Thứ bảy 23/05/2026 23:31
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Gần đây, phong trào khởi nghiệp (start-up) đang được chú trọng, đẩy mạnh trong toàn xã hội. Sẽ ngày càng có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp được ra đời, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, một thực tế là các doanh nghiệp khoa học và công nghệ phát triển không được như kỳ vọng, vậy nguyên nhân là do đâu. Bài viết này, nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam.

Abtracts: Recently, the start-up movement is being focused, promoted throughout the society. More and more start-ups will be born, with the majority of them being science and technology enterprises. However, the fact that science and technology enterprises are not developing as expected, is why. This article, aimed at clarifying the basic legal issues related to science and technology enterprises in Vietnam.

1. Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1.1. Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) được hiểu là doanh nghiệp mà “hoạt động chính là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do doanh nghiệp được quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp; thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Doanh nghiệp KH&CN thực hiện sản xuất, kinh doanh và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật”[1].

Khái niệm về doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các hoạt động kinh doanh chủ yếu mà doanh nghiệp thực hiện bao gồm hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Doanh nghiệp KH&CN là một loại doanh nghiệp có chức năng trước hết và chủ yếu là “sản xuất ra các công nghệ”.

Theo Điều 58 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 thì: “Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”. Khái niệm này vừa ngắn gọn, vừa phản ánh được doanh nghiệp KH&CN được hình thành trên cơ sở áp dụng hoặc khai thác thành công các hoạt động nghiên cứu của chính doanh nghiệp hoặc kết quả nghiên cứu KH&CN của các nhà khoa học, của các tổ chức KH&CN hoặc kết quả nghiên cứu chuyển giao từ nước ngoài mà họ được quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp.

Theo đó, doanh nghiệp KH&CN phải đáp ứng các điều kiện như: (i) Là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (ii) Có năng lực thực hiện nhiệm vụ KH&CN; (iii) Doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tỷ lệ theo quy định.

Để cụ thể hóa quy định nêu trên, doanh nghiệp KH&CN phải đáp ứng những điều kiện như: Thứ nhất, hoàn thành việc ươm tạo và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN được sở hữu, sử dụng hợp pháp hoặc sở hữu hợp pháp công nghệ để trực tiếp sản xuất, kinh doanh thuộc các lĩnh vực: Công nghệ thông tin - truyền thông, đặc biệt công nghệ phần mềm tin học; công nghệ sinh học, đặc biệt công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy sản và y tế; công nghệ tự động hóa; công nghệ vật liệu mới, đặc biệt công nghệ nano; công nghệ bảo vệ môi trường; công nghệ năng lượng mới; công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác; thứ hai, chuyển giao công nghệ hoặc trực tiếp sản xuất trên cơ sở công nghệ đã ươm tạo và làm chủ hay sử dụng hợp pháp công nghệ nói trên[2].

Có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp KH&CN được quy định bởi pháp luật Việt Nam tương đối phù hợp quan điểm về doanh nghiệp KH&CN hiện nay trên thế giới. Sự phù hợp được đánh giá mang tính chất “tương đối” vì cùng thống nhất ở điểm: (i) Mô hình tổ chức đều phải là doanh nghiệp; (ii) Doanh nghiệp đó có khả năng thực hiện đổi mới; (iii) Sản xuất, kinh doanh dựa trên kết quả KH&CN. Tuy nhiên, quan điểm của các nước trên thế giới về doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp phải thành lập mới (khởi nguồn, khởi nghiệp), còn tại Việt Nam yếu tố này không được đề cập[3]. Tuy nhiên, nhận xét này chưa hoàn toàn xác đáng bởi trong Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN cũng đã đưa ra quy định về việc thành lập doanh nghiệp mới của “tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và có nhu cầu thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ”.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

- Doanh nghiệp KH&CN được coi là cầu nối giữa các kết quả nghiên cứu, ứng dụng KH&CN được chuyển giao vào trong sản xuất sản phẩm, hàng hóa. Các doanh nghiệp KH&CN chính là nơi trực tiếp ứng dụng thành công các kết quả nghiên cứu KH&CN mà doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp để sản xuất sản phẩm. Hay nói cách khác, vai trò của doanh nghiệp KH&CN nhằm thương mại hóa, ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào đời sống kinh tế - xã hội. Hơn nữa, doanh nghiệp KH&CN cũng chính là nơi tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới, tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao. Doanh nghiệp KH&CN góp phần phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống.

- Doanh nghiệp KH&CN đóng vai trò như một chủ thể kinh tế sản xuất chủ lực, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Đây là những doanh nghiệp có sự kết nối giữa các nhà khoa học và thực tiễn thị trường, đã góp phần đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ tốt đáp ứng nhu cầu xã hội. Doanh nghiệp KH&CN sẽ là phương thức chuyển giao công nghệ nhanh nhất bởi sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp KHCN sẽ tạo điều kiện để huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn lực KH&CN phục vụ cho sự phát triển của đất nước, là nguồn tạo công ăn việc làm ổn định, góp phần nâng cao đời sống địa phương.

Ngoài ra, doanh nghiệp KH&CN có vai trò tạo ra việc làm mới, thu hút các lao động có trình độ, tay nghề, được đào tạo thành nguồn nhân lực KH&CN cho chính doanh nghiệp và thị trường lao động.

2. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về doanh nghiệp khoa học và công nghệ

2.1. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp

Chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp bao gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và có nhu cầu thành lập doanh nghiệp KH&CN.

Doanh nghiệp KH&CN thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Khoa học và Công nghệ. Loại hình doanh nghiệp KH&CN được tuân thủ theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, trong trường hợp là tổ chức KH&CN công lập thì chỉ được chuyển đổi thành công ty cổ phần theo trình tự, thủ tục của Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập.

2.2. Trình tự, thủ tục thành lập

Trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp KH&CN được thực hiện theo các bước phụ thuộc vào chủ thể thành lập doanh nghiệp KH&CN.

Thứ nhất, nếu chủ thể thành lập là tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài (trừ tổ chức KH&CN công lập), thì bước một là thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp; bước hai là đăng ký cấp chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Thứ hai, tổ chức KH&CN công lập được chuyển đổi thành công ty cổ phần khi đáp ứng các điều kiện: (i) Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi; (ii) Thuộc danh mục chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 thì trình tự, thủ tục chuyển đổi tổ chức KH&CN công lập thành công ty cổ phần chưa được quy định cụ thể, mà việc chuyển đổi sẽ được thực hiện như việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần. Trình tự này căn cứ vào Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, các chủ thể khi muốn thành lập doanh nghiệp KH&CN đều trải qua các bước (trừ tổ chức KH&CN công lập phải tiến hành các bước chuyển đổi trước khi thực hiện các bước dưới đây):

Bước 1: Thành lập doanh nghiệp, lập hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định tại Luật Doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Hồ sơ đăng ký dựa trên loại hình doanh nghiệp thành lập được quy định trong các điều 21, 22, 23, 24 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và được nộp tại cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính.

Bước 2: Đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, sau khi được thành lập, doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN trình Sở Khoa học và Công nghệ địa phương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để được xem xét, cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN bao gồm: Giấy đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN (theo mẫu); bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; dự án sản xuất, kinh doanh.

Thời gian xem xét, cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN tối đa là ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp có trụ sở chính nhận được đầy đủ hồ sơ của doanh nghiệp.

2.3. Cơ cấu tổ chức quản lý, tài chính của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Căn cứ vào loại hình doanh nghiệp được thành lập, thì cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp KH&CN được tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp và điều lệ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp KH&CN có vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.

2.4. Ưu đãi đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Những ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN được quy định tại Thông tư số 06/2008/TT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN; Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 10/9/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, cụ thể như sau:

Thứ nhất, được xem xét, giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc sở hữu nhà nước. Việc giao toàn bộ hay một phần quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được thực hiện theo thỏa thuận giữa đại diện chủ sở hữu nhà nước và tổ chức chủ trì hoặc khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.

Thứ hai, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng điều kiện doanh nghiệp KH&CN có tỷ lệ doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả KH&CN trên tổng doanh thu của doanh nghiệp trong năm thứ nhất đạt từ 30% trở lên, năm thứ hai đạt từ 50% trở lên và từ năm thứ ba trở đi đạt từ 70% trở lên. Năm thứ nhất được hiểu là năm đầu tiên doanh nghiệp KH&CN có thu nhập chịu thuế.

Thứ ba, ưu đãi về đất đai: Doanh nghiệp KH&CN được lựa chọn việc sử dụng đất theo một trong hai hình thức: Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất. Doanh nghiệp KH&CN chỉ được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất sử dụng cho mục đích KH&CN. Doanh nghiệp KH&CN được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Doanh nghiệp KH&CN được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.

Thứ tư, ưu đãi về các tín dụng, quỹ đổi mới: Doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá được quỹ của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tài trợ, cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật về công nghệ cao. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong nước được hỗ trợ lãi suất vay vốn tại ngân hàng.

Được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Thứ năm, doanh nghiệp KH&CN được hưởng các dịch vụ tư vấn, đào tạo từ các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp của Nhà nước không phải trả phí dịch vụ. Được ưu tiên sử dụng các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước. Được hưởng các hỗ trợ ưu đãi từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.

Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức KH&CN, nhà khoa học liên kết với doanh nghiệp và tổ chức khác để xác định, thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ yêu cầu đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá.

Ngoài ra, còn các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập như: Các dự án hỗ trợ cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, các dự án hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, các dự án hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN.

3. Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp khoa học và công nghệ

3.1. Những tồn tại, bất cập trong quy định pháp luật và thực thi pháp luật

Thứ nhất, thiếu văn bản hướng dẫn Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đã bổ sung nhiều điều khoản, chế định mới đáp ứng giải quyết những vấn đề đã và đang phát sinh trong thực tế. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27/01/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ 2013. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 11, 12, 15, 25, 30, 32, 41, 43, 46 và một số vấn đề cần thiết khác của Luật Khoa học và Công nghệ. Các nội dung liên quan đến doanh nghiệp KH&CN chưa có hướng dẫn cụ thể.

Thứ hai, pháp luật về doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam chưa đồng bộ với các luật trong một số lĩnh vực có liên quan (ví dụ như Luật Đất đai), dẫn tới doanh nghiệp KH&CN chưa được hưởng các ưu đãi về quyền sử dụng đất (được thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất theo khung giá của Nhà nước tại địa phương nơi doanh nghiệp KH&CN thuê, đặc biệt đối với các doanh nghiệp KH&CN nằm ngoài các khu công nghệ cao)[4].

Thứ ba, các quy định về chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN chưa đồng bộ, thiếu thống nhất với quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, dẫn đến việc khó thực thi, doanh nghiệp không thấy được những chính sách ưu đãi trong luật được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật. Hơn nữa, các chính sách ưu đãi còn chưa hợp lý, như việc chưa xem xét chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu của doanh nghiệp KH&CN đối với các hàng hóa phục vụ hoạt động kinh doanh chính.

Thứ tư, thủ tục đăng ký doanh nghiệp KH&CN rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp e ngại không muốn đăng ký. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến thông tin về ưu đãi tới doanh nghiệp chưa kịp thời, nên dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp chưa thực sự hiểu được quyền lợi khi trở thành doanh nghiệp KH&CN.

3.2. Thúc đẩy doanh nghiệp khoa học và công nghệ phát triển

Muốn thúc đẩy doanh nghiệp KH&CN phát triển, trước tiên phải tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân doanh nghiệp và cho xã hội. Các thủ tục đăng ký phải được đơn giản hóa nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình đăng ký. Cụ thể như:

Một là, ban hành văn bản thay thế Nghị định số 80/2007/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP để hướng dẫn chi tiết các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp KH&CN được quy định trong Luật Khoa học và Công nghệ năm năm 2013.

Hai là, quy định thống nhất về hình thức của các doanh nghiệp KH&CN được phép thành lập bao gồm những loại doanh nghiệp nào nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn khi quy định các loại hình doanh nghiệp KH&CN hiện nay, dẫn đến làm ảnh hưởng đến quyền của các chủ thể. Hơn nữa, quy định về các doanh nghiệp KH&CN cần phải đưa ra các trường hợp như: Thành lập doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp đã được thành lập, xin chuyển thành doanh nghiệp KH&CN nhằm mang tính bao quát trên thực tiễn.

Ba là, cần có cơ chế, chính sách hiệu quả, tạo sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tiếp nhận các kết quả KH&CN mới để hình thành các doanh nghiệp KH&CN.

Bốn là, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN để dễ dàng được thực hiện. Cần đưa ra các trường hợp doanh nghiệp KH&CN được miễn, giảm, được hỗ trợ theo các chính sách ưu đãi cụ thể, có thế mới khuyến khích doanh nghiệp KH&CN phát triển.

Năm là, miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng, trong nước chưa sản xuất được, tài liệu, sách báo, tạp chí khoa học chuyên dùng để sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ.

Sáu là, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chính sách ưu đãi đối với loại hình doanh nghiệp KH&CN. Xúc tiến thành lập câu lạc bộ doanh nghiệp KH&CN, nhằm tạo diễn đàn để các doanh nghiệp trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cùng nhau hợp tác phát triển.

Bản thân các doanh nghiệp KH&CN cần thiết phải thành lập chú trọng đến nghiên cứu và phát triển, tập trung đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống.

Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã bắt đầu đề án thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam nhằm tạo ra hệ sinh thái gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp, đây là cơ hội rất lớn để phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng đòi hỏi doanh nghiệp KH&CN phải có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, mô hình, chiến lược kinh doanh khả thi và có đội ngũ cán bộ đủ năng lực thực hiện mô hình và chiến lược đó.

Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách khoa Hà Nội


[1] Điều 2 Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN.

[2] Điều 1 Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 10/9/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN.

[3]Nguyễn Vân Anh, Nguyễn Hồng Hà, Lê Vũ Toàn (2014), Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Chính sách và quản lý khoa học và công nghệ, tập 3, số 3.

[4] Minh Hương, Doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Thực trạng và giải pháp, xem thêm tại http://www.mof.gov.vn, ngày 08/01/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: