Thứ bảy 24/10/2026 19:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình – Thực trạng và kiến nghị

Tóm tắt: Thông qua việc bình luận và đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với lao động giúp việc gia đình, bài viết đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng và phù hợp với lao động khác, có tính đến đặc điểm riêng của công việc. Bên cạnh đó, bài viết cũng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình.


Abstract: By means of comments and assessment on the practical implementation of regulations on working hours, hygiene and safety at the workplace, wages, social insurance and medical insurance for domestic workers, the article proposes some recommendations to amend the laws to protect the domestic workers sufficiently in comparison with other workers while considering the specific features of domestic workers. Moreover, the article also points out some methods to improve the practical effectiveness of policies on working conditions and employment of domestic workers policies.

Ở Việt Nam, thuật ngữ giúp việc gia đình lần đầu tiên được đề cập đến trong Bộ luật Lao động năm 1994, song còn rất mờ nhạt, phải đến khi Bộ luật Lao động năm 2012 ra đời thì lao động giúp việc gia đình mới được quy định chính thức tại một mục riêng (Mục 5 của Chương XI). Theo đó, khoản 1 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “Lao động là người giúp việc gia đình là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình”. Trong năm 2014, các quy định về giúp việc gia đình ngày càng cụ thể hơn với sự ra đời của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP ngày 07/04/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động là người giúp việc gia đình (Nghị định số 27/2014/NĐ-CP) và Thông tư số 19/2014/TT-BLĐTBXH ngày 15/8/2014 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 27/2014/NĐ-CP (Thông tư số 19). Các văn bản này đã quy định khá đầy đủ về điều kiện lao động và sử dụng lao động giúp việc gia đình với các nội dung tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về điều kiện lao động và sử dụng lao động đối với lao động giúp việc gia đình

1.1. Về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình

Trên cơ sở quy định về tiền lương chung trong pháp luật lao động Việt Nam, tiếp cận với quy định riêng về tiền lương đối với lao động giúp việc trong Công ước 189 của ILO, nội dung tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay được cụ thể hóa tại khoản 3 Điều 180 Bộ luật Lao động năm 2012: “Hai bên thỏa thuận, ghi rõ trong hợp đồng lao động về hình thức trả lương, kỳ hạn trả lương, thời giờ làm việc hằng ngày, chỗ ở” để làm cơ sở thực hiện việc trả lương cho người lao động giúp việc gia đình.

Điều 15 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định khá cụ thể về mức tiền lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương. Mức tiền lương do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống tại gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định. Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận mức chi phí ăn, ở hằng tháng của người lao động (nếu có), nhưng không vượt quá 50% mức tiền lương trong hợp đồng lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 quy định: “Mức lương bao gồm cả chi phí ăn, ở của người lao động sống cùng gia đình người sử dụng lao động (nếu có) không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định áp dụng đối với địa bàn nơi người lao động làm việc” (khoản 3 Điều 17). Quy định này đã hướng dẫn rõ về tiền lương đối với lao động giúp việc gia đình dựa trên đặc điểm riêng của công việc này là gắn liền với sinh hoạt của gia chủ. Thông thường, nơi ở và với chi phí ăn uống được kết hợp hàng ngày cùng với gia đình và vì vậy những nguy cơ cho tình trạng lạm dụng, không xác định rõ ràng giữa lương và chi phí ăn ở khi thoả thuận hợp đồng có thể sẽ xảy ra gây bất lợi cho người lao động. Việc xác định tiền lương không thấp hơn lương tối thiểu vùng đảm bảo sự bình đẳng trong tương quan về quyền lợi với các lao động khác khi lao động giúp việc gia đình vẫn thường được xếp vào nhóm lao động dễ bị trả lương thấp hơn. Những quy định về tiền lương và chi phí ăn ở của lao động giúp việc gia đình không chỉ có ý nghĩa làm cơ sở cho các bên xác định và thỏa thuận tiền lương mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ thu nhập đối tượng lao động đặc biệt này.

Đối với hình thức và thời hạn trả lương, Nghị định số 27/2014/NĐ-CP quy định do hai bên thỏa thuận. Trường hợp trả lương qua tài khoản ngân hàng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tạo điều kiện để người lao động mở tài khoản ngân hàng. Các loại phí liên quan đến mở, duy trì tài khoản do hai bên thỏa thuận. Người sử dụng lao động không được thu phí chuyển khoản tiền lương vào tài khoản của người lao động. Cụ thể hơn nữa, Thông tư số 19 có quy định về hình thức trả lương theo tháng, theo tuần, theo ngày và theo giờ và thỏa thuận thời hạn, thời điểm trả lương cố định trong ngày, trong tuần hoặc trong tháng và ghi trong hợp đồng lao động (khoản 4 Điều 6). Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần, tháng thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần, tháng làm việc hoặc trả gộp do hai bên thỏa thuận. Quy định này đã đảm bảo sự linh hoạt trong trả lương với đối tượng lao động có công việc khá đặc biệt này.

Tương tự quy định về tiền lương ngừng việc đối với các quan hệ lao động nói chung, nghĩa vụ trả lương cho lao động giúp việc gia đình cũng đặt ra cho người sử dụng lao động. Tùy thuộc vào các trường hợp ngừng việc mà người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ hoặc không trả lương cho lao động giúp việc gia đình. Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả đủ tiền lương cho người lao động trong trường hợp người lao động phải ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, trường hợp không do lỗi của người sử dụng lao động, người sử dụng lao động không phải trả lương cho người lao động, trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

Theo quy định của pháp luật lao động, trường hợp người sử dụng lao động yêu cầu người lao động làm việc ngoài thời gian ghi trong hợp đồng lao động, làm việc vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương thì người sử dụng lao động phải trả tiền lương làm thêm giờ.

Thực tiễn cho thấy, không thể phủ nhận được rằng mức tiền lương cho lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam còn thấp, việc đảm bảo thực hiện theo quy định pháp luật còn nhiều hạn chế thể hiện ở tình trạng lạm dụng lao động, không trả lương, trả ít, huy động làm thêm giờ không trả lương, chưa rõ ràng trong xác định lương và các khoản khác như tiền ăn, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, thưởng… Bộ luật Lao động năm 2012 quy định các bên thỏa thuận tiền lương và ghi trong hợp đồng lao động, song thực tế đa phần hợp đồng lao động giao kết với lao động giúp việc gia đình bằng hình thức lời nói dẫn đến thiếu căn cứ pháp lý cho việc trả lương, khi có khúc mắc, tranh chấp về tiền lương khó giải quyết mà phần thiệt thòi thường nghiêng về phía người giúp việc.

Từ việc thiếu những thỏa thuận về mặt pháp lý dưới hình thức văn bản, cùng với đặc thù nghề nghiệp các công việc trong gia đình là những công việc gắn với sinh hoạt gia đình và diễn ra bất cứ khoảng thời gian nào trong ngày dẫn đến xu hướng lạm dụng thời gian làm việc mà không được hưởng lương[1]. Ngay cả vấn đề khấu trừ lương cũng như tiền thưởng cũng thường không được rõ ràng, thậm chí nguy cơ không trả lương là vấn đề lao động giúp việc cũng thường tính đến. Cũng không loại trừ một số trường hợp, người lao động là giúp việc gia đình còn bị giữ lương để đảm bảo thực hiện công việc giúp việc gia đình cho các hợp đồng kế tiếp hoặc vì những lý do khác. Do vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể cũng như nâng cao nhận thức cho lao động giúp việc gia đình về quyền và nghĩa vụ liên quan đến vấn đề tiền lương nhằm đảm bảo sự công bằng cũng như hướng tới một hành lang pháp lý đảm bảo việc làm bền vững cho lao động này.

1.2. Về thời giờ làm việc nghỉ ngơi và an toàn, vệ sinh lao động của lao động giúp việc gia đình

Với đặc thù riêng về công việc, lao động giúp việc gia đình có thời giờ làm việc gắn liền với sinh hoạt của hộ gia đình, vì vậy, bên cạnh những quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi, pháp luật cũng có những quy định riêng cho đối tượng này. Quy định này đảm bảo công bằng và nâng vị thế của lao động giúp việc gia đình trong tương quan bình đẳng với lao động khác. Thực tế cho thấy, các công việc giúp việc gia đình là những công việc nhỏ nhặt, thường xuyên và không tên có thể diễn ra vào bất kỳ thời điểm nào trong sinh hoạt gia đình nên thời gian của lao động giúp việc gia đình có thể không kéo dài liên tục mà xen kẽ giữa thời gian làm việc và nghỉ ngơi, khó có thể phân định rạch ròi. Đây cũng có thể là lý do người sử dụng lao động dễ lạm dụng và ngược lại cũng phải tính đến tình huống người giúp việc lười biếng, không làm hết hoặc làm thiếu trách nhiệm như mong muốn của chủ nhà.

Cũng cần nhìn nhận khách quan rằng, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi với việc đảm bảo số giờ và tính liên tục như quy định pháp luật hiện hành là một khó khăn cho người sử dụng lao động. Điều này thể hiện sự thiếu linh hoạt và chưa phù hợp với đặc thù công việc của lao động này. Nên chăng cần quy định người sử dụng lao động có quyền huy động người giúp việc gia đình làm việc trong những trường hợp cần thiết mà họ không được từ chối. Tương tự như vậy, việc quy định thời giờ nghỉ ngơi cũng cần có sự hướng dẫn theo hướng linh hoạt về nghỉ tết, nghỉ lễ trên cơ sở thỏa thuận với lao động giúp việc gia đình.

Về an toàn và vệ sinh lao động, pháp luật lao động cũng quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng lao động và người giúp việc gia đình.

Pháp luật hiện hành cũng quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động khi lao động giúp việc gia đình bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đó là cấp cứu kịp thời và điều trị chu đáo, thông báo cho thân nhân của họ biết, thực hiện các trách nhiệm theo quy định chung theo quy định của pháp luật lao động. Trường hợp lao động giúp việc gia đình có tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục bảo hiểm y tế thanh toán. Trường hợp lao động giúp việc gia đình không tham gia bảo hiểm y tế thì người sử dụng lao động phải thanh toán toàn bộ chi phí y tế từ sơ cứu, cấp cứu đến điều trị ổn định (Điều 25 Nghị định số 27/NĐ-CP và Điều 144 Bộ luật Lao động năm 2012).

1.3. Về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với lao động giúp việc gia đình

Theo khoản 2 Điều 181 Bộ luật Lao động năm 2012 và Nghị định số 27/2014/NĐ-CP thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế để người lao động tự lo bảo hiểm. Theo Thông tư số 19, nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình, nội dung bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế được hướng dẫn tương đối cụ thể với mức trả tương đương mức tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế và hình thức trả cho lao động này (khoản 8 Điều 6 Thông tư số 19). Thực tế cho thấy, đa phần lao động giúp việc gia đình không thỏa thuận với chủ nhà về quyền lợi này khi giao kết hợp đồng, thậm chí có nhiều người không nhận thức được quyền lợi của họ trong quan hệ lao động này. Đa số những người lao động giúp việc gia đình có bảo hiểm y tế là do tự mua hoặc thuộc diện Nhà nước chi trả, hỗ trợ phí tham gia.

Thực tế này xuất phát từ một trong những nguyên nhân thuộc về nhận thức và tâm lý chung của mọi người khi cho rằng, giúp việc gia đình chỉ là một nghề thời vụ, thiếu tính ổn định, lâu bền nên không có nhu cầu tham gia bảo hiểm. Về phía người sử dụng lao động, việc trả thêm tới 21% tiền lương nhiều khi là quá cao trong tương quan với mức lương trả cho công việc này. Về phía người giúp việc, thường là những người có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập thấp nên rất khó để thuyết phục họ trích ra một khoản tiền từ lương do chủ nhà trả để lo bảo hiểm. Bên cạnh đó, lao động giúp việc gia đình hiện nay có xu hướng phần nhiều là người có độ tuổi trung niên, thậm chí tới 50 - 55 tuổi, việc tham gia bảo hiểm xã hội với nhu cầu có trợ cấp khi về già được cho là khó bởi cần đủ ít nhất 20 năm đóng bảo hiểm mới được hưởng trợ cấp. Nếu có, lao động giúp việc gia đình có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện với quyền lợi hưởng cho hai chế độ bảo hiểm hưu trí và tử tuất. Thực tế lao động giúp việc thường chú tâm tới việc tham gia bảo hiểm y tế hơn bảo hiểm xã hội bởi nhắm tới quyền lợi thiết thực khi bị ốm đau, bệnh tật cần hỗ trợ chi phí y tế.

2. Một số kiến nghị

Cho đến nay, lao động giúp việc gia đình đã trở thành lực lượng lao động không thể thiếu trong xã hội công nghiệp, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội và ngày càng được nâng cao vị thế trong tương quan bình đẳng với các lao động khác trong xã hội. Bằng những quy định riêng trong Bộ luật Lao động năm 2012 và hướng dẫn tại Nghị định số 27/2014/NĐ-CP đã quy định điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình tương đối toàn diện, song thực tiễn thực hiện cho thấy, cần có những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật đối với đối tượng lao động giúp việc gia đình nhằm đảm bảo hơn nữa sự bảo vệ và khai thác lao động phù hợp.

Thứ nhất, cần bổ sung các quy định về thời giờ nghỉ ngơi của lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan phù hợp với quy định chung về thời giờ làm việc nghỉ ngơi của người lao động, quy định pháp luật hiện hành đã quy định thời giờ nghỉ ngơi tối thiểu cho lao động giúp việc gia đình. Do tính chất không phân biệt rõ ràng nơi làm việc với nơi ở, thời giờ nghỉ ngơi có tính linh hoạt phụ thuộc rất nhiều vào sinh hoạt của gia chủ nên không phủ nhận được thực tế là đa phần lao động giúp việc gia đình khó phân định thời gian làm việc và nghỉ ngơi, thường bị lạm dụng thời giờ làm việc, đặc biệt vào ban đêm với các công việc chăm sóc trẻ em, người già, người ốm. Đây cũng là thực tế mà nhiều quốc gia trên thế giới gặp phải và cần có sự điều chỉnh pháp luật phù hợp bằng cách quy định tổng số giờ nghỉ ngơi tối thiểu, tổng số giờ làm việc trong ngày, trong tuần, hạn chế làm đêm và đòi hỏi phải có thù lao bổ sung cho khoảng thời gian làm thêm đó[2].

Việc bổ sung các quy định về thời giờ làm việc nghỉ ngơi ở Việt Nam cần tính đến việc quy định giới hạn thời giờ làm việc buổi tối có thể tới 23 giờ đảm đảm phù hợp đặc thù công việc. Ngoài thời giờ này, việc huy động làm việc sẽ phải có điều kiện với mức lương phù hợp. Đây cũng là căn cứ để các bên có thể thỏa thuận về lương làm thêm và những hỗ trợ tài chính khác cho lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, cũng cần đến các quy định về việc huy động làm thêm, làm vào thời giờ nghỉ ngơi mà lao động giúp việc gia đình không được từ chối, quy định linh hoạt về việc thỏa thuận dịch chuyển thời gian nghỉ lễ, tết sang ngày khác. Cơ sở cho đề xuất này xuất phát từ đặc thù của công việc, nhằm tạo sự linh hoạt trong sử dụng lao động, đáp ứng yêu cầu công việc cần thiết của gia chủ, thông qua đó cũng xóa rào cản cơ hội việc làm cho lao động này khi những quy định thời giờ nghỉ ngơi tỏ ra cứng nhắc, chưa thực sự phù hợp với công việc.

Thứ hai, quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của lao động giúp việc gia đình cũng đã được quy định rõ với trách nhiệm của người sử dụng lao động bằng việc chi trả để họ tự lo. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa giải quyết được mục đích của chế độ bảo vệ rủi ro này khi mà lao động giúp việc gia đình chưa tự giác tham gia bảo hiểm. Đã đến lúc cần quy định thống nhất hình thức tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động giúp việc gia đình là bảo hiểm xã hội bắt buộc. Điều này sẽ đảm bảo sự bảo vệ đối với lao động giúp việc gia đình cả trong những trường hợp gặp rủi ro trong quan hệ lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp thay vì chỉ bảo vệ trong bảo hiểm hưu trí, tử tuất nếu họ tham gia bảo hiểm tự nguyện. Bảo hiểm y tế vốn dĩ là hình thức tham gia bắt buộc song cần quy định rõ ràng hơn nhằm nâng cao nhận thức và hiệu quả thực hiện. Bên cạnh đó, cần có những quy định hướng dẫn cách thức để người lao động tham gia cũng như trách nhiệm, chế tài nếu họ không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.

Thứ ba, một trong những hạn chế lớn của vấn đề an toàn vệ sinh lao động đối với lao động giúp việc là pháp luật hiện hành thiếu quy định về đảm bảo thực hiện. Thực tế cho thấy, điều kiện lao động với vấn đề an toàn vệ sinh lao động ở khu vực này ít nhận được sự quan tâm đúng mức của người sử dụng lao động. Trang thiết bị phòng hộ cá nhân, bảo vệ an toàn vệ sinh trong công việc thiếu tính quy chuẩn, bởi chủ yếu liên quan đến việc gia đình. Vấn đề khám sức khỏe cho lao động giúp việc gia đình ít nhất 1 lần/năm với chi phí do người sử dụng chi trả cũng ít được đảm bảo thực hiện. Để bảo vệ lao động này, ngay trong Công ước 189, ILO cũng đã quy định vai trò của thanh tra lao động đối với việc thanh tra các hộ gia đình sử dụng lao động giúp việc gia đình. Trong tương quan đó, cũng đã đến lúc cần thiết có những quy định riêng về thẩm quyền của thanh tra lao động trong việc sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam bằng việc cho phép vào nhà riêng kiểm tra nhằm tăng cường nâng cao nhận thức, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật lao động nói chung và quy định về an toàn vệ sinh lao động với giúp việc gia đình nói riêng.

Thứ tư, một điểm cần lưu ý đó là, pháp luật hiện hành cũng đã có quy định và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi người giúp việc bị tai nạn lao động (Điều 25 Nghị định số 27/2014/NĐ-CP), song chưa đề cập tới trách nhiệm đối với trường hợp lao động giúp việc ốm đau và tai nạn rủi ro. Với đặc điểm riêng của công việc gắn với sinh hoạt gia chủ và trong phạm vi không gian gia đình thì cần phải quy định trách nhiệm của chủ nhà khi họ ốm đau, tai nạn rủi ro nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ cho lao động này.

Thứ năm, bổ sung các quy định về cải thiện điều kiện sống cho lao động giúp việc gia đình. Liên quan đến vấn đề này hiện đã có quy định về ăn và chỗ ở của lao động giúp việc gia đình (khoản 9 Điều 6 Thông tư số 19), song chỉ dừng lại ở quy định chung chung, chưa cụ thể nhất là về nơi ở của lao động giúp việc gia đình. Thực tế, không phải gia đình nào cũng có điều kiện để bố trí nơi ở và vệ sinh độc lập với các thành viên khác trong gia đình, thậm chí có những trường hợp lao động giúp việc còn phải ngủ chung phòng/chung giường với các thành viên khác trong gia đình, sinh hoạt vệ sinh cá nhân chưa được đảm bảo. Tuy nhiên, cũng cần tính đến bổ sung các quy định đảm bảo nơi ở an toàn, đảm bảo quyền sinh hoạt riêng tư khi gia đình chủ có điều kiện. Quy định này nhằm tôn trọng tự do cá nhân, phòng ngừa cho những nguy cơ lạm dụng lao động, sử dụng lao động trẻ em tồi tệ, sử dụng hành vi bạo lực với nhóm lao động này. Bên cạnh đó, hoạt động giải trí, giao tiếp và cơ hội học tập nâng cao trình độ cho lao động giúp việc gia đình cũng là những nội dung cần được quan tâm bổ sung nhằm đảm bảo điều kiện sống và làm việc cho lao dộng giúp việc gia đình.

Song song với các kiến nghị sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình, cũng cần tiến hành đồng bộ với các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật. Một trong những giải pháp đầu tiên là nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thanh tra lao động trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật. Đây được coi là giải pháp quan trọng nhất trong tương quan đặc điểm riêng của công việc giúp việc gia đình. Đồng thời, cần tăng cường vai trò của ủy ban nhân dân trong công tác quản lý lao động giúp việc gia đình. Bên cạnh đó, việc nâng cao nhận thức chung về việc làm và quyền của lao động giúp việc gia đình, khuyến khích tạo cơ hội tham gia vào tổ chức hội, đại diện cũng là những giải pháp có ý nghĩa trong việc đảm bảo điều kiện sử dụng lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam hiện nay.

PGS. TS. Nguyễn Hiền Phương

Đại học Luật Hà Nội

Tài liệu tham khảo:

[1].http://laodongxahoi.net/hop-dong-lao-dong-giup-viec-gia-dinh-tu-quy-dinh-den-thuc-tien-1304762.html.

[2]. Xem thêm: Báo cáo việc làm bền vững đối với lao động giúp việc gia đình ở Việt Nam, ILO, năm 2011.





Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: