Chủ nhật 15/03/2026 09:32
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và kiến nghị

Tóm tắt: Thông qua việc bình luận và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với lao động giúp việc gia đình, bài viết đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng và phù hợp với lao động khác, có tính đến đặc điểm riêng của công việc. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình.


Abstract: By means of comments and assessment on the practical implementation of regulations on working hours, hygiene and safety at the workplace, wages, social insurance and medical insurance for domestic workers, the article proposes some recommendations to amend the laws to protect the domestic workers sufficiently in comparison with other workers while considering the specific features of domestic workers. Moreover, the article also points out some methods to improve the practical effectiveness of policies on working conditions and employment of domestic workers policies.

Ở Việt Nam, thuật ngữ giúp việc gia đình lần đầu tiên được đề cập đến trong Bộ luật Lao động năm 1994, song còn rất mờ nhạt, phải đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời thì lao động giúp việc gia đình mới được quy định chính thức tại một mục riêng (Mục 5 của Chương XI). Theo đó, khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình”. Trong năm 2014, các quy định về giúp việc gia đình ngày càng cụ thể hơn với sự ra đời của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình (Nghị định số 27/2014/NĐ-CP) và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP (Thông tư số 19). Các văn bản này đã quy định khá đầy đủ về điều kiện lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình với các nội dung tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

1.1. Về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình

Trên cơ sở quy định về tiền lương chung trong pháp luật lao động Việt Nam, tiếp cận với quy định riêng về tiền lương đối với lao động giúp việc trong Công ước 189 của ILO, nội dung tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012: “Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở” để làm cơ sở thực hiện việc trả lương cho người lao động giúp việc gia đình.

Điều 15 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định khá cụ thể về mức tiền lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương. Mức tiền lương do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), nhưng không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 quy định: “Mức lương bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc” (khoản 3 Điều 17). Quy định này đã hướng dẫn rõ về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình dựa trên đặc điểm riêng của công việc này là gắn liền với sinh hoạt của gia chủ. Thông thường, nơi ở và với chi phí ăn uống được kết hợp hàng ngày cùng với gia đình và vì vậy những nguy cơ cho tình trạng lạm dụng, không xác định rõ ràng giữa lương và chi phí ăn ở khi thoả thuận hợp đồng có thể sẽ xảy ra gây bất lợi cho người lao động. Việc xác định tiền lương không thấp hơn lương tối thiểu vùng đảm bảo sự bình đẳng trong tương quan về quyền lợi với các lao động khác khi lao động giúp việc gia đình vẫn thường được xếp vào nhóm lao động dễ bị trả lương thấp hơn. Những quy định về tiền lương và chi phí ăn ở của lao động giúp việc gia đình không chỉ có ý nghĩa làm cơ sở cho các bên xác định và thỏa thuận tiền lương mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ thu nhập đối tượng lao động đặc biệt này.

Đối với hình thức và thời hạn trả lương, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định do hai bên thỏa thuận. Trường hợp trả lương qua tài khoản ngân hàng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện để người lao động mở tài khoản ngân hàng. Các loại phí liên quan đến mở, duy trì tài khoản do hai bên thỏa thuận. Người sử dụng lao động không được thu phí chuyển khoản tiền lương vào tài khoản của người lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 có quy định về hình thức trả lương theo tháng, theo tuần, theo ngày và theo giờ và thỏa thuận thời hạn, thời điểm trả lương cố định trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng và ghi trong hợp đồng lao động (khoản 4 Điều 6). Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần, tháng thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần, tháng làm việc hoặc trả gộp do hai bên thỏa thuận. Quy định này đã đảm bảo sự linh hoạt trong trả lương với đối tượng lao động có công việc khá đặc biệt này.

Tương tự quy định về tiền lương ngừng việc đối với các quan hệ lao động nói chung, nghĩa vụ trả lương cho lao động giúp việc gia đình cũng đặt ra cho người sử dụng lao động. Tùy thuộc vào các trường hợp ngừng việc mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ hoặc không trả lương cho lao động giúp việc gia đình. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương cho người lao động trong trường hợp người lao động phải ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, trường hợp không do lỗi của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động không phải trả lương cho người lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

Theo quy định của pháp luật lao động, trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm việc ngoài thời gian ghi trong hợp đồng lao động, làm việc vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì người sử dụng lao động phải trả tiền lương làm thêm giờ.

Thực tiễn cho thấy, không thể phủ nhận được rằng mức tiền lương cho lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam còn thấp, việc đảm bảo thực hiện theo quy định pháp luật còn nhiều hạn chế thể hiện ở tình trạng lạm dụng lao động, không trả lương, trả ít, huy động làm thêm giờ không trả lương, chưa rõ ràng trong xác định lương và các khoản khác như tiền ăn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thưởng… Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các bên thỏa thuận tiền lương và ghi trong hợp đồng lao động, song thực tế đa phần hợp đồng lao động giao kết với lao động giúp việc gia đình bằng hình thức lời nói dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý cho việc trả lương, khi có khúc mắc, tranh chấp về tiền lương khó giải quyết mà phần thiệt thòi thường nghiêng về phía người giúp việc.

Từ việc thiếu những thỏa thuận về mặt pháp lý dưới hình thức văn bản, cùng với đặc thù nghề nghiệp các công việc trong gia đình là những công việc gắn với sinh hoạt gia đình và diễn ra bất cứ khoảng thời gian nào trong ngày dẫn đến xu hướng lạm dụng thời gian làm việc mà không được hưởng lương[1]. Ngay cả vấn đề khấu trừ lương cũng như tiền thưởng cũng thường không được rõ ràng, thậm chí nguy cơ không trả lương là vấn đề lao động giúp việc cũng thường tính đến. Cũng không loại trừ một số trường hợp, người lao động là giúp việc gia đình còn bị giữ lương để đảm bảo thực hiện công việc giúp việc gia đình cho các hợp đồng kế tiếp hoặc vì những lý do khác. Do vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể cũng như nâng cao nhận thức cho lao động giúp việc gia đình về quyền và nghĩa vụ liên quan đến vấn đề tiền lương nhằm đảm bảo sự công bằng cũng như hướng tới một hành lang pháp lý đảm bảo việc làm bền vững cho lao động này.

1.2. Về thời giờ làm việc nghỉ ngơi và an toàn, vệ sinh lao động của lao động giúp việc gia đình

Với đặc thù riêng về công việc, lao động giúp việc gia đình có thời giờ làm việc gắn liền với sinh hoạt của hộ gia đình, vì vậy, bên cạnh những quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, pháp luật cũng có những quy định riêng cho đối tượng này. Quy định này đảm bảo công bằng và nâng vị thế của lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng với lao động khác. Thực tế cho thấy, các công việc giúp việc gia đình là những công việc nhỏ nhặt, thường xuyên và không tên có thể diễn ra vào bất kỳ thời điểm nào trong sinh hoạt gia đình nên thời gian của lao động giúp việc gia đình có thể không kéo dài liên tục mà xen kẽ giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi, khó có thể phân định rạch ròi. Đây cũng có thể là lý do người sử dụng lao động dễ lạm dụng và ngược lại cũng phải tính đến tình huống người giúp việc lười biếng, không làm hết hoặc làm thiếu trách nhiệm như mong muốn của chủ nhà.

Cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi với việc đảm bảo số giờ và tính liên tục như quy định pháp luật hiện hành là một khó khăn cho người sử dụng lao động. Điều này thể hiện sự thiếu linh hoạt và chưa phù hợp với đặc thù công việc của lao động này. Nên chăng cần quy định người sử dụng lao động có quyền huy động người giúp việc gia đình làm việc trong những trường hợp cần thiết mà họ không được từ chối. Tương tự như vậy, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi cũng cần có sự hướng dẫn theo hướng linh hoạt về nghỉ tết, nghỉ lễ trên cơ sở thỏa thuận với lao động giúp việc gia đình.

Về an toàn và vệ sinh lao động, pháp luật lao động cũng quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người giúp việc gia đình.

Pháp luật hiện hành cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi lao động giúp việc gia đình bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đó là cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo, thông báo cho thân nhân của họ biết, thực hiện các trách nhiệm theo quy định chung theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp lao động giúp việc gia đình có tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế thanh toán. Trường hợp lao động giúp việc gia đình không tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến điều trị ổn định (Điều 25 Nghị định số 27/NĐ-CP và Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2012).

1.3. Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Theo khoản 2 Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 27/2014/NĐ-CP thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm. Theo Thông tư số 19, nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình, nội dung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được hướng dẫn tương đối cụ thể với mức trả tương đương mức tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và hình thức trả cho lao động này (khoản 8 Điều 6 Thông tư số 19). Thực tế cho thấy, đa phần lao động giúp việc gia đình không thỏa thuận với chủ nhà về quyền lợi này khi giao kết hợp đồng, thậm chí có nhiều người không nhận thức được quyền lợi của họ trong quan hệ lao động này. Đa số những người lao động giúp việc gia đình có bảo hiểm y tế là do tự mua hoặc thuộc diện Nhà nước chi trả, hỗ trợ phí tham gia.

Thực tế này xuất phát từ một trong những nguyên nhân thuộc về nhận thức và tâm lý chung của mọi người khi cho rằng, giúp việc gia đình chỉ là một nghề thời vụ, thiếu tính ổn định, lâu bền nên không có nhu cầu tham gia bảo hiểm. Về phía người sử dụng lao động, việc trả thêm tới 21% tiền lương nhiều khi là quá cao trong tương quan với mức lương trả cho công việc này. Về phía người giúp việc, thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp nên rất khó để thuyết phục họ trích ra một khoản tiền từ lương do chủ nhà trả để lo bảo hiểm. Bên cạnh đó, lao động giúp việc gia đình hiện nay có xu hướng phần nhiều là người có độ tuổi trung niên, thậm chí tới 50 - 55 tuổi, việc tham gia bảo hiểm xã hội với nhu cầu có trợ cấp khi về già được cho là khó bởi cần đủ ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm mới được hưởng trợ cấp. Nếu có, lao động giúp việc gia đình có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với quyền lợi hưởng cho hai chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất. Thực tế lao động giúp việc thường chú tâm tới việc tham gia bảo hiểm y tế hơn bảo hiểm xã hội bởi nhắm tới quyền lợi thiết thực khi bị ốm đau, bệnh tật cần hỗ trợ chi phí y tế.

2. Một số kiến nghị

Cho đến nay, lao động giúp việc gia đình đã trở thành lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội công nghiệp, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ngày càng được nâng cao vị thế trong tương quan bình đẳng với các lao động khác trong xã hội. Bằng những quy định riêng trong Bộ luật Lao động năm 2012 và hướng dẫn tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP đã quy định điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình tương đối toàn diện, song thực tiễn thực hiện cho thấy, cần có những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đối với đối tượng lao động giúp việc gia đình nhằm đảm bảo hơn nữa sự bảo vệ và khai thác lao động phù hợp.

Thứ nhất, cần bổ sung các quy định về thời giờ nghỉ ngơi của lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan phù hợp với quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi của người lao động, quy định pháp luật hiện hành đã quy định thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu cho lao động giúp việc gia đình. Do tính chất không phân biệt rõ ràng nơi làm việc với nơi ở, thời giờ nghỉ ngơi có tính linh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào sinh hoạt của gia chủ nên không phủ nhận được thực tế là đa phần lao động giúp việc gia đình khó phân định thời gian làm việc và nghỉ ngơi, thường bị lạm dụng thời giờ làm việc, đặc biệt vào ban đêm với các công việc chăm sóc trẻ em, người già, người ốm. Đây cũng là thực tế mà nhiều quốc gia trên thế giới gặp phải và cần có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp bằng cách quy định tổng số giờ nghỉ ngơi tối thiểu, tổng số giờ làm việc trong ngày, trong tuần, hạn chế làm đêm và đòi hỏi phải có thù lao bổ sung cho khoảng thời gian làm thêm đó[2].

Việc bổ sung các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi ở Việt Nam cần tính đến việc quy định giới hạn thời giờ làm việc buổi tối có thể tới 23 giờ đảm đảm phù hợp đặc thù công việc. Ngoài thời giờ này, việc huy động làm việc sẽ phải có điều kiện với mức lương phù hợp. Đây cũng là căn cứ để các bên có thể thỏa thuận về lương làm thêm và những hỗ trợ tài chính khác cho lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, cũng cần đến các quy định về việc huy động làm thêm, làm vào thời giờ nghỉ ngơi mà lao động giúp việc gia đình không được từ chối, quy định linh hoạt về việc thỏa thuận dịch chuyển thời gian nghỉ lễ, tết sang ngày khác. Cơ sở cho đề xuất này xuất phát từ đặc thù của công việc, nhằm tạo sự linh hoạt trong sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu công việc cần thiết của gia chủ, thông qua đó cũng xóa rào cản cơ hội việc làm cho lao động này khi những quy định thời giờ nghỉ ngơi tỏ ra cứng nhắc, chưa thực sự phù hợp với công việc.

Thứ hai, quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của lao động giúp việc gia đình cũng đã được quy định rõ với trách nhiệm của người sử dụng lao động bằng việc chi trả để họ tự lo. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa giải quyết được mục đích của chế độ bảo vệ rủi ro này khi mà lao động giúp việc gia đình chưa tự giác tham gia bảo hiểm. Đã đến lúc cần quy định thống nhất hình thức tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động giúp việc gia đình là bảo hiểm xã hội bắt buộc. Điều này sẽ đảm bảo sự bảo vệ đối với lao động giúp việc gia đình cả trong những trường hợp gặp rủi ro trong quan hệ lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp thay vì chỉ bảo vệ trong bảo hiểm hưu trí, tử tuất nếu họ tham gia bảo hiểm tự nguyện. Bảo hiểm y tế vốn dĩ là hình thức tham gia bắt buộc song cần quy định rõ ràng hơn nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện. Bên cạnh đó, cần có những quy định hướng dẫn cách thức để người lao động tham gia cũng như trách nhiệm, chế tài nếu họ không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Thứ ba, một trong những hạn chế lớn của vấn đề an toàn vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc là pháp luật hiện hành thiếu quy định về đảm bảo thực hiện. Thực tế cho thấy, điều kiện lao động với vấn đề an toàn vệ sinh lao động ở khu vực này ít nhận được sự quan tâm đúng mức của người sử dụng lao động. Trang thiết bị phòng hộ cá nhân, bảo vệ an toàn vệ sinh trong công việc thiếu tính quy chuẩn, bởi chủ yếu liên quan đến việc gia đình. Vấn đề khám sức khỏe cho lao động giúp việc gia đình ít nhất 1 lần/năm với chi phí do người sử dụng chi trả cũng ít được đảm bảo thực hiện. Để bảo vệ lao động này, ngay trong Công ước 189, ILO cũng đã quy định vai trò của thanh tra lao động đối với việc thanh tra các hộ gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan đó, cũng đã đến lúc cần thiết có những quy định riêng về thẩm quyền của thanh tra lao động trong việc sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam bằng việc cho phép vào nhà riêng kiểm tra nhằm tăng cường nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động nói chung và quy định về an toàn vệ sinh lao động với giúp việc gia đình nói riêng.

Thứ tư, một điểm cần lưu ý đó là, pháp luật hiện hành cũng đã có quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người giúp việc bị tai nạn lao động (Điều 25 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP), song chưa đề cập tới trách nhiệm đối với trường hợp lao động giúp việc ốm đau và tai nạn rủi ro. Với đặc điểm riêng của công việc gắn với sinh hoạt gia chủ và trong phạm vi không gian gia đình thì cần phải quy định trách nhiệm của chủ nhà khi họ ốm đau, tai nạn rủi ro nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho lao động này.

Thứ năm, bổ sung các quy định về cải thiện điều kiện sống cho lao động giúp việc gia đình. Liên quan đến vấn đề này hiện đã có quy định về ăn và chỗ ở của lao động giúp việc gia đình (khoản 9 Điều 6 Thông tư số 19), song chỉ dừng lại ở quy định chung chung, chưa cụ thể nhất là về nơi ở của lao động giúp việc gia đình. Thực tế, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để bố trí nơi ở và vệ sinh độc lập với các thành viên khác trong gia đình, thậm chí có những trường hợp lao động giúp việc còn phải ngủ chung phòng/chung giường với các thành viên khác trong gia đình, sinh hoạt vệ sinh cá nhân chưa được đảm bảo. Tuy nhiên, cũng cần tính đến bổ sung các quy định đảm bảo nơi ở an toàn, đảm bảo quyền sinh hoạt riêng tư khi gia đình chủ có điều kiện. Quy định này nhằm tôn trọng tự do cá nhân, phòng ngừa cho những nguy cơ lạm dụng lao động, sử dụng lao động trẻ em tồi tệ, sử dụng hành vi bạo lực với nhóm lao động này. Bên cạnh đó, hoạt động giải trí, giao tiếp và cơ hội học tập nâng cao trình độ cho lao động giúp việc gia đình cũng là những nội dung cần được quan tâm bổ sung nhằm đảm bảo điều kiện sống và làm việc cho lao dộng giúp việc gia đình.

Song song với các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình, cũng cần tiến hành đồng bộ với các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Một trong những giải pháp đầu tiên là nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra lao động trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật. Đây được coi là giải pháp quan trọng nhất trong tương quan đặc điểm riêng của công việc giúp việc gia đình. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của ủy ban nhân dân trong công tác quản lý lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức chung về việc làm và quyền của lao động giúp việc gia đình, khuyến khích tạo cơ hội tham gia vào tổ chức hội, đại diện cũng là những giải pháp có ý nghĩa trong việc đảm bảo điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay.

PGS. TS. Nguyễn Hiền Phương

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1].http://laodongxahoi.net/hop-dong-lao-dong-giup-viec-gia-dinh-tu-quy-dinh-den-thuc-tien-1304762.html.

[2]. Xem thêm: Báo cáo việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam, ILO, năm 2011.





Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: