Thứ ba 10/02/2026 06:48
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo pháp luật Việt Nam

Tóm tắt: Gần đây, phong trào khởi nghiệp (start-up) đang được chú trọng, đẩy mạnh trong toàn xã hội. Sẽ ngày càng có nhiều doanh nghiệp khởi nghiệp được ra đời, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, một thực tế là các doanh nghiệp khoa học và công nghệ phát triển không được như kỳ vọng, vậy nguyên nhân là do đâu. Bài viết này, nhằm làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản liên quan đến doanh nghiệp khoa học và công nghệ ở Việt Nam.

Abtracts: Recently, the start-up movement is being focused, promoted throughout the society. More and more start-ups will be born, with the majority of them being science and technology enterprises. However, the fact that science and technology enterprises are not developing as expected, is why. This article, aimed at clarifying the basic legal issues related to science and technology enterprises in Vietnam.

1. Khái niệm, vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

1.1. Khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Doanh nghiệp khoa học và công nghệ (KH&CN) được hiểu là doanh nghiệp mà “hoạt động chính là thực hiện sản xuất, kinh doanh các loại sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ do doanh nghiệp được quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp; thực hiện các nhiệm vụ KH&CN. Doanh nghiệp KH&CN thực hiện sản xuất, kinh doanh và các dịch vụ khác theo quy định của pháp luật”[1].

Khái niệm về doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các hoạt động kinh doanh chủ yếu mà doanh nghiệp thực hiện bao gồm hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Doanh nghiệp KH&CN là một loại doanh nghiệp có chức năng trước hết và chủ yếu là “sản xuất ra các công nghệ”.

Theo Điều 58 Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 thì: “Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khoa học và công nghệ để tạo ra sản phẩm, hàng hoá từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ”. Khái niệm này vừa ngắn gọn, vừa phản ánh được doanh nghiệp KH&CN được hình thành trên cơ sở áp dụng hoặc khai thác thành công các hoạt động nghiên cứu của chính doanh nghiệp hoặc kết quả nghiên cứu KH&CN của các nhà khoa học, của các tổ chức KH&CN hoặc kết quả nghiên cứu chuyển giao từ nước ngoài mà họ được quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp.

Theo đó, doanh nghiệp KH&CN phải đáp ứng các điều kiện như: (i) Là doanh nghiệp được thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (ii) Có năng lực thực hiện nhiệm vụ KH&CN; (iii) Doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá hình thành từ kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đạt tỷ lệ theo quy định.

Để cụ thể hóa quy định nêu trên, doanh nghiệp KH&CN phải đáp ứng những điều kiện như: Thứ nhất, hoàn thành việc ươm tạo và làm chủ công nghệ từ kết quả KH&CN được sở hữu, sử dụng hợp pháp hoặc sở hữu hợp pháp công nghệ để trực tiếp sản xuất, kinh doanh thuộc các lĩnh vực: Công nghệ thông tin - truyền thông, đặc biệt công nghệ phần mềm tin học; công nghệ sinh học, đặc biệt công nghệ sinh học phục vụ nông nghiệp, thủy sản và y tế; công nghệ tự động hóa; công nghệ vật liệu mới, đặc biệt công nghệ nano; công nghệ bảo vệ môi trường; công nghệ năng lượng mới; công nghệ vũ trụ và một số công nghệ khác; thứ hai, chuyển giao công nghệ hoặc trực tiếp sản xuất trên cơ sở công nghệ đã ươm tạo và làm chủ hay sử dụng hợp pháp công nghệ nói trên[2].

Có ý kiến cho rằng, doanh nghiệp KH&CN được quy định bởi pháp luật Việt Nam tương đối phù hợp quan điểm về doanh nghiệp KH&CN hiện nay trên thế giới. Sự phù hợp được đánh giá mang tính chất “tương đối” vì cùng thống nhất ở điểm: (i) Mô hình tổ chức đều phải là doanh nghiệp; (ii) Doanh nghiệp đó có khả năng thực hiện đổi mới; (iii) Sản xuất, kinh doanh dựa trên kết quả KH&CN. Tuy nhiên, quan điểm của các nước trên thế giới về doanh nghiệp KH&CN là doanh nghiệp phải thành lập mới (khởi nguồn, khởi nghiệp), còn tại Việt Nam yếu tố này không được đề cập[3]. Tuy nhiên, nhận xét này chưa hoàn toàn xác đáng bởi trong Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN cũng đã đưa ra quy định về việc thành lập doanh nghiệp mới của “tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và có nhu cầu thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ”.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

- Doanh nghiệp KH&CN được coi là cầu nối giữa các kết quả nghiên cứu, ứng dụng KH&CN được chuyển giao vào trong sản xuất sản phẩm, hàng hóa. Các doanh nghiệp KH&CN chính là nơi trực tiếp ứng dụng thành công các kết quả nghiên cứu KH&CN mà doanh nghiệp có quyền sở hữu và sử dụng hợp pháp để sản xuất sản phẩm. Hay nói cách khác, vai trò của doanh nghiệp KH&CN nhằm thương mại hóa, ứng dụng kết quả nghiên cứu KH&CN vào đời sống kinh tế - xã hội. Hơn nữa, doanh nghiệp KH&CN cũng chính là nơi tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới, tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao. Doanh nghiệp KH&CN góp phần phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại, đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống.

- Doanh nghiệp KH&CN đóng vai trò như một chủ thể kinh tế sản xuất chủ lực, tạo ra những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần phát triển kinh tế - xã hội. Đây là những doanh nghiệp có sự kết nối giữa các nhà khoa học và thực tiễn thị trường, đã góp phần đưa ra thị trường những sản phẩm, dịch vụ tốt đáp ứng nhu cầu xã hội. Doanh nghiệp KH&CN sẽ là phương thức chuyển giao công nghệ nhanh nhất bởi sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp KHCN sẽ tạo điều kiện để huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả nguồn lực KH&CN phục vụ cho sự phát triển của đất nước, là nguồn tạo công ăn việc làm ổn định, góp phần nâng cao đời sống địa phương.

Ngoài ra, doanh nghiệp KH&CN có vai trò tạo ra việc làm mới, thu hút các lao động có trình độ, tay nghề, được đào tạo thành nguồn nhân lực KH&CN cho chính doanh nghiệp và thị trường lao động.

2. Một số vấn đề pháp lý cơ bản về doanh nghiệp khoa học và công nghệ

2.1. Lựa chọn loại hình doanh nghiệp

Chủ thể có quyền thành lập doanh nghiệp bao gồm các tổ chức, cá nhân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp các kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ và có nhu cầu thành lập doanh nghiệp KH&CN.

Doanh nghiệp KH&CN thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Luật Khoa học và Công nghệ. Loại hình doanh nghiệp KH&CN được tuân thủ theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn (gồm một thành viên và hai thành viên trở lên), công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.

Tuy nhiên, trong trường hợp là tổ chức KH&CN công lập thì chỉ được chuyển đổi thành công ty cổ phần theo trình tự, thủ tục của Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập.

2.2. Trình tự, thủ tục thành lập

Trình tự, thủ tục thành lập doanh nghiệp KH&CN được thực hiện theo các bước phụ thuộc vào chủ thể thành lập doanh nghiệp KH&CN.

Thứ nhất, nếu chủ thể thành lập là tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài (trừ tổ chức KH&CN công lập), thì bước một là thành lập doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp; bước hai là đăng ký cấp chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Thứ hai, tổ chức KH&CN công lập được chuyển đổi thành công ty cổ phần khi đáp ứng các điều kiện: (i) Tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên trong năm gần nhất với thời điểm thực hiện chuyển đổi hoặc có khả năng tự bảo đảm được toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên sau khi chuyển đổi; (ii) Thuộc danh mục chuyển đổi thành công ty cổ phần theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên, theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP ngày 14/6/2016 thì trình tự, thủ tục chuyển đổi tổ chức KH&CN công lập thành công ty cổ phần chưa được quy định cụ thể, mà việc chuyển đổi sẽ được thực hiện như việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần. Trình tự này căn cứ vào Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty cổ phần.

Như vậy, theo pháp luật hiện hành, các chủ thể khi muốn thành lập doanh nghiệp KH&CN đều trải qua các bước (trừ tổ chức KH&CN công lập phải tiến hành các bước chuyển đổi trước khi thực hiện các bước dưới đây):

Bước 1: Thành lập doanh nghiệp, lập hồ sơ đăng ký kinh doanh theo quy định tại Luật Doanh nghiệp để thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Hồ sơ đăng ký dựa trên loại hình doanh nghiệp thành lập được quy định trong các điều 21, 22, 23, 24 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và được nộp tại cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính.

Bước 2: Đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, sau khi được thành lập, doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN trình Sở Khoa học và Công nghệ địa phương, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính để được xem xét, cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN.

Hồ sơ đăng ký chứng nhận doanh nghiệp KH&CN bao gồm: Giấy đề nghị chứng nhận doanh nghiệp KH&CN (theo mẫu); bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; dự án sản xuất, kinh doanh.

Thời gian xem xét, cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN tối đa là ba mươi (30) ngày làm việc, kể từ ngày Sở Khoa học và Công nghệ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi doanh nghiệp có trụ sở chính nhận được đầy đủ hồ sơ của doanh nghiệp.

2.3. Cơ cấu tổ chức quản lý, tài chính của doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Căn cứ vào loại hình doanh nghiệp được thành lập, thì cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp KH&CN được tuân thủ theo Luật Doanh nghiệp và điều lệ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp KH&CN có vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần.

2.4. Ưu đãi đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ

Những ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN được quy định tại Thông tư số 06/2008/TT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN; Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 10/9/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, cụ thể như sau:

Thứ nhất, được xem xét, giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc sở hữu nhà nước. Việc giao toàn bộ hay một phần quyền sở hữu kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được thực hiện theo thỏa thuận giữa đại diện chủ sở hữu nhà nước và tổ chức chủ trì hoặc khi đáp ứng các điều kiện theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.

Thứ hai, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng điều kiện doanh nghiệp KH&CN có tỷ lệ doanh thu từ việc sản xuất, kinh doanh các sản phẩm hàng hóa hình thành từ kết quả KH&CN trên tổng doanh thu của doanh nghiệp trong năm thứ nhất đạt từ 30% trở lên, năm thứ hai đạt từ 50% trở lên và từ năm thứ ba trở đi đạt từ 70% trở lên. Năm thứ nhất được hiểu là năm đầu tiên doanh nghiệp KH&CN có thu nhập chịu thuế.

Thứ ba, ưu đãi về đất đai: Doanh nghiệp KH&CN được lựa chọn việc sử dụng đất theo một trong hai hình thức: Cho thuê đất và miễn tiền thuê đất; giao đất có thu tiền sử dụng đất và được miễn tiền sử dụng đất. Doanh nghiệp KH&CN chỉ được miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với diện tích đất sử dụng cho mục đích KH&CN. Doanh nghiệp KH&CN được ưu tiên thuê đất, cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Doanh nghiệp KH&CN được miễn lệ phí trước bạ khi đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà.

Thứ tư, ưu đãi về các tín dụng, quỹ đổi mới: Doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ để đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá được quỹ của Nhà nước trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tài trợ, cho vay với lãi suất ưu đãi, hỗ trợ lãi suất vay, bảo lãnh để vay vốn. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi ở mức cao nhất theo quy định của pháp luật về công nghệ cao. Doanh nghiệp ứng dụng công nghệ là kết quả của nhiệm vụ khoa học và công nghệ trong nước được hỗ trợ lãi suất vay vốn tại ngân hàng.

Được hưởng chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và các quỹ khác để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh.

Thứ năm, doanh nghiệp KH&CN được hưởng các dịch vụ tư vấn, đào tạo từ các cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp của Nhà nước không phải trả phí dịch vụ. Được ưu tiên sử dụng các trang thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học trong phòng thí nghiệm trọng điểm, cơ sở ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu KH&CN của Nhà nước. Được hưởng các hỗ trợ ưu đãi từ Quỹ phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia.

Ngoài ra, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức KH&CN, nhà khoa học liên kết với doanh nghiệp và tổ chức khác để xác định, thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ phục vụ yêu cầu đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá.

Ngoài ra, còn các chương trình hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN và tổ chức KH&CN công lập như: Các dự án hỗ trợ cơ sở ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, các dự án hỗ trợ ươm tạo doanh nghiệp KH&CN, các dự án hỗ trợ phát triển doanh nghiệp KH&CN.

3. Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp khoa học và công nghệ

3.1. Những tồn tại, bất cập trong quy định pháp luật và thực thi pháp luật

Thứ nhất, thiếu văn bản hướng dẫn Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013. Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đã bổ sung nhiều điều khoản, chế định mới đáp ứng giải quyết những vấn đề đã và đang phát sinh trong thực tế. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27/01/2014 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ 2013. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều 11, 12, 15, 25, 30, 32, 41, 43, 46 và một số vấn đề cần thiết khác của Luật Khoa học và Công nghệ. Các nội dung liên quan đến doanh nghiệp KH&CN chưa có hướng dẫn cụ thể.

Thứ hai, pháp luật về doanh nghiệp KH&CN tại Việt Nam chưa đồng bộ với các luật trong một số lĩnh vực có liên quan (ví dụ như Luật Đất đai), dẫn tới doanh nghiệp KH&CN chưa được hưởng các ưu đãi về quyền sử dụng đất (được thuê đất, cơ sở hạ tầng với mức giá thấp nhất theo khung giá của Nhà nước tại địa phương nơi doanh nghiệp KH&CN thuê, đặc biệt đối với các doanh nghiệp KH&CN nằm ngoài các khu công nghệ cao)[4].

Thứ ba, các quy định về chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN chưa đồng bộ, thiếu thống nhất với quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, dẫn đến việc khó thực thi, doanh nghiệp không thấy được những chính sách ưu đãi trong luật được cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật. Hơn nữa, các chính sách ưu đãi còn chưa hợp lý, như việc chưa xem xét chính sách ưu đãi thuế nhập khẩu của doanh nghiệp KH&CN đối với các hàng hóa phục vụ hoạt động kinh doanh chính.

Thứ tư, thủ tục đăng ký doanh nghiệp KH&CN rườm rà, phức tạp gây khó khăn cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp e ngại không muốn đăng ký. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền, phổ biến thông tin về ưu đãi tới doanh nghiệp chưa kịp thời, nên dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp chưa thực sự hiểu được quyền lợi khi trở thành doanh nghiệp KH&CN.

3.2. Thúc đẩy doanh nghiệp khoa học và công nghệ phát triển

Muốn thúc đẩy doanh nghiệp KH&CN phát triển, trước tiên phải tạo hành lang pháp lý, môi trường thuận lợi để doanh nghiệp có thể hoạt động hiệu quả mang lại lợi ích kinh tế cho bản thân doanh nghiệp và cho xã hội. Các thủ tục đăng ký phải được đơn giản hóa nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình đăng ký. Cụ thể như:

Một là, ban hành văn bản thay thế Nghị định số 80/2007/NĐ-CP và Nghị định số 96/2010/NĐ-CP để hướng dẫn chi tiết các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp KH&CN được quy định trong Luật Khoa học và Công nghệ năm năm 2013.

Hai là, quy định thống nhất về hình thức của các doanh nghiệp KH&CN được phép thành lập bao gồm những loại doanh nghiệp nào nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn khi quy định các loại hình doanh nghiệp KH&CN hiện nay, dẫn đến làm ảnh hưởng đến quyền của các chủ thể. Hơn nữa, quy định về các doanh nghiệp KH&CN cần phải đưa ra các trường hợp như: Thành lập doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp đã được thành lập, xin chuyển thành doanh nghiệp KH&CN nhằm mang tính bao quát trên thực tiễn.

Ba là, cần có cơ chế, chính sách hiệu quả, tạo sự gắn kết giữa các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp tiếp nhận các kết quả KH&CN mới để hình thành các doanh nghiệp KH&CN.

Bốn là, cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết về các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp KH&CN để dễ dàng được thực hiện. Cần đưa ra các trường hợp doanh nghiệp KH&CN được miễn, giảm, được hỗ trợ theo các chính sách ưu đãi cụ thể, có thế mới khuyến khích doanh nghiệp KH&CN phát triển.

Năm là, miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa là máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật tư chuyên dùng, trong nước chưa sản xuất được, tài liệu, sách báo, tạp chí khoa học chuyên dùng để sử dụng trực tiếp cho nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, phát triển hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp khoa học và công nghệ, đổi mới công nghệ.

Sáu là, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các chính sách ưu đãi đối với loại hình doanh nghiệp KH&CN. Xúc tiến thành lập câu lạc bộ doanh nghiệp KH&CN, nhằm tạo diễn đàn để các doanh nghiệp trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong quá trình sản xuất, kinh doanh, cùng nhau hợp tác phát triển.

Bản thân các doanh nghiệp KH&CN cần thiết phải thành lập chú trọng đến nghiên cứu và phát triển, tập trung đầu tư cơ sở vật chất - kỹ thuật, đào tạo nguồn nhân lực KH&CN, nâng cao năng lực nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao KH&CN phục vụ sản xuất và đời sống.

Hiện nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã bắt đầu đề án thương mại hóa công nghệ theo mô hình Thung lũng Silicon tại Việt Nam nhằm tạo ra hệ sinh thái gồm các doanh nghiệp khởi nghiệp, đây là cơ hội rất lớn để phát triển doanh nghiệp KH&CN ở Việt Nam. Tuy nhiên, cũng đòi hỏi doanh nghiệp KH&CN phải có sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường, mô hình, chiến lược kinh doanh khả thi và có đội ngũ cán bộ đủ năng lực thực hiện mô hình và chiến lược đó.

Nguyễn Văn Lâm

Viện Kinh tế và Quản lý, Đại học Bách khoa Hà Nội


[1] Điều 2 Nghị định số 96/2010/NĐ-CP ngày 20/9/2010 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 quy định cơ chế tự chịu trách nhiệm của tổ chức khoa học và công nghệ và Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN.

[2] Điều 1 Thông tư liên tịch số 17/2012/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 10/9/2012 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 06/2008/TTLT-BKHCN-BTC-BNV ngày 18/6/2008 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 của Chính phủ về doanh nghiệp KH&CN.

[3]Nguyễn Vân Anh, Nguyễn Hồng Hà, Lê Vũ Toàn (2014), Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam: Thực trạng và giải pháp phát triển, Tạp chí Chính sách và quản lý khoa học và công nghệ, tập 3, số 3.

[4] Minh Hương, Doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Thực trạng và giải pháp, xem thêm tại http://www.mof.gov.vn, ngày 08/01/2016.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Xây dựng hành lang pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền

Ngày 10/12/2025, tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15, thay thế Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 với các quy định nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tổ chức bảo hiểm tiền gửi nâng cao năng lực tài chính và tham gia hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại tổ chức tín dụng, qua đó bảo vệ tốt hơn quyền lợi người gửi tiền, bảo đảm duy trì sự ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội theo định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi và Chiến lược ngành ngân hàng. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026.
Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Việc lập và nộp hồ sơ ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH), đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là thủ tục bắt buộc, bảo đảm tính chặt chẽ, minh bạch và khách quan trong quá trình lựa chọn những người tiêu biểu tham gia cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Căn cứ Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành mẫu biểu, hướng dẫn và quy trình tiếp nhận hồ sơ, tạo điều kiện để người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử thực hiện quyền chính trị - pháp lý đúng quy định.
Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:

Theo dõi chúng tôi trên: