Chủ nhật 01/03/2026 09:33
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đổi mới công tác lý lịch tư pháp trong giai đoạn hiện nay

Bài viết phân tích những kết quả đạt được trong công tác lý lịch tư pháp thời gian qua; từ đó, đề xuất giải pháp đổi mới công tác lý lịch tư pháp trong giai đoạn mới.

Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 ra đời đã đặt nền móng pháp lý quan trọng cho việc xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu lý lịch tư pháp (LLTP). Trong những năm qua, công tác LLTP đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trước chủ trương đổi mới hệ thống tổ chức, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng Chính phủ điện tử, công tác LLTP cũng cần đổi mới để phù hợp với yêu cầu trong giai đoạn hiện nay.

1. Kết quả đạt được trong công tác lý lịch tư pháp thời gian qua

Thứ nhất, về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực LLTP:

- Công tác xây dựng văn bản, đề án: Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, từ năm 2011 đến nay, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tham mưu cho các cơ quan có thẩm quyền ban hành và ban hành theo thẩm quyền 09 văn bản hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 (01 thông tư liên tịch, 04 thông tư, 03 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 01 chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp). Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chủ trì, phối hợp các bộ, ngành có liên quan xây dựng một số văn bản quy phạm pháp luật về LLTP như Nghị định sửa đổi Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp...

- Thực hiện kiểm tra, tham gia thanh tra công tác LLTP đối với các Sở Tư pháp: Hằng năm, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tham mưu cho Lãnh đạo Bộ Tư pháp ban hành các kế hoạch kiểm tra, kiểm tra liên ngành tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 tại các địa phương. Tính đến thời điểm hiện tại, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã phối hợp với các đơn vị thuộc Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng tổ chức 17 đoàn kiểm tra liên ngành tình hình thực hiện Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 tại 33 tỉnh, thành phố. Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về LLTP tại 35 Sở Tư pháp. Thông qua kiểm tra, những vấn đề còn tồn tại của các Sở Tư pháp đã được Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia kịp thời đưa ra phương án khắc phục. Đồng thời, nhiều vấn đề khó khăn, vướng mắc của cán bộ làm công tác LLTP tại Sở Tư pháp cũng đã được Trung tâm hướng dẫn kịp thời. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã nhân rộng những cách làm hay, những điển hình tiên tiến để các Sở Tư pháp khác nghiên cứu tham khảo kinh nghiệm.

- Triển khai việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xây dựng cơ sở dữ liệu và quản lý LLTP: Ngay từ những ngày đầu Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 được triển khai thực hiện, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác LLTP đã được Bộ Tư pháp quan tâm, chú trọng. Từ năm 2012, Bộ Tư pháp đã triển khai thực hiện Phần mềm quản lý LLTP dùng chung cho các Sở Tư pháp và phiên bản cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Cho đến nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã sử dụng các phần mềm này để hỗ trợ cho công tác xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu và cấp Phiếu LLTP, về cơ bản, đã đáp ứng các yêu cầu của công tác này.

Từ tháng 5/2015, Bộ Tư pháp đã triển khai sử dụng phân hệ trao đổi thông tin LLTP điện tử giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp nhằm từng bước thay thế việc gửi thông tin LLTP bằng văn bản giấy và hạn chế tối đa việc thông tin phải nhập lại nhiều lần. Đến nay, đã có khoảng 1,5 triệu thông tin điện tử được thực hiện trao đổi, cung cấp từ các Sở Tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Bên cạnh đó, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cũng đã chủ động nghiên cứu, xây dựng những giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin khác vào hoạt động cấp Phiếu LLTP như giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác phối hợp tra cứu, xác minh để cấp Phiếu LLTP.

- Công tác đào tạo, tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực LLTP cũng đã được Bộ Tư pháp quan tâm, chú trọng. Bên cạnh đó, đối với những việc phát sinh trong công tác LLTP như triển khai thực hiện Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 09/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu LLTP tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp (Chỉ thị số 23/CT-TTg) và thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030, hiện nay, Bộ Tư pháp cũng đang phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành có liên quan thực hiện đúng tiến độ được giao.

Thứ hai, về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP:

Thực hiện nhiệm vụ được giao, tính đến ngày 31/12/2023, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đã tiếp nhận 4.878.536 thông tin từ các cơ quan như Tòa án, Viện kiểm sát, thi hành án dân sự... Trên cơ sở thông tin nhận được, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đã tiến hành xử lý, tích hợp vào cơ sở dữ liệu 2.529.637 thông tin, tạo lập 1.163.238 LLTP của người bị kết án; Sở Tư pháp đã thực hiện lập 1.156.735 LLTP của người bị kết án với tổng số 4.962.950 thông tin được xử lý; cung cấp 1.026.518 thông tin cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp khác.

Định kỳ theo quy định, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp phối hợp với các cơ quan cung cấp thông tin thực hiện rà soát thông tin LLTP để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP theo quy định của pháp luật, bảo đảm thông tin được cung cấp, tiếp nhận đầy đủ, kịp thời.

Thứ ba, về công tác cấp Phiếu LLTP: Trên cơ sở quy định pháp luật, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ cấp Phiếu LLTP theo đúng chức trách, nhiệm vụ được giao. Tính đến ngày 31/12/2023, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp đã cấp 3.771.695 Phiếu LLTP, trong đó, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia cấp 33.626 Phiếu LLTP, Sở Tư pháp cấp 3.738.069 Phiếu LLTP.

2. Một số hạn chế, bất cập trong công tác lý lịch tư pháp

Thứ nhất, về công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực LLTP:

Theo Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 và Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trong phạm vi cả nước. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của công tác LLTP theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, ngày 28/12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2369/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Xây dựng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và kiện toàn tổ chức thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP”. Trên cơ sở đó, ngày 26/01/2011, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 97/QĐ-BTP (hiện nay là Quyết định số 1116/QĐ-BTP ngày 26/6/2023) quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia. Theo đó, bên cạnh nhiệm vụ xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP theo thẩm quyền, để thống nhất và tạo thuận lợi trong công tác quản lý LLTP, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã giao Trung tâm thực hiện thêm một số nhiệm vụ quản lý nhà nước trong lĩnh vực LLTP. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 23 Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ thì “đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Bộ không có chức năng quản lý nhà nước”.

Do tính chất đặc thù của công tác quản lý LLTP là tích hợp thông tin về án tích từ các cơ quan tiến hành tố tụng nên hoạt động phối hợp giữa cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và các cơ quan hữu quan có tầm quan trọng đặc biệt. Trong khi đó, do là đơn vị sự nghiệp nên Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia còn gặp nhiều khó khăn trong quan hệ phối hợp với các cơ quan nhà nước liên quan đến việc quản lý LLTP, nhất là khi đa phần các cơ quan này là cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả của công tác quản lý, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra hoạt động LLTP đối với các địa phương, khi mà Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia được xác định rõ là đơn vị sự nghiệp và các cán bộ của Trung tâm chỉ có tư cách là viên chức để thực thi các nhiệm vụ quản lý LLTP do Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao, còn tại các Sở Tư pháp, đội ngũ cán bộ làm công tác LLTP tại Phòng Hành chính - tư pháp hoặc Phòng Lý lịch tư pháp của Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được xác định là công chức.

Thứ hai, về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP:

- Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp đã được quan tâm, chú trọng, tuy nhiên, tại một số Sở Tư pháp vẫn còn tình trạng tồn đọng thông tin, thông tin xử lý chưa kịp thời. Việc cung cấp thông tin của các cơ quan cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp chủ yếu bằng văn bản giấy và qua đường bưu điện nên không tránh khỏi chậm trễ và thất lạc. Một số Sở Tư pháp chưa tuân thủ triệt để quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP để xử lý thông tin do các cơ quan cung cấp, như: Bỏ qua khâu tiếp nhận thông tin mà thực hiện luôn việc lập LLTP và cập nhật thông tin LLTP bổ sung, dẫn đến khó khăn trong việc thống kê, báo cáo, phối hợp rà soát thông tin, đặc biệt là việc kiểm tra, kiểm soát thông tin LLTP đầu vào. Dữ liệu được Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp tạo lập chưa đầy đủ, còn có sai sót và chưa bảo đảm sự đồng nhất về số lượng thông tin, cũng như dữ liệu được tạo lập giữa cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp.

- Quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin LLTP tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đang được thực hiện theo Quyết định số 42/QĐ-TTLLTPQG ngày 24/6/2014 của Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia ban hành Quy chế về quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm. Việc thực hiện Quy chế này trong bối cảnh hiện nay đã bộc lộ những bất cập, hạn chế nhất định. Việc tiếp nhận, xử lý thông tin còn qua nhiều khâu trung gian tại các phòng đã dẫn tới thông tin tồn đọng chưa được xử lý kịp thời.

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, mô hình cơ sở dữ liệu LLTP là mô hình hai cấp, bao gồm cơ sở dữ liệu tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và cơ sở dữ liệu tại Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Cùng với đó, Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cũng quy định, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia được quyền khai thác cơ sở dữ liệu LLTP của Trung tâm; Sở Tư pháp có quyền khai thác cơ sở dữ liệu LLTP của Sở Tư pháp; trường hợp công dân cư trú tại nhiều nơi thì Sở Tư pháp gửi yêu cầu lên Trung tâm. Việc không được quyền chủ động trong khai thác cơ sở dữ liệu LLTP và phải qua nhiều tầng, nấc là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự chậm trễ trong cấp Phiếu LLTP.

Thứ ba, về công tác cấp Phiếu LLTP:

- Theo thống kê, trong năm 2023, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và 63 Sở Tư pháp đã cấp 1.158.575 Phiếu LLTP (tăng 13% so với cùng kỳ năm 2022). Một số địa phương có nhu cầu cấp Phiếu LLTP tăng rất cao như Thành phố Hà Nội (tăng 150%), tỉnh Bình Định (tăng 33%), tỉnh Quảng Ninh (tăng 30%)... Trong bối cảnh nguồn nhân lực, trang thiết bị, cơ sở vật chất của Sở Tư pháp còn hạn chế thì việc tiếp nhận một số lượng lớn hồ sơ đã gây tình trạng quá tải cho bộ phận làm công tác LLTP tại các địa phương. Vì vậy, trong thời gian vừa qua, có thời điểm người dân phải xếp hàng từ rất sớm để nộp hồ sơ yêu cầu cấp Phiếu LLTP. Đây cũng là điểm bất cập trong công tác cấp Phiếu LLTP được dư luận quan tâm thời gian qua.

- Pháp luật về LLTP chưa quy định cụ thể, rõ ràng về phương thức cấp Phiếu LLTP: Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 chưa có quy định về việc thực hiện các phương thức cấp Phiếu LLTP mà chỉ có quy định chung về thủ tục yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 1 (Điều 45), thủ tục yêu cầu cấp Phiếu LLTP số 2 (Điều 46). Các quy định này chỉ phù hợp với việc yêu cầu cấp Phiếu LLTP trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu LLTP. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi Chính phủ đang đẩy mạnh cải cách hành chính, hàng loạt văn bản về cải cách thủ tục hành chính ra đời, trong đó, Chính phủ đã đưa ra nhiều phương thức giải quyết thủ tục hành chính mới như qua dịch vụ bưu chính (Quyết định số 45/2016/QĐ-TTg ngày 19/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ ban hành về việc tiếp nhận hồ sơ yêu cầu, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích); qua trực tuyến (Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính (Nghị định số 61/2018/NĐ-CP); Nghị định số 45/2020/NĐ-CP ngày 08/4/2020 của Chính phủ về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 06/12/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 61/2018/NĐ-CP (Nghị định số 107/2021/NĐ-CP))… Để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra, công tác cấp Phiếu LLTP hiện nay đang phải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên, do chưa có quy định về các phương thức cấp Phiếu LLTP, quy trình, trình tự, thủ tục thực hiện của các phương thức nên cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu LLTP cũng gặp nhiều khó khăn khi giải quyết.

- Hiện nay, Nghị định số 61/2018/NĐ-CP, Nghị định số 107/2021/NĐ-CP đã có quy định về kết quả giải quyết thủ tục hành chính bản điện tử nói chung. Tuy nhiên, pháp luật chuyên ngành về LLTP chưa có quy định cụ thể về Phiếu LLTP điện tử, vì vậy, các Sở Tư pháp chưa có căn cứ để cấp Phiếu LLTP điện tử cho công dân.

- Theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp năm 2009, cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp Phiếu phục vụ mục đích tiến hành tố tụng, quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, hiện nay, do nhận thức của một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân về Phiếu LLTP và pháp luật về LLTP chưa đầy đủ nên các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chưa chủ động thực hiện quyền yêu cầu cấp Phiếu LLTP theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 mà chủ yếu yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người dân phải nộp Phiếu LLTP.

Bên cạnh đó, một trong những nguyên nhân dẫn tới nhu cầu cấp Phiếu LLTP gia tăng trong thời gian qua, đó chính là một số tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân còn lạm dụng yêu cầu cung cấp Phiếu LLTP làm cơ sở tuyển dụng, quản lý, sử dụng lao động. Việc yêu cầu người lao động cung cấp Phiếu LLTP, trong đó có các thông tin về án tích có thể dẫn đến việc phân biệt đối xử trong quan hệ lao động. Chẳng hạn, từ thông tin có được, doanh nghiệp chỉ tuyển dụng người lao động không có án tích. Đây là “rào cản” cho cá nhân đã từng phạm tội tái hòa nhập cộng đồng, làm mất đi ý nghĩa nhân văn của chính sách pháp luật hình sự của Nhà nước ta.

3. Giải pháp đổi mới công tác lý lịch tư pháp trong giai đoạn mới

Thứ nhất, đổi mới cơ cấu tổ chức của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Để bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước, phù hợp với nguyên tắc quản lý hành chính là một công việc không giao cho nhiều đầu mối thực hiện, cần sửa đổi quy định của Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 về tên gọi Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia theo hướng đổi thành cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và dự kiến sẽ có cơ cấu tổ chức theo mô hình Cục Quản lý lý lịch tư pháp. Việc chuyển đổi mô hình tổ chức từ Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - là đơn vị sự nghiệp công lập sang Cục Quản lý lý lịch tư pháp là đơn vị quản lý nhà nước về LLTP sẽ không tạo ra tổ chức mới, không phát sinh biên chế mới nhưng lại tạo điều kiện bảo đảm thống nhất, thông suốt trong thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về LLTP, cũng như xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác cơ sở dữ liệu LLTP; chấm dứt tình trạng Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia - là đơn vị sự nghiệp công lập nhưng lại có chức năng quản lý nhà nước về LLTP. Đây cũng là kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn nhiều năm qua trong việc tổ chức quản lý và hoạt động của một số cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ tương tự, như Cục Hồ sơ nghiệp vụ cảnh sát, Cục Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội thuộc Bộ Công an.

Do đó, để thực hiện đúng chức năng đã được quy định trong Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 và các chức năng khác do Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao, cần phải thay đổi chế định mô hình quản lý nhà nước về LLTP của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia từ một đơn vị sự nghiệp công lập thành Cục Quản lý lý lịch tư pháp. Theo đó, tại địa phương, Sở Tư pháp vẫn là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các chức năng, nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về LLTP; tiếp nhận thông tin LLTP và chuyển giao qua đường điện tử cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP và cấp Phiếu LLTP cho mọi đối tượng có yêu cầu. Tại trung ương, Cục Quản lý lý lịch tư pháp là đơn vị thuộc Bộ Tư pháp, tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về LLTP; có chức năng xây dựng, quản lý, vận hành và khai thác cơ sở dữ liệu LLTP trong phạm vi cả nước. Cục có tư cách pháp nhân, có trụ sở tại Hà Nội, có con dấu và tài khoản riêng tại Nhà nước theo quy định của pháp luật. Có như vậy, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (sau này là Cục Quản lý lý lịch tư pháp) mới có thể dễ dàng phối hợp làm việc với các cơ quan hữu quan khác, qua đó, công tác quản lý LLTP mới được thực hiện thực sự triệt để và hiệu quả.

Thứ hai, cần chú trọng hơn nữa công tác xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối, chia sẻ cơ sở dữ liệu LLTP với các cơ sở dữ liệu chuyên ngành.

Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP cần được quan tâm, chú trọng hơn nữa trong thời gian tới. Việc xử lý thông tin tại các Sở Tư pháp phải được bảo đảm nhanh chóng, kịp thời để phục vụ công tác cấp Phiếu LLTP chính xác. Quy định về cơ chế, chế tài để bảo đảm cơ quan có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ cung cấp thông tin LLTP, bảo đảm cá nhân, cơ quan có trách nhiệm xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP.

Quy trình xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp cần được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tế. Đối với Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, việc xử lý thông tin theo hướng giảm các khâu trung gian tại các phòng bảo đảm thông tin được xử lý nhanh chóng, kịp thời. Ngoài ra, để bảo đảm chất lượng cơ sở dữ liệu LLTP cũng cần có quy định về thời hạn, cũng như tiêu chí cụ thể của từng khâu trong quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu.

Cần thiết lập đồng bộ hệ thống cung cấp, trao đổi thông tin LLTP giữa các cơ quan có nhiệm vụ cung cấp thông tin và cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trên môi trường mạng, hướng tới thông tin LLTP được chính thức trao đổi giữa Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, các Sở Tư pháp và các cơ quan có liên quan được thực hiện dưới dạng điện tử và thực hiện kết nối, chia sẻ thông tin giữa cơ sở dữ liệu LLTP với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác có liên quan, tạo tiền đề cho kết nối liên thông một cửa quốc gia.

Thứ ba, thực hiện phân quyền cho Sở Tư pháp chủ động tra cứu tại cơ sở dữ liệu LLTP của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

Để tăng sự chủ động của Sở Tư pháp trong khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu LLTP phục vụ công tác cấp Phiếu LLTP, tại Chỉ thị số 23/CT-TTg đã yêu cầu Bộ Tư pháp “phân quyền cho Sở Tư pháp khai thác, tra cứu cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia để phục vụ cấp Phiếu LLTP nhằm tăng tính chủ động, chịu trách nhiệm, giảm thời gian, chi phí thực hiện”. Hiện nay, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia đang phối hợp với Cục Công nghệ thông tin, Bộ Tư pháp mở tính năng phân quyền cho Sở Tư pháp thí điểm khai thác, tra cứu thông tin tại cơ sở dữ liệu của Trung tâm, trên cơ sở đó, thực hiện phân quyền. Đồng thời, việc phân quyền cho Sở Tư pháp thực hiện khai thác, tra cứu cơ sở dữ liệu LLTP tại Trung tâm cũng cần được thể chế hóa tại văn bản quy phạm pháp luật.

Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu LLTP, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp.

Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, đặc biệt, trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp phát huy dân chủ và thực hiện công bằng xã hội, tổ chức và hoạt động LLTP ở nước ta có nhiều thời cơ, vận hội với những những bước phát triển mới. Do đó, để tạo thuận lợi nhất cho người dân và cơ quan, tổ chức có nhu cầu xin cấp Phiếu LLTP, cần có những quy định và hướng dẫn cho người dân về các phương thức yêu cầu cấp Phiếu LLTP, cũng như giá trị sử dụng của Phiếu LLTP điện tử.

Ngoài ra, cần phải rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa quy định, thủ tục hành chính liên quan đến Phiếu LLTP trong các trường hợp không cần thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các doanh nghiệp, người sử dụng lao động về Phiếu LLTP, giá trị, mục đích sử dụng của Phiếu LLTP để hạn chế tối đa tình trạng tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân lạm dụng yêu cầu cấp Phiếu LLTP trong tuyển dụng, quản lý, sử dụng lao động./.

TS. Nguyễn Văn Bốn

Giám đốc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp

(Nguồn: Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Kỳ 2 (Số 405), tháng 5/2024)

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.
Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Tiên phong xây dựng hệ sinh thái bảo quản thuốc thông minh - Khi công nghệ mang lại sự an tâm cho sức khỏe cộng đồng

Trong hành trình chăm sóc sức khỏe người dân, có một mắt xích âm thầm nhưng vô cùng quan trọng: bảo quản thuốc. Chất lượng của từng viên thuốc, từng lọ vaccine hay mỗi loại dược liệu đều phụ thuộc tuyệt đối vào môi trường chúng được gìn giữ. Chỉ một biến động nhỏ về nhiệt độ, độ ẩm hay ánh sáng cũng đủ ảnh hưởng đến hiệu lực điều trị và an toàn của sản phẩm.
EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

EVN - Bảo đảm an ninh năng lượng, hiện thực hóa Nghị quyết và yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp luật

Năng lượng không chỉ là “đầu vào” của sản xuất, mà còn là hạ tầng nền tảng quan trọng quyết định sức cạnh tranh quốc gia, chất lượng sống của người dân và năng lực tự chủ của nền kinh tế đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng cao, biến động nguồn cung nhiên liệu toàn cầu, áp lực chuyển dịch xanh và yêu cầu vận hành hệ thống an toàn, minh bạch, đặt ra bài toán lớn đối với ngành điện: vừa phải bảo đảm đủ điện cho phát triển nhanh và bền vững, vừa phải thiết kế lại cơ chế, chính sách để thu hút đầu tư, phát triển thị trường và tăng năng lực quản trị.
Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

Hương Việt Sinh tiên phong số hóa suất ăn học đường: Minh bạch nguồn gốc thực phẩm chỉ bằng một cú chạm

An toàn thực phẩm tại bếp ăn trường học luôn là nỗi trăn trở của các bậc phụ huynh và nhà quản lý giáo dục. Trước bài toán này, thay vì quản lý bằng giấy tờ, Công ty TNHH Hương Việt Sinh đã có bước đi tiên phong, xây dựng hệ sinh thái số, thiết lập tiêu chuẩn mới về sự minh bạch và an toàn trong lĩnh vực cung cấp suất ăn bán trú.
Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia - bước đi cấp bách trong giai đoạn tăng tốc phát triển

Trong giai đoạn đất nước chuyển mình mạnh mẽ, mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045 đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hệ thống năng lượng, đặc biệt là điện lực. Việc bảo đảm đủ điện cho sản xuất, kinh doanh và đời sống của Nhân dân không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là vấn đề an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, công tác điều chỉnh quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 (QHĐ VIII) nhận được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, các bộ ngành và cộng đồng doanh nghiệp.
LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

LILAMA bứt phá theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW: Từ doanh nghiệp lắp máy truyền thống đến lực lượng tiên phong làm chủ công nghệ

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước (Nghị quyết số 79-NQ/TW) được ban hành không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo, dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước, mà còn đặt ra yêu cầu cao hơn về hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng làm chủ công nghệ. Trong dòng chảy đó, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam - LILAMA đang cho thấy những nỗ lực rõ nét nhằm bứt phá, tái định vị từ một doanh nghiệp lắp máy truyền thống thành lực lượng tiên phong trong chế tạo, tổng thầu và làm chủ công nghệ công nghiệp - năng lượng.
Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Mô hình bệnh viện - dưỡng lão tích hợp: Giải pháp chăm sóc sức khỏe Nhân dân

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh, nhu cầu chăm sóc sức khỏe toàn diện và mô hình dưỡng lão chuyên nghiệp ngày càng trở nên cấp thiết. Sự kết hợp giữa y học cổ truyền với phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi được xem là hướng đi chiến lược, phù hợp với định hướng lớn của Đảng, Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.

Theo dõi chúng tôi trên: