Thứ sáu 17/04/2026 10:21
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và kiến nghị

Tóm tắt: Thông qua việc bình luận và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với lao động giúp việc gia đình, bài viết đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng và phù hợp với lao động khác, có tính đến đặc điểm riêng của công việc. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình.


Abstract: By means of comments and assessment on the practical implementation of regulations on working hours, hygiene and safety at the workplace, wages, social insurance and medical insurance for domestic workers, the article proposes some recommendations to amend the laws to protect the domestic workers sufficiently in comparison with other workers while considering the specific features of domestic workers. Moreover, the article also points out some methods to improve the practical effectiveness of policies on working conditions and employment of domestic workers policies.

Ở Việt Nam, thuật ngữ giúp việc gia đình lần đầu tiên được đề cập đến trong Bộ luật Lao động năm 1994, song còn rất mờ nhạt, phải đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời thì lao động giúp việc gia đình mới được quy định chính thức tại một mục riêng (Mục 5 của Chương XI). Theo đó, khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình”. Trong năm 2014, các quy định về giúp việc gia đình ngày càng cụ thể hơn với sự ra đời của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình (Nghị định số 27/2014/NĐ-CP) và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP (Thông tư số 19). Các văn bản này đã quy định khá đầy đủ về điều kiện lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình với các nội dung tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

1.1. Về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình

Trên cơ sở quy định về tiền lương chung trong pháp luật lao động Việt Nam, tiếp cận với quy định riêng về tiền lương đối với lao động giúp việc trong Công ước 189 của ILO, nội dung tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012: “Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở” để làm cơ sở thực hiện việc trả lương cho người lao động giúp việc gia đình.

Điều 15 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định khá cụ thể về mức tiền lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương. Mức tiền lương do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), nhưng không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 quy định: “Mức lương bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc” (khoản 3 Điều 17). Quy định này đã hướng dẫn rõ về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình dựa trên đặc điểm riêng của công việc này là gắn liền với sinh hoạt của gia chủ. Thông thường, nơi ở và với chi phí ăn uống được kết hợp hàng ngày cùng với gia đình và vì vậy những nguy cơ cho tình trạng lạm dụng, không xác định rõ ràng giữa lương và chi phí ăn ở khi thoả thuận hợp đồng có thể sẽ xảy ra gây bất lợi cho người lao động. Việc xác định tiền lương không thấp hơn lương tối thiểu vùng đảm bảo sự bình đẳng trong tương quan về quyền lợi với các lao động khác khi lao động giúp việc gia đình vẫn thường được xếp vào nhóm lao động dễ bị trả lương thấp hơn. Những quy định về tiền lương và chi phí ăn ở của lao động giúp việc gia đình không chỉ có ý nghĩa làm cơ sở cho các bên xác định và thỏa thuận tiền lương mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ thu nhập đối tượng lao động đặc biệt này.

Đối với hình thức và thời hạn trả lương, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định do hai bên thỏa thuận. Trường hợp trả lương qua tài khoản ngân hàng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện để người lao động mở tài khoản ngân hàng. Các loại phí liên quan đến mở, duy trì tài khoản do hai bên thỏa thuận. Người sử dụng lao động không được thu phí chuyển khoản tiền lương vào tài khoản của người lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 có quy định về hình thức trả lương theo tháng, theo tuần, theo ngày và theo giờ và thỏa thuận thời hạn, thời điểm trả lương cố định trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng và ghi trong hợp đồng lao động (khoản 4 Điều 6). Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần, tháng thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần, tháng làm việc hoặc trả gộp do hai bên thỏa thuận. Quy định này đã đảm bảo sự linh hoạt trong trả lương với đối tượng lao động có công việc khá đặc biệt này.

Tương tự quy định về tiền lương ngừng việc đối với các quan hệ lao động nói chung, nghĩa vụ trả lương cho lao động giúp việc gia đình cũng đặt ra cho người sử dụng lao động. Tùy thuộc vào các trường hợp ngừng việc mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ hoặc không trả lương cho lao động giúp việc gia đình. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương cho người lao động trong trường hợp người lao động phải ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, trường hợp không do lỗi của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động không phải trả lương cho người lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

Theo quy định của pháp luật lao động, trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm việc ngoài thời gian ghi trong hợp đồng lao động, làm việc vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì người sử dụng lao động phải trả tiền lương làm thêm giờ.

Thực tiễn cho thấy, không thể phủ nhận được rằng mức tiền lương cho lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam còn thấp, việc đảm bảo thực hiện theo quy định pháp luật còn nhiều hạn chế thể hiện ở tình trạng lạm dụng lao động, không trả lương, trả ít, huy động làm thêm giờ không trả lương, chưa rõ ràng trong xác định lương và các khoản khác như tiền ăn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thưởng… Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các bên thỏa thuận tiền lương và ghi trong hợp đồng lao động, song thực tế đa phần hợp đồng lao động giao kết với lao động giúp việc gia đình bằng hình thức lời nói dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý cho việc trả lương, khi có khúc mắc, tranh chấp về tiền lương khó giải quyết mà phần thiệt thòi thường nghiêng về phía người giúp việc.

Từ việc thiếu những thỏa thuận về mặt pháp lý dưới hình thức văn bản, cùng với đặc thù nghề nghiệp các công việc trong gia đình là những công việc gắn với sinh hoạt gia đình và diễn ra bất cứ khoảng thời gian nào trong ngày dẫn đến xu hướng lạm dụng thời gian làm việc mà không được hưởng lương[1]. Ngay cả vấn đề khấu trừ lương cũng như tiền thưởng cũng thường không được rõ ràng, thậm chí nguy cơ không trả lương là vấn đề lao động giúp việc cũng thường tính đến. Cũng không loại trừ một số trường hợp, người lao động là giúp việc gia đình còn bị giữ lương để đảm bảo thực hiện công việc giúp việc gia đình cho các hợp đồng kế tiếp hoặc vì những lý do khác. Do vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể cũng như nâng cao nhận thức cho lao động giúp việc gia đình về quyền và nghĩa vụ liên quan đến vấn đề tiền lương nhằm đảm bảo sự công bằng cũng như hướng tới một hành lang pháp lý đảm bảo việc làm bền vững cho lao động này.

1.2. Về thời giờ làm việc nghỉ ngơi và an toàn, vệ sinh lao động của lao động giúp việc gia đình

Với đặc thù riêng về công việc, lao động giúp việc gia đình có thời giờ làm việc gắn liền với sinh hoạt của hộ gia đình, vì vậy, bên cạnh những quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, pháp luật cũng có những quy định riêng cho đối tượng này. Quy định này đảm bảo công bằng và nâng vị thế của lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng với lao động khác. Thực tế cho thấy, các công việc giúp việc gia đình là những công việc nhỏ nhặt, thường xuyên và không tên có thể diễn ra vào bất kỳ thời điểm nào trong sinh hoạt gia đình nên thời gian của lao động giúp việc gia đình có thể không kéo dài liên tục mà xen kẽ giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi, khó có thể phân định rạch ròi. Đây cũng có thể là lý do người sử dụng lao động dễ lạm dụng và ngược lại cũng phải tính đến tình huống người giúp việc lười biếng, không làm hết hoặc làm thiếu trách nhiệm như mong muốn của chủ nhà.

Cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi với việc đảm bảo số giờ và tính liên tục như quy định pháp luật hiện hành là một khó khăn cho người sử dụng lao động. Điều này thể hiện sự thiếu linh hoạt và chưa phù hợp với đặc thù công việc của lao động này. Nên chăng cần quy định người sử dụng lao động có quyền huy động người giúp việc gia đình làm việc trong những trường hợp cần thiết mà họ không được từ chối. Tương tự như vậy, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi cũng cần có sự hướng dẫn theo hướng linh hoạt về nghỉ tết, nghỉ lễ trên cơ sở thỏa thuận với lao động giúp việc gia đình.

Về an toàn và vệ sinh lao động, pháp luật lao động cũng quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người giúp việc gia đình.

Pháp luật hiện hành cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi lao động giúp việc gia đình bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đó là cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo, thông báo cho thân nhân của họ biết, thực hiện các trách nhiệm theo quy định chung theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp lao động giúp việc gia đình có tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế thanh toán. Trường hợp lao động giúp việc gia đình không tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến điều trị ổn định (Điều 25 Nghị định số 27/NĐ-CP và Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2012).

1.3. Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Theo khoản 2 Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 27/2014/NĐ-CP thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm. Theo Thông tư số 19, nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình, nội dung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được hướng dẫn tương đối cụ thể với mức trả tương đương mức tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và hình thức trả cho lao động này (khoản 8 Điều 6 Thông tư số 19). Thực tế cho thấy, đa phần lao động giúp việc gia đình không thỏa thuận với chủ nhà về quyền lợi này khi giao kết hợp đồng, thậm chí có nhiều người không nhận thức được quyền lợi của họ trong quan hệ lao động này. Đa số những người lao động giúp việc gia đình có bảo hiểm y tế là do tự mua hoặc thuộc diện Nhà nước chi trả, hỗ trợ phí tham gia.

Thực tế này xuất phát từ một trong những nguyên nhân thuộc về nhận thức và tâm lý chung của mọi người khi cho rằng, giúp việc gia đình chỉ là một nghề thời vụ, thiếu tính ổn định, lâu bền nên không có nhu cầu tham gia bảo hiểm. Về phía người sử dụng lao động, việc trả thêm tới 21% tiền lương nhiều khi là quá cao trong tương quan với mức lương trả cho công việc này. Về phía người giúp việc, thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp nên rất khó để thuyết phục họ trích ra một khoản tiền từ lương do chủ nhà trả để lo bảo hiểm. Bên cạnh đó, lao động giúp việc gia đình hiện nay có xu hướng phần nhiều là người có độ tuổi trung niên, thậm chí tới 50 - 55 tuổi, việc tham gia bảo hiểm xã hội với nhu cầu có trợ cấp khi về già được cho là khó bởi cần đủ ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm mới được hưởng trợ cấp. Nếu có, lao động giúp việc gia đình có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với quyền lợi hưởng cho hai chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất. Thực tế lao động giúp việc thường chú tâm tới việc tham gia bảo hiểm y tế hơn bảo hiểm xã hội bởi nhắm tới quyền lợi thiết thực khi bị ốm đau, bệnh tật cần hỗ trợ chi phí y tế.

2. Một số kiến nghị

Cho đến nay, lao động giúp việc gia đình đã trở thành lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội công nghiệp, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ngày càng được nâng cao vị thế trong tương quan bình đẳng với các lao động khác trong xã hội. Bằng những quy định riêng trong Bộ luật Lao động năm 2012 và hướng dẫn tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP đã quy định điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình tương đối toàn diện, song thực tiễn thực hiện cho thấy, cần có những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đối với đối tượng lao động giúp việc gia đình nhằm đảm bảo hơn nữa sự bảo vệ và khai thác lao động phù hợp.

Thứ nhất, cần bổ sung các quy định về thời giờ nghỉ ngơi của lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan phù hợp với quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi của người lao động, quy định pháp luật hiện hành đã quy định thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu cho lao động giúp việc gia đình. Do tính chất không phân biệt rõ ràng nơi làm việc với nơi ở, thời giờ nghỉ ngơi có tính linh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào sinh hoạt của gia chủ nên không phủ nhận được thực tế là đa phần lao động giúp việc gia đình khó phân định thời gian làm việc và nghỉ ngơi, thường bị lạm dụng thời giờ làm việc, đặc biệt vào ban đêm với các công việc chăm sóc trẻ em, người già, người ốm. Đây cũng là thực tế mà nhiều quốc gia trên thế giới gặp phải và cần có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp bằng cách quy định tổng số giờ nghỉ ngơi tối thiểu, tổng số giờ làm việc trong ngày, trong tuần, hạn chế làm đêm và đòi hỏi phải có thù lao bổ sung cho khoảng thời gian làm thêm đó[2].

Việc bổ sung các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi ở Việt Nam cần tính đến việc quy định giới hạn thời giờ làm việc buổi tối có thể tới 23 giờ đảm đảm phù hợp đặc thù công việc. Ngoài thời giờ này, việc huy động làm việc sẽ phải có điều kiện với mức lương phù hợp. Đây cũng là căn cứ để các bên có thể thỏa thuận về lương làm thêm và những hỗ trợ tài chính khác cho lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, cũng cần đến các quy định về việc huy động làm thêm, làm vào thời giờ nghỉ ngơi mà lao động giúp việc gia đình không được từ chối, quy định linh hoạt về việc thỏa thuận dịch chuyển thời gian nghỉ lễ, tết sang ngày khác. Cơ sở cho đề xuất này xuất phát từ đặc thù của công việc, nhằm tạo sự linh hoạt trong sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu công việc cần thiết của gia chủ, thông qua đó cũng xóa rào cản cơ hội việc làm cho lao động này khi những quy định thời giờ nghỉ ngơi tỏ ra cứng nhắc, chưa thực sự phù hợp với công việc.

Thứ hai, quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của lao động giúp việc gia đình cũng đã được quy định rõ với trách nhiệm của người sử dụng lao động bằng việc chi trả để họ tự lo. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa giải quyết được mục đích của chế độ bảo vệ rủi ro này khi mà lao động giúp việc gia đình chưa tự giác tham gia bảo hiểm. Đã đến lúc cần quy định thống nhất hình thức tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động giúp việc gia đình là bảo hiểm xã hội bắt buộc. Điều này sẽ đảm bảo sự bảo vệ đối với lao động giúp việc gia đình cả trong những trường hợp gặp rủi ro trong quan hệ lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp thay vì chỉ bảo vệ trong bảo hiểm hưu trí, tử tuất nếu họ tham gia bảo hiểm tự nguyện. Bảo hiểm y tế vốn dĩ là hình thức tham gia bắt buộc song cần quy định rõ ràng hơn nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện. Bên cạnh đó, cần có những quy định hướng dẫn cách thức để người lao động tham gia cũng như trách nhiệm, chế tài nếu họ không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Thứ ba, một trong những hạn chế lớn của vấn đề an toàn vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc là pháp luật hiện hành thiếu quy định về đảm bảo thực hiện. Thực tế cho thấy, điều kiện lao động với vấn đề an toàn vệ sinh lao động ở khu vực này ít nhận được sự quan tâm đúng mức của người sử dụng lao động. Trang thiết bị phòng hộ cá nhân, bảo vệ an toàn vệ sinh trong công việc thiếu tính quy chuẩn, bởi chủ yếu liên quan đến việc gia đình. Vấn đề khám sức khỏe cho lao động giúp việc gia đình ít nhất 1 lần/năm với chi phí do người sử dụng chi trả cũng ít được đảm bảo thực hiện. Để bảo vệ lao động này, ngay trong Công ước 189, ILO cũng đã quy định vai trò của thanh tra lao động đối với việc thanh tra các hộ gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan đó, cũng đã đến lúc cần thiết có những quy định riêng về thẩm quyền của thanh tra lao động trong việc sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam bằng việc cho phép vào nhà riêng kiểm tra nhằm tăng cường nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động nói chung và quy định về an toàn vệ sinh lao động với giúp việc gia đình nói riêng.

Thứ tư, một điểm cần lưu ý đó là, pháp luật hiện hành cũng đã có quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người giúp việc bị tai nạn lao động (Điều 25 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP), song chưa đề cập tới trách nhiệm đối với trường hợp lao động giúp việc ốm đau và tai nạn rủi ro. Với đặc điểm riêng của công việc gắn với sinh hoạt gia chủ và trong phạm vi không gian gia đình thì cần phải quy định trách nhiệm của chủ nhà khi họ ốm đau, tai nạn rủi ro nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho lao động này.

Thứ năm, bổ sung các quy định về cải thiện điều kiện sống cho lao động giúp việc gia đình. Liên quan đến vấn đề này hiện đã có quy định về ăn và chỗ ở của lao động giúp việc gia đình (khoản 9 Điều 6 Thông tư số 19), song chỉ dừng lại ở quy định chung chung, chưa cụ thể nhất là về nơi ở của lao động giúp việc gia đình. Thực tế, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để bố trí nơi ở và vệ sinh độc lập với các thành viên khác trong gia đình, thậm chí có những trường hợp lao động giúp việc còn phải ngủ chung phòng/chung giường với các thành viên khác trong gia đình, sinh hoạt vệ sinh cá nhân chưa được đảm bảo. Tuy nhiên, cũng cần tính đến bổ sung các quy định đảm bảo nơi ở an toàn, đảm bảo quyền sinh hoạt riêng tư khi gia đình chủ có điều kiện. Quy định này nhằm tôn trọng tự do cá nhân, phòng ngừa cho những nguy cơ lạm dụng lao động, sử dụng lao động trẻ em tồi tệ, sử dụng hành vi bạo lực với nhóm lao động này. Bên cạnh đó, hoạt động giải trí, giao tiếp và cơ hội học tập nâng cao trình độ cho lao động giúp việc gia đình cũng là những nội dung cần được quan tâm bổ sung nhằm đảm bảo điều kiện sống và làm việc cho lao dộng giúp việc gia đình.

Song song với các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình, cũng cần tiến hành đồng bộ với các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Một trong những giải pháp đầu tiên là nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra lao động trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật. Đây được coi là giải pháp quan trọng nhất trong tương quan đặc điểm riêng của công việc giúp việc gia đình. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của ủy ban nhân dân trong công tác quản lý lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức chung về việc làm và quyền của lao động giúp việc gia đình, khuyến khích tạo cơ hội tham gia vào tổ chức hội, đại diện cũng là những giải pháp có ý nghĩa trong việc đảm bảo điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay.

PGS. TS. Nguyễn Hiền Phương

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1].http://laodongxahoi.net/hop-dong-lao-dong-giup-viec-gia-dinh-tu-quy-dinh-den-thuc-tien-1304762.html.

[2]. Xem thêm: Báo cáo việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam, ILO, năm 2011.





Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.

Theo dõi chúng tôi trên: