Thứ bảy 12/09/2026 05:26
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới chính sách tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp thuộc trung ương đoàn

Công tác tuyển dụng viên chức là một nhiệm vụ rất quan trọng, cần xem xét và sàng lọc chất lượng một cách toàn diện để lựa chọn được những người có đủ năng lực, khả năng thực hiện công việc theo yêu cầu hiện tại và có khả năng đáp ứng được sự phát triển của tổ chức.

Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn là viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn. Đội ngũ viên chức này là nguồn lực chủ yếu, trực tiếp nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng những vấn đề cơ bản liên quan đến công tác thanh niên, công tác xã hội, giáo dục về đạo đức, lối sống cho giới trẻ, cung cấp luận cứ khoa học cho Đoàn và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với các lĩnh vực hoạt động đa dạng như vậy đòi hỏi phải có chính sách tuyển dụng phù hợp. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách tuyển dụng như hiện nay là rất khó thu hút người có tài năng vào làm việc. Bài viết này điểm lại thực trạng và đề xuất kiến nghị về chính sách tuyển dụng cho viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn.

Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn là viên chức được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn. Đội ngũ viên chức này là nguồn lực chủ yếu, trực tiếp nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng những vấn đề cơ bản liên quan đến công tác thanh niên, công tác xã hội, giáo dục về đạo đức, lối sống cho giới trẻ… cung cấp luận cứ khoa học cho Đoàn và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển nhanh và bền vững đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do các lĩnh vực hoạt động của viên chức trong đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn đa dạng, đòi hỏi phải có chính sách tuyển dụng phù hợp. Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách tuyển dụng như hiện nay là rất khó thu hút người có tài năng vào làm việc. Bài viết này điểm lại thực trạng và đề xuất kiến nghị về chính sách tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn.

1. Thực trạng chính sách tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn

Đổi mới chính sách tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn đã được bàn từ nhiều năm năm nay. Kể từ năm 2010 khi Luật Viên chức được ban hành đã đưa ra các quy định cụ thể và khắc phục những hạn chế trước đó về tuyển dụng và sử dụng viên chức, các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn đã áp dụng Nghị định số 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức và Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25/12/2012 của Bộ Nội vụ về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức. Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện theo cả 2 hình thức thi tuyển và xét tuyển. Hiện nay, việc tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn vẫn chủ yếu do cơ quan quản lý thuộc Trung ương Đoàn thực hiện mà chưa có sự phân cấp mạnh mẽ như quy định về trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Hàng năm, các đơn vị sự nghiệp đăng ký nhu cầu tuyển dụng trên cơ sở cân đối chỉ tiêu biên chế được định biên hoặc đề xuất biên chế mới về cơ quan chủ quản (Trung ương Đoàn) để tổng hợp và tổ chức thi tuyển chung. Việc xét tuyển chỉ được áp dụng đối với viên chức có trình độ chuyên môn cao (có học hàm, học vị) hoặc viên chức vùng khó khăn (vùng miền núi, hải đảo), nhưng cũng do đơn vị chủ quản thành lập hội đồng xét tuyển. Điều này trên thực tế đã cho thấy việc áp dụng pháp luật quy định về trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ công lập tại các bộ, ngành chưa triệt để. Tuy nhiên, để tình trạng như vậy tồn tại cũng một phần do cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật hiện nay còn nhiều bất cập, vướng mắc, thiếu đồng bộ, cần được tháo gỡ ngay từ chính các cơ quan Trung ương Đoàn và Bộ Nội vụ để việc áp dụng và thực hiện quy định tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thực chất hơn.

Việc tuyển dụng viên chức được thực hiện theo các quy định chung, nhưng cũng có nơi áp dụng cả các quy định riêng trong quá trình tuyển dụng viên chức cho phù hợp với đặc điểm tình hình của từng loại đơn vị như xuất bản, báo chí, đào tạo, hoặc ở các trung tâm. Nhìn chung, việc tổ chức thi tuyển và xét tuyển đều được thực hiện theo đúng quy định. Công tác chuẩn bị, ôn tập, ra đề, coi thi, chấm thi đã được tổ chức chu đáo, an toàn, nghiêm túc, đảm bảo chính xác, công bằng cho mọi đối tượng tham gia dự tuyển. Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức xét tuyển, các Hội đồng tuyển dụng của các đơn vị sự nghiệp công lập đều tổ chức phỏng vấn, tìm hiểu thêm về tác phong, kỹ năng giao tiếp, hiểu biết xã hội, ứng xử thực tế để có thêm căn cứ khi xem xét, lựa chọn ứng viên. Các chính sách ưu tiên cũng đã được các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định của pháp luật. Việc thực hiện chính sách ưu tiên trong tuyển dụng là rất phù hợp và cần thiết, đặc biệt là các trường hợp dân tộc ít người, con gia đình chính sách... Với những người có năng khiếu, tài năng phù hợp với các công việc đặc thù của các ngành nghề thuộc lĩnh vực chuyên môn liên quan cũng cần có những chính sách ưu đãi, đặc cách trong tuyển dụng để thu hút người tài vào làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Với những chính sách ưu tiên theo quy định, việc lựa chọn đội ngũ viên chức có năng lực chuyên môn, có thực tài... cũng được đảm bảo hơn. Ngoài việc tuân thủ các quy định, chính sách chung của Nhà nước, một số cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập đã thực hiện một số cơ chế riêng trong tuyển dụng viên chức như: Thực hiện tuyển dụng đặc cách đối với những người có trình độ tiến sĩ kinh tế và thạc sĩ; tuyển dụng viên chức bằng cách đánh giá năng lực thông qua phỏng vấn và giao việc; yêu cầu có thời gian thử việc hoặc cộng tác với đơn vị sự nghiệp công lập, qua đó lãnh đạo đơn vị sự nghiệp công lập có thể đánh giá được trình độ thực tế, năng lực và con người trước khi chính thức làm các thủ tục đề nghị cơ quan chủ quản xét tuyển. Về mục tiêu tuyển dụng viên chức là nhằm phục vụ cho nhu cầu công việc ở mỗi cơ quan và phần lớn viên chức được tuyển dụng đã đáp ứng được các yêu cầu công việc đặt ra, đảm bảo theo đúng yêu cầu với từng vị trí việc làm cần tuyển. Tuy nhiên, việc tuyển dụng còn gặp nhiều khó khăn do những nguyên nhân như sau:

- Chưa xây dựng được tiêu chuẩn chức danh gắn với các vị trí việc làm nên chưa có tiêu chí ổn định để thực hiện công tác tuyển dụng.

- Việc tuyển dụng viên chức ở một vài đơn vị sự nghiệp công lập không được thực hiện thường xuyên, còn sử dụng nhiều lao động hợp đồng trong thời gian dài, ảnh hưởng đến các khâu khác của công tác cán bộ (như đào tạo, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ...). Có một số đơn vị sự nghiệp công lập đã được phê duyệt để thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập, người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền chủ động trong sử dụng biên chế và tuyển dụng viên chức, tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, công tác tuyển dụng ở các đơn vị sự nghiệp công lập này chưa được thực hiện thường xuyên, ảnh hường đến quyền lợi của người lao động.

- Chưa thu hút được người có thực tài, đội ngũ viên chức được tuyển dụng chưa phát huy năng lực. Đặc biệt trong công tác nghiên cứu khoa học, thời gian phải từ 5 - 10 năm mới có thể đánh giá là người tuyển dụng có làm công tác nghiên cứu được không. Có những trường hợp đủ bằng cấp, điểm thi cao nhưng khi vào làm việc thì vẫn không đạt yêu cầu. Vấn đề sau tuyển dụng chưa được đảm bảo.

- Các cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập vẫn chưa được giao tự chủ trong việc thi tuyển viên chức nên việc tổ chức thi tuyển còn gặp khó khăn.

2. Một số kiến nghị hoàn thiện chính sách tuyển dụng viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Trung ương Đoàn

Thứ nhất, cần quy định chi tiết về vấn đề tuyển dụng trong Luật Viên chức, trên cơ sở đó đặt ra những tiêu chí trong việc xếp loại đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ. Với những đơn vị chưa được giao quyền tự chủ hoặc tự chủ một phần, cần sử dụng phần lớn ngân sách trong hoạt động thì phải tổ chức thi tuyển viên chức, việc đánh giá kết quả thi tuyển được thực hiện bởi một hội đồng độc lập nhằm đảm bảo sự khách quan, công bằng, minh bạch. Đối với những đơn vị đã giao quyền tự chủ được tự tổ chức xét tuyển nhưng phải có cơ chế kiểm soát nội bộ từ phía Hội đồng quản lý đối với hoạt động này. Tuy nhiên, việc lập kế hoạch tuyển dụng, xây dựng tiêu chí tuyển dụng cũng như việc xét tuyển cần phải có sự tham gia trực tiếp của người đứng đầu nhằm phù hợp với đặc thù tổ chức cũng như nhu cầu của chính cơ quan.

Thứ hai, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện và đi vào thực thi, áp dụng các văn bản quy định về vị trí việc làm của viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Hệ thống chức danh nghề nghiệp và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phải được xây dựng một cách khoa học dựa trên yêu cầu về chuyên môn, năng lực của viên chức chứ không phải sự thay đổi tên gọi của ngạch viên chức hiện nay. Khi xây dựng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cần phải lấy ý kiến của những cơ sở đào tạo về chuyên môn và đơn vị sử dụng viên chức để những quy định này phù hợp với thực tế. Người đứng đầu cần nắm bắt rõ nội dung quy định chức danh, vị trí của từng loại viên chức hoạt động trong cơ quan, đơn vị nhằm thực hiện quyền và trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát một cách hiệu quả, hợp lý.

Thứ ba, cần trao quyền chủ động cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong tuyển dụng viên chức, khuyến khích họ có chính sách thu hút các “nhân tài tiềm năng”. Việc thông báo tuyển dụng cũng có thể được sử dụng bằng nhiều hình thức như thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, bảng tin của các cơ sở giáo dục, website của cơ quan, website tìm kiếm việc làm hay sự giới thiệu từ các chuyên gia.

Thứ tư, xây dựng mới quy định về thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức Trung ương Đoàn cần phải được tiến hành song song với xây dựng Bộ tiêu chuẩn nghiệp vụ các chức danh. Trong đó, quy định cụ thể, rõ ràng các điều kiện và tiêu chuẩn dự thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với từng loại viên chức. Việc thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp của viên chức được thực hiện căn cứ vào số lượng vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo các chức danh của đơn vị sự nghiệp. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất để viên chức được thi hoặc xét thăng hạng lại nằm ở tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành và hiệu quả công việc. Điều này rất khó để có thể định lượng đối với tất cả các loại viên chức và áp dụng chung đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp. Do đó, khi xem xét xây dựng Bộ tiêu chí, cần tính đến việc đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệ công lập trong việc đánh giá viên chức hàng năm. Kết quả đánh giá viên chức hàng năm sẽ là một căn cứ quan trọng trong việc xem xét quyết định để viên chức tham gia thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp.

Thứ năm, ban hành các quy định về chính sách đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; chú trọng xây dựng và hoàn thiện các quy định về công tác đào tạo, bồi dưỡng, đặc biệt chú trọng tự đào tạo theo nhu cầu của viên chức. Chương trình đào tạo, bồi dưỡng viên chức cần bố trí gắn với chức danh và công việc, tránh áp dụng những chương trình chung chung cho mọi viên chức. Với đặc thù của các đơn vị sự nghiệp thuộc Trung ương Đoàn là hoạt động nghiên cứu đào tạo, xuất bản, báo chí, khoa học, công nghệ nên việc đào tạo, bồi dưỡng là nhu cầu tự thân của mỗi viên chức trên bước đường sự nghiệp, nếu có sự định hướng và hỗ trợ của cơ quan thì kết quả đạt được sẽ rất thực chất, không rơi vào tình trạng đào tạo, bồi dưỡng chung chung hay tham gia đào tạo chỉ vì bằng cấp.

Để nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng viên chức đáp ứng ngay được nhu cầu công việc thì ngoài việc áp dụng hình thức thi tuyển cần ưu tiên tuyển dụng những người làm hợp đồng, hoặc có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực cần tuyển dụng từ 5 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng. Cần đổi mới cơ chế phối hợp giữa hội đồng tuyển dụng với thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trong quá trình tổ chức thực hiện tuyển dụng viên chức được chặt chẽ để công tác chuẩn bị, ôn tập, ra đề, coi thi, chấm thi được tổ chức chu đáo, an toàn, nghiêm túc, đảm bảo chính xác, công bằng cho mọi đối tượng tham gia dự tuyển và lựa chọn viên chức thực hiện công việc đúng với khả năng, trình độ, sở trường.

Công tác tuyển dụng viên chức là một nhiệm vụ rất quan trọng, cần xem xét và sàng lọc chất lượng của đội ngũ viên chức, không nên dựa vào xét bằng giỏi vì trong một vài năm qua thực tế số lượng viên chức có bằng giỏi đa phần được đào tạo tại các trường tư nhân, nhưng chất lượng lại rất thấp. Chọn được người có đủ năng lực, khả năng thực hiện công việc theo yêu cầu hiện tại và có khả năng đáp ứng được sự phát triển của tổ chức. Phải xây dựng cơ chế tuyển dụng viên chức theo vị trí việc làm; xây dựng hệ thống bản mô tả công việc phù hợp với từng vị trí việc làm của cơ quan, đổi mới nội dung và cách thức xét tuyển viên chức.

ThS. Hoàng Minh Tuấn

Học viện Thanh Thiếu niên Việt Nam

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.

Theo dõi chúng tôi trên: