạt gia đình nên thời gian của lao động giúp việc gia đình có thể không kéo dài liên tục mà xen kẽ giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi, khó có thể phân định rạch ròi. Đây cũng có thể là lý do người sử dụng lao động dễ lạm dụng và ngược lại cũng phải tính đến tình huống người giúp việc lười biếng, không làm hết hoặc làm thiếu trách nhiệm như mong muốn của chủ nhà.

Cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi với việc đảm bảo số giờ và tính liên tục như quy định pháp luật hiện hành là một khó khăn cho người sử dụng lao động. Điều này thể hiện sự thiếu linh hoạt và chưa phù hợp với đặc thù công việc của lao động này. Nên chăng cần quy định người sử dụng lao động có quyền huy động người giúp việc gia đình làm việc trong những trường hợp cần thiết mà họ không được từ chối. Tương tự như vậy, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi cũng cần có sự hướng dẫn theo hướng linh hoạt về nghỉ tết, nghỉ lễ trên cơ sở thỏa thuận với lao động giúp việc gia đình.

Về an toàn và vệ sinh lao động, pháp luật lao động cũng quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người giúp việc gia đình.

Pháp luật hiện hành cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi lao động giúp việc gia đình bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đó là cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo, thông báo cho thân nhân của họ biết, thực hiện các trách nhiệm theo quy định chung theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp lao động giúp việc gia đình có tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế thanh toán. Trường hợp lao động giúp việc gia đình không tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến điều trị ổn định (Điều 25 Nghị định số 27/NĐ-CP và Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2012).

1.3. Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Theo khoản 2 Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 27/2014/NĐ-CP thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm. Theo Thông tư số 19, nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình, nội dung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được hướng dẫn tương đối cụ thể với mức trả tương đương mức tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và hình thức trả cho lao động này (khoản 8 Điều 6 Thông tư số 19). Thực tế cho thấy, đa phần lao động giúp việc gia đình không thỏa thuận với chủ nhà về quyền lợi này khi giao kết hợp đồng, thậm chí có nhiều người không nhận thức được quyền lợi của họ trong quan hệ lao động này. Đa số những người lao động giúp việc gia đình có bảo hiểm y tế là do tự mua hoặc thuộc diện Nhà nước chi trả, hỗ trợ phí tham gia.

Thực tế này xuất phát từ một trong những nguyên nhân thuộc về nhận thức và tâm lý chung của mọi người khi cho rằng, giúp việc gia đình chỉ là một nghề thời vụ, thiếu tính ổn định, lâu bền nên không có nhu cầu tham gia bảo hiểm. Về phía người sử dụng lao động, việc trả thêm tới 21% tiền lương nhiều khi là quá cao trong tương quan với mức lương trả cho công việc này. Về phía người giúp việc, thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp nên rất khó để thuyết phục họ trích ra một khoản tiền từ lương do chủ nhà trả để lo bảo hiểm. Bên cạnh đó, lao động giúp việc gia đình hiện nay có xu hướng phần nhiều là người có độ tuổi trung niên, thậm chí tới 50 - 55 tuổi, việc tham gia bảo hiểm xã hội với nhu cầu có trợ cấp khi về già được cho là khó bởi cần đủ ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm mới được hưởng trợ cấp. Nếu có, lao động giúp việc gia đình có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với quyền lợi hưởng cho hai chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất. Thực tế lao động giúp việc thường chú tâm tới việc tham gia bảo hiểm y tế hơn bảo hiểm xã hội bởi nhắm tới quyền lợi thiết thực khi bị ốm đau, bệnh tật cần hỗ trợ chi phí y tế.

2. Một số kiến nghị

Cho đến nay, lao động giúp việc gia đình đã trở thành lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội công nghiệp, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ngày càng được nâng cao vị thế trong tương quan bình đẳng với các lao động khác trong xã hội. Bằng những quy định riêng trong Bộ luật Lao động năm 2012 và hướng dẫn tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP đã quy định điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình tương đối toàn diện, song thực tiễn thực hiện cho thấy, cần có những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đối với đối tượng lao động giúp việc gia đình nhằm đảm bảo hơn nữa sự bảo vệ và khai thác lao động phù hợp.

Thứ nhất, cần bổ sung các quy định về thời giờ nghỉ ngơi của lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan phù hợp với quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi của người lao động, quy định pháp luật hiện hành đã quy định thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu cho lao động giúp việc gia đình. Do tính chất không phân biệt rõ ràng nơi làm việc với nơi ở, thời giờ nghỉ ngơi có tính linh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào sinh hoạt của gia chủ nên không phủ nhận được thực tế là đa phần lao động giúp việc gia đình khó phân định thời gian làm việc và nghỉ ngơi, thường bị lạm dụng thời giờ làm việc, đặc biệt vào ban đêm với các công việc chăm sóc trẻ em, người già, người ốm. Đây cũng là thực tế mà nhiều quốc gia trên thế giới gặp phải và cần có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp bằng cách quy định tổng số giờ nghỉ ngơi tối thiểu, tổng số giờ làm việc trong ngày, trong tuần, hạn chế làm đêm và đòi hỏi phải có thù lao bổ sung cho khoảng thời gian làm thêm đó[2].

Việc bổ sung các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi ở Việt Nam cần tính đến việc quy định giới hạn thời giờ làm việc buổi tối có thể tới 23 giờ đảm đảm phù hợp đặc thù công việc. Ngoài thời giờ này, việc huy động làm việc sẽ phải có điều kiện với mức lương phù hợp. Đây cũng là căn cứ để các bên có thể thỏa thuận về lương làm thêm và những hỗ trợ tài chính khác cho lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, cũng cần đến các quy định về việc huy động làm thêm, làm vào thời giờ nghỉ ngơi mà lao động giúp việc gia đình không được từ chối, quy định linh hoạt về việc thỏa thuận dịch chuyển thời gian nghỉ lễ, tết sang ngày khác. Cơ sở cho đề xuất này xuất phát từ đặc thù của công việc, nhằm tạo sự linh hoạt trong sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu công việc cần thiết của gia chủ, thông qua đó cũng xóa rào cản cơ hội việc làm cho lao động này khi những quy định thời giờ nghỉ ngơi tỏ ra cứng nhắc, chưa thực sự phù hợp với công việc.

Thứ hai, quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của lao động giúp việc gia đình cũng đã được quy định rõ với trách nhiệm của người sử dụng lao động bằng việc chi trả để họ tự lo. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa giải quyết được mục đích của chế độ bảo vệ rủi ro này khi mà lao động giúp việc gia đình chưa tự giác tham gia bảo hiểm. Đã đến lúc cần quy định thống nhất hình thức tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động giúp việc gia đình là bảo hiểm xã hội bắt buộc. Điều này sẽ đảm bảo sự bảo vệ đối với lao động giúp việc gia đình cả trong những trường hợp gặp rủi ro trong quan hệ lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp thay vì chỉ bảo vệ trong bảo hiểm hưu trí, tử tuất nếu họ tham gia bảo hiểm tự nguyện. Bảo hiểm y tế vốn dĩ là hình thức tham gia bắt buộc song cần quy định rõ ràng hơn nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện. Bên cạnh đó, cần có những quy định hướng dẫn cách thức để người lao động tham gia cũng như trách nhiệm, chế tài nếu họ không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Thứ ba, một trong những hạn chế lớn của vấn đề an toàn vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc là pháp luật hiện hành thiếu quy định về đảm bảo thực hiện. Thực tế cho thấy, điều kiện lao động với vấn đề an toàn vệ sinh lao động ở khu vực này ít nhận được sự quan tâm đúng mức của người sử dụng lao động. Trang thiết bị phòng hộ cá nhân, bảo vệ an toàn vệ sinh trong công việc thiếu tính quy chuẩn, bởi chủ yếu liên quan đến việc gia đình. Vấn đề khám sức khỏe cho lao động giúp việc gia đình ít nhất 1 lần/năm với chi phí do người sử dụng chi trả cũng ít được đảm bảo thực hiện. Để bảo vệ lao động này, ngay trong Công ước 189, ILO cũng đã quy định vai trò của thanh tra lao động đối với việc thanh tra các hộ gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan đó, cũng đã đến lúc cần thiết có những quy định riêng về thẩm quyền của thanh tra lao động trong việc sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam bằng việc cho phép vào nhà riêng kiểm tra nhằm tăng cường nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động nói chung và quy định về an toàn vệ sinh lao động với giúp việc gia đình nói riêng.

Thứ tư, một điểm cần lưu ý đó là, pháp luật hiện hành cũng đã có quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người giúp việc bị tai nạn lao động (Điều 25 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP), song chưa đề cập tới trách nhiệm đối với trường hợp lao động giúp việc ốm đau và tai nạn rủi ro. Với đặc điểm riêng của công việc gắn với sinh hoạt gia chủ và trong phạm vi không gian gia đình thì cần phải quy định trách nhiệm của chủ nhà khi họ ốm đau, tai nạn rủi ro nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho lao động này.

Thứ năm, bổ sung các quy định về cải thiện điều kiện sống cho lao động giúp việc gia đình. Liên quan đến vấn đề này hiện đã có quy định về ăn và chỗ ở của lao động giúp việc gia đình (khoản 9 Điều 6 Thông tư số 19), song chỉ dừng lại ở quy định chung chung, chưa cụ thể nhất là về nơi ở của lao động giúp việc gia đình. Thực tế, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để bố trí nơi ở và vệ sinh độc lập với các thành viên khác trong gia đình, thậm chí có những trường hợp lao động giúp việc còn phải ngủ chung phòng/chung giường với các thành viên khác trong gia đình, sinh hoạt vệ sinh cá nhân chưa được đảm bảo. Tuy nhiên, cũng cần tính đến bổ sung các quy định đảm bảo nơi ở an toàn, đảm bảo quyền sinh hoạt riêng tư khi gia đình chủ có điều kiện. Quy định này nhằm tôn trọng tự do cá nhân, phòng ngừa cho những nguy cơ lạm dụng lao động, sử dụng lao động trẻ em tồi tệ, sử dụng hành vi bạo lực với nhóm lao động này. Bên cạnh đó, hoạt động giải trí, giao tiếp và cơ hội học tập nâng cao trình độ cho lao động giúp việc gia đình cũng là những nội dung cần được quan tâm bổ sung nhằm đảm bảo điều kiện sống và làm việc cho lao dộng giúp việc gia đình.

Song song với các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình, cũng cần tiến hành đồng bộ với các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Một trong những giải pháp đầu tiên là nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra lao động trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật. Đây được coi là giải pháp quan trọng nhất trong tương quan đặc điểm riêng của công việc giúp việc gia đình. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của ủy ban nhân dân trong công tác quản lý lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức chung về việc làm và quyền của lao động giúp việc gia đình, khuyến khích tạo cơ hội tham gia vào tổ chức hội, đại diện cũng là những giải pháp có ý nghĩa trong việc đảm bảo điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay.

PGS. TS. Nguyễn Hiền Phương

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1].http://laodongxahoi.net/hop-dong-lao-dong-giup-viec-gia-dinh-tu-quy-dinh-den-thuc-tien-1304762.html.

[2]. Xem thêm: Báo cáo việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam, ILO, năm 2011.





Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Hà Nội thí điểm cơ chế phát triển nhà ở cho thuê: Bước chuyển trong chính sách nhà ở

Việc Hội đồng nhân dân thành phố Hà Nội thông qua cơ chế đặc thù về đầu tư, phát triển nhà ở cho thuê được xem là bước đi mới trong thực hiện Luật Thủ đô năm 2026. Với nhiều ưu đãi về đất đai, thủ tục đầu tư và cơ chế khai thác dự án, chính sách này không chỉ tạo động lực thu hút doanh nghiệp tham gia phát triển nhà ở cho thuê mà còn góp phần mở rộng nguồn cung nhà ở, bảo đảm an sinh xã hội và thúc đẩy phát triển đô thị bền vững.
Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Luật Chuyển đổi số năm 2025: Đòn bẩy pháp lý phát triển đất nước

Trong những năm gần đây, chủ trương về chuyển đổi số đã trở thành một trong những định hướng chiến lược quan trọng của Đảng và Nhà nước. Với tinh thần chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu khách quan (Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị) tới Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới”.
Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương làm thêm giờ

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 253/2026/NĐ-CP quy định miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập từ tiền lương làm thêm giờ đánh dấu bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách thuế theo hướng hỗ trợ người lao động (NLĐ) và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đây không chỉ là giải pháp nhằm tăng thu nhập thực nhận mà còn thể hiện sự kết nối giữa pháp luật thuế với pháp luật lao động. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến quản lý thuế, bảo hiểm xã hội và quan hệ lao động, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của chính sách.
Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa tầm nhìn phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới

Ngày 19/6/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 1111/QĐ-TTg (Quyết định số 1111/QĐ-TTg) về việc ban hành Kế hoạch tổ chức “Ngày Văn hóa Việt Nam” giai đoạn 2026 - 2030. Đây không chỉ là một văn bản hành chính thuần túy, mà là một lời hiệu triệu, một chiến lược toàn diện nhằm đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo đà cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới.
Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Phát huy vai trò Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật

Thực hiện Nghị quyết số 2092/NQ-UBTVQH15 về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và Nghị quyết số 2093/NQ-UBTVQH15 về việc thành lập Ban Chỉ đạo tổng rà soát, Bộ Tư pháp với vai trò là Cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ được giao. Trong tuần từ ngày 06/7/2026 đến hết ngày 12/7/2026, công tác rà soát đã bước vào giai đoạn then chốt với sự tham gia đồng bộ của các bộ, ngành và địa phương trên cả nước, tập trung vào việc đánh giá thực chất và đảm bảo chất lượng báo cáo.
Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam

Ngày 02/7/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1189/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch triển khai đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình, chuẩn mực con người Việt Nam (Kế hoạch), với các nội dung chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam; đưa các hệ giá trị thấm sâu vào đời sống xã hội; chủ động ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống; nâng cao sức đề kháng của người dân trước những tác động tiêu cực.
Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Chế định luật sư công, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo vệ lợi ích của Nhà nước

Ngày 24/4/2026, tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thống nhất thông qua Nghị quyết số 24/2026/QH16 về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công trong thời gian 02 năm. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2026 và được thực hiện đến hết ngày 30/9/2028.
Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Tiến độ và chất lượng công tác lập pháp đầu nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động kinh tế - xã hội. Nếu như nhiệm kỳ trước đặt nền móng cho nhiều cải cách thể chế thì ngay từ những tháng đầu của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XVI, công tác lập pháp đã được triển khai với cường độ cao, thể hiện rõ quyết tâm đưa thể chế đi trước một bước trong tiến trình phát triển đất nước.
Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Xây dựng, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí là trách nhiệm của toàn dân

Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2026. Luật đã cụ thể hóa các văn bản quan trọng của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, như: Kết luận số 12-KL/TW ngày 19/3/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 27-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống lãng phí.
Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Danh sách văn bản mới cập nhật tháng 6/2026

Trong tháng 6/2026, nhiều văn bản pháp luật mới đã được cập nhật, bao quát các lĩnh vực hành chính, tư pháp, thuế - phí, tài chính - ngân hàng, giao thông, xây dựng, đầu tư, khoa học - công nghệ và thương mại… Đây là những quy định quan trọng, tác động trực tiếp đến cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân.
Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Quản lý viên chức theo vị trí việc làm: Từ Luật Viên chức năm 2025 và Nghị định 232/2026/NĐ-CP

Ngày 01/7/2026, Luật Viên chức số 129/2025/QH15 và Nghị định số 232/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực thi hành, tạo cơ sở pháp lý mới cho việc quản lý viên chức theo vị trí việc làm. Hai văn bản này cụ thể hóa chủ trương của Đảng về đổi mới cơ chế quản lý viên chức, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của viên chức.
Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Triển khai đồng bộ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng từ ngày 01/01/2027

Để bảo đảm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng được triển khai kịp thời, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu đã ký Quyết định số 925/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng.
Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025: Điểm mới trong quá trình hoàn thiện pháp luật về hợp tác tư pháp quốc tế

Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù năm 2025 được ban hành đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Bài viết nêu sự cần thiết, ý nghĩa ban hành và những điểm mới nổi bật của Luật, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm quyền con người và đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW bằng chuỗi hoạt động "Ngày Văn hóa Việt Nam"

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 1111/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch tổ chức "Ngày Văn hóa Việt Nam" giai đoạn 2026 - 2030 (Kế hoạch), đánh dấu bước triển khai quan trọng Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam.
Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Hoàn thiện hành lang pháp lý thúc đẩy ngành hàng không phát triển

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam số 130/2025/QH15 (Luật năm 2025) được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 10 (ngày 10/12/2025), có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 gồm 11 Chương và 107 Điều quy định về hoạt động hàng không dân dụng, bao gồm các quy định về tàu bay, cảng hàng không, nhân viên hàng không, hoạt động bay, vận tải hàng không thương mại, hàng không chuyên dùng, hàng không chung, an toàn hàng không, an ninh hàng không, trách nhiệm dân sự và các hoạt động khác có liên quan đến hàng không dân dụng.

Theo dõi chúng tôi trên: