Thứ năm 15/01/2026 09:37
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Đưa pháp luật đến với đồng bào dân tộc thiểu số - Những thuận lợi, khó khăn và giải pháp

Vùng dân tộc miền núi, vùng sâu, vùng xa nơi chủ yếu đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, là địa bàn còn nhiều khó khăn về sản xuất và đời sống vật chất, cơ sở hạ tầng thấp kém, đặc biệt là địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí và các lĩnh vực về phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, tiếp cận thông tin thị trường và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế, khoảng cách chênh lệch về thu nhập và mức sống thấp so với mặt bằng chung của cả nước.

1. Pháp luật với đồng bào dân tộc thiểu số
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số là một trong những nhiệm vụ quan trọng được các cấp, các ngành, các địa phương quan tâm thực hiện trong nhiều năm qua. Hiệu quả từ hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân, tạo môi trường thuận lợi để tăng gia, sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống, vươn lên xóa đói, giảm nghèo.

Trong những năm qua, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật của Chính phủ đã được triển khai theo từng giai đoạn cụ thể và có sự phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành và địa phương để tổ chức các hoạt động đề án và dự án như: Hội nghị, hội thảo, tập huấn kiến thức pháp luật, xây dựng câu lạc bộ pháp luật, thi tìm hiểu bằng hình thức sân khấu hóa… Nhờ chuẩn bị chu đáo từ khâu khảo sát để xác định nhu cầu liên quan đến công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục, xây dựng câu lạc bộ pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật, trợ giúp pháp lý lưu động…, các hoạt động đã đem lại hiệu quả thiết thực, tạo điều kiện cho người dân giải quyết những thắc mắc về pháp lý. Mặt khác, thông qua các hình thức trên, công tác tư vấn pháp luật, công tác tuyên truyền pháp luật còn những khó khăn, vướng mắc, nhu cầu tư vấn của người dân để kịp thời phản ánh với chính quyền các cấp có biện pháp khắc phục. Từ đó, người dân nâng cao tính chủ động, tích cực tự tìm hiểu pháp luật, tôn trọng và tự giác chấp hành pháp luật tại nơi mình sinh sống, làm việc.

Công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung và các chính sách dân tộc luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ban, ngành trong hệ thống chính trị đã triển khai tích cực qua rất nhiều kênh từ trung ương đến địa phương, thông qua các chương trình, kế hoạch, các đợt tổ chức tuyên truyền pháp luật hàng năm, tuyên truyền qua hệ thống báo chí, đài phát thanh, truyền hình, các tạp chí, tập san về công tác dân tộc, chính sách cấp báo, tạp chí không thu tiền cho vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo dân tộc thiểu số, các đề án tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua. Theo đó, về hệ thống thông tin truyền thanh công cộng ở mỗi địa phương, xây dựng các câu lạc bộ pháp luật ở xã như: Bình đẳng giới, phòng chống ma túy… và tổ chức các hình thức hoạt động thông qua các hội thi tìm hiểu pháp luật dành cho đồng bào dân tộc thiểu số với nội dung phong phú đa dạng được nhiều cấp, nhiều địa phương triển khai… qua đó, đã góp phần nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số, củng cố lòng tin của đồng bào các dân tộc vào Đảng, chính quyền, nâng cao ý thức chấp hành chính sách pháp luật của nhà nước, đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư, xây dựng nông thôn mới, tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật, học tập làm theo các gương sản xuất giỏi phấn đấu vươn lên xóa đói giảm nghèo... Trong thành quả đạt được, công tác tuyên truyền pháp luật cho đồng bào các dân tộc của một số tỉnh như: Lào Cai, Cao Bằng, Kiên Giang, Sóc Trăng… được xây dựng bằng nhiều hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật đều hướng về cơ sở, đưa thông tin đến với đồng bào dân tộc thiểu số thông qua nhiều hình thức như chương trình phát thanh tiếng dân tộc, các ấn phẩm, báo, tạp chí chuyên đề phản ánh về lĩnh vực công tác dân tộc miền núi, đưa các hoạt động trợ giúp pháp lý trực tiếp đến cơ sở phục vụ cho nhân dân, xây dựng các câu lạc bộ tuyên truyền pháp luật, tổ chức tốt các hội nghị dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ qua các giai đoạn từ 2012 - 2016.

Ủy ban Dân tộc đã chủ động phối hợp với các ban, bộ, ngành và địa phương liên quan tổ chức các hội thi bằng hình thức sân khấu hóa “Tìm hiểu pháp luật” tại các khu vực và các tỉnh thành từ năm 2009 - 2016. Đặc biệt, các năm 2014, 2015 đã phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nguyên và Ban chỉ đạo Tây Nam bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh trong khu vực để tổ chức hội thi “Tìm hiểu pháp luật” với đối tượng dự thi là tuyên truyền viên pháp luật; người dân nông thôn và đồng bào dân tộc thiểu số. Qua hội thi các địa phương đánh giá cao và mong muốn được tổ chức vào hàng năm tại mỗi vùng miền trên cả nước.

Ví dụ, công tác đưa pháp luật và tuyên truyền pháp luật về giao thông của Công an tỉnh Điện Biên: Tổ chức tại xã Sín Chải, huyện Tủa Chùa với nội dung tuyên truyền các kiến thức về Luật Giao thông đường bộ, đường thủy, những quy định bắt buộc đối với người và các phương tiện khi tham gia giao thông, về mức phạt dành cho từng hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông... Bên cạnh đó, người dân còn được xem những hình ảnh cụ thể về các tình huống pháp luật về hành vi vi phạm của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông, qua phóng sự, cổ động truyền hình, phóng sự ảnh phản ánh thực trạng giao thông hiện nay, cũng như các tình huống vi phạm của người điều khiển phương tiện khi tham gia giao thông như: Chở người quá quy định, điều khiển phương tiện không đội mũ bảo hiểm... Có thể nói, bằng những hình thức tuyên truyền trên đã giúp người dân tiếp thu kiến thức pháp luật được dễ dàng hơn. Anh Thào A Nủ, người dân xã Sín Chải, huyện Tủa Chùa cho biết: “Chúng tôi rất phấn khởi vì hôm nay được cán bộ cảnh sát giao thông đến tận xã trực tiếp truyền đạt cho bà con những kiến thức của luật giao thông, những hành vi vi phạm luật giao thông, hướng dẫn cách đội mũ bảo hiểm đúng cách. Giờ đây chúng tôi đã hiểu được tham giao thông thế nào để an toàn cho mình và cho cộng đồng; tham gia giao thông phải có đầy đủ các giấy tờ theo quy định, như đăng ký xe máy, bằng lái, bảo hiểm xe máy, phải đội mũ bảo hiểm khi tham giao thông. Chúng tôi sẽ chấp hành thật tốt và vận động bà con nhân dân cùng nhau chấp hành”.

2. Một số thuận lợi và khó khăn

2.1. Thuận lợi

- Trong những năm qua công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung và các chính sách dân tộc luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự phối hợp của các ban ngành trong hệ thống chính trị đã triển khai tích cực, kịp thời qua rất nhiều kênh từ trung ương đến địa phương, thông qua các chương trình, kế hoạch, các đợt tổ chức tuyên truyền pháp luật hàng năm, tuyên truyền qua hệ thống báo chí, đài phát thanh, truyền hình, các tạp chí, chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo dân tộc thiểu số.

- Sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất giữa Ủy ban Dân tộc với ban, bộ, ngành liên quan, các địa phương. Tạo sự đồng thuận cao trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện tại các địa phương trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho đối tượng cán bộ làm công tác dân tộc và đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng thường xuyên hơn, các hình thức được nâng cao, có hiệu quả, được người dân đồng tình, ủng hộ khi triển khai các nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên mỗi vùng miền và từng địa bàn.

2.2. Khó khăn

- Sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan còn thiếu tính đồng bộ và chưa thật sự chặt chẽ; các thành viên Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật đều hoạt động kiêm nhiệm, đa số là lãnh đạo của các sở, ban, ngành, địa phương trên địa bàn tỉnh, nên việc dành thời gian đầu tư cho hoạt động này chưa nhiều, chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm của mỗi thành viên trong thực hiện nhiệm vụ chung của Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, có nơi hầu như chỉ do cơ quan thường trực Hội đồng chủ động triển khai thực hiện, nhất là ở cấp huyện; ở một số địa phương, đơn vị, cấp ủy, chính quyền chưa thật sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho công tác này.

- Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật hầu hết đều kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ còn hạn chế và chưa đồng đều còn thiếu về kỹ năng truyền đạt, chưa am hiểu phong tục tập quán đồng bào và do bất đồng ngôn ngữ…, chế độ đãi ngộ lại quá thấp nên chưa thực sự tâm huyết trong thực hiện nhiệm vụ, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm trong việc làm đầu mối để chuyển tải pháp luật đến với người dân, các hình thức tổ chức tuyên truyền nhiều khi còn cứng nhắc, tài liệu cung cấp thông tin tuyên truyền nhiều nội dung chưa phù hợp với thực tế từng vùng, không thu hút được sự quan tâm của đồng bào, kinh phí cho công tác tuyên truyền còn hạn hẹp, điều kiện cơ sở vật chất như tủ sách pháp luật, nhà sinh hoạt văn hóa, hệ thống thông tin truyền thanh công cộng để người dân tiếp cận với các thông tin ở vùng khó khăn còn thiếu thốn và kém hiệu quả.

- Với đặc thù địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa, đường xá đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, lại có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sống rải rác trên một địa bàn rộng, trình độ dân trí còn thấp, tình trạng người dân không biết chữ, không thạo tiếng phổ thông ở địa bàn vùng sâu, vùng xa còn khá phổ biến, do ảnh hưởng của phong tục tập quán lạc hậu của đồng bào.

- Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật có lúc vẫn còn mang tính hình thức, nặng về phong trào; việc phổ biến hiện nay mới chỉ tập trung vào các luật và pháp lệnh, chưa thực sự chú trọng vào các văn bản hướng dẫn thi hành; có hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hay nhưng chưa được triển khai nhiều trên thực tế như tổ chức các phiên tòa xét xử lưu động kết hợp với phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân; các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật hiện đại chưa được sử dụng triệt để, đặc biệt là việc ứng dụng một cách có hiệu quả công nghệ thông tin vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; hình thức tuyên truyền đa dạng, nhưng quá trình tổ chức triển khai chưa đồng bộ, chưa được thường xuyên và rộng khắp, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

3. Những giải pháp trong thời gian tới

- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp trong công tác phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ công tác trọng tâm của cả hệ thống chính trị.

- Tăng cường xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ tuyên truyền đảm bảo về phẩm chất, năng lực chuyên môn, kỹ năng truyền đạt, am hiểu tâm lý tập quán của đồng bào, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ tuyên truyền là người địa phương thông thạo tiếng dân tộc của từng đồng bào các dân tộc.

- Đổi mới, đa dạng hóa nội dung, hình thức tuyên tuyền, phổ biến pháp luật, trong đó lựa chọn hình thức biên soạn tài liệu, cung cấp thông tin tập trung vào trọng tâm, ngắn gọn, người dân dễ hiểu, dễ nhớ khi tiếp cận với các nội dung chính sách, pháp luật, tăng cường nâng cao chất lượng công tác trợ giúp pháp lý, các câu lạc bộ Tuyên truyền pháp luật, các hoạt động đối thoại với nhân dân, sân khấu hóa công tác tuyên truyền qua các tiểu phẩm, hội thi tìm hiểu pháp luật, phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền trên các kênh thông tin đại chúng và cổng thông tin điện tử.

- Cần quan tâm bố trí hợp lý kinh phí, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo quy định của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan. Có cơ chế, chính sách hỗ trợ, đãi ngộ lực lượng làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác có hiệu quả các văn bản pháp luật cập nhật, lưu trữ trên mạng tin học của Chính phủ, mạng internet; xây dựng và đưa vào sử dụng rộng rãi các cơ sở dữ liệu pháp luật điện tử... để đáp ứng yêu cầu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay.

Ngoài ra, cần quan tâm đến những vấn đề có tính chiến lược, lâu dài, như: Nâng cao chất lượng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật về trình độ chuyên môn, kỹ năng tuyên truyền; tiếp tục đổi mới đa dạng các hình thức tuyên truyền theo đối tượng để xây dựng kế hoạch để tuyên truyền được trọng tâm, trọng điểm ở từng vùng miền; chú trọng tuyên truyền tại cơ sở; tích cực đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Vụ Pháp chế, Ủy ban dân tộc

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Quy trình giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác

Việc điều chỉnh cơ cấu và phân bổ giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) được thực hiện trên cơ sở điều chỉnh lần thứ nhất của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về cơ cấu, thành phần và số lượng được phân bổ cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị. Trên cơ sở đó, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tổ chức hội nghị hiệp thương có trách nhiệm thông báo phân bổ và hướng dẫn nội dung, trình tự, thủ tục giới thiệu người ứng cử, bảo đảm việc lập hồ sơ ứng cử được thực hiện theo quy định pháp luật.
Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Nhiều chính sách mới chia sẻ gánh nặng thuế thu nhập cá nhân với người làm công ăn lương, kinh doanh nhỏ

Từ năm 2026, các quy định liên quan đến thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú tại Luật Thuế thu nhập cá nhân số 109/2025/QH15 có hiệu lực, với nhiều chính sách mới như tăng mức giảm trừ gia cảnh lên 15,5 triệu đồng, nâng ngưỡng doanh thu chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 500 triệu đồng/năm giúp giảm gánh nặng đối với người nộp thuế.
Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Quy định mới tăng cường quản lý, bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử

Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, gồm 07 chương, 41 điều, được xây dựng theo định hướng kiến tạo phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp, người tiêu dùng với nhiều nội dung mới, nổi bật. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.
Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Số lượng lãnh đạo và đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách giai đoạn 2026 - 2031

Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh, cấp xã và bố trí đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách nhiệm kỳ 2026 - 2031 là nội dung quan trọng nhằm bảo đảm tổ chức bộ máy HĐND các cấp tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu sắp xếp đơn vị hành chính và định hướng cải cách của Đảng và Nhà nước. Những quy định này được thực hiện thống nhất theo Nghị quyết số 106/2025/UBTVQH15 ngày 16/10/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) và các văn bản có liên quan.
Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Tiêu chuẩn, điều kiện và hạn chế pháp lý

Ứng cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân, đồng thời là khâu có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương. Pháp luật về bầu cử không chỉ bảo đảm quyền ứng cử của công dân mà còn đặt ra những tiêu chuẩn, điều kiện, giới hạn và cơ chế sàng lọc chặt chẽ nhằm lựa chọn được những người đủ đức, đủ tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân.
Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cơ sở pháp lý xác định số lượng, cơ cấu và phân bổ đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức theo các quy định chặt chẽ của Hiến pháp và pháp luật về bầu cử, trong đó xác định rõ tổng số đại biểu được bầu, cơ cấu, thành phần người ứng cử cũng như nguyên tắc phân bổ đại biểu ở từng địa phương. Bài viết làm rõ số lượng ĐBQH khóa XVI dự kiến được bầu, các yêu cầu về tỷ lệ đại diện của phụ nữ, người dân tộc thiểu số và những nguyên tắc cụ thể để xác định số lượng đại biểu HĐND các cấp, qua đó giúp cử tri hiểu rõ hơn cơ sở pháp lý và ý nghĩa của việc bảo đảm tính đại diện, dân chủ trong bầu cử.
Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân - Nền tảng của bầu cử dân chủ, đúng pháp luật

Theo quy định tại Điều 7 Hiến pháp năm 2013 và Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, việc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tiến hành theo các nguyên tắc bầu cử phổ thông; nguyên tắc bình đẳng trong bầu cử; nguyên tắc bầu cử trực tiếp; nguyên tắc bỏ phiếu kín. Việc quán triệt và thực hiện nghiêm các nguyên tắc này không chỉ bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, mà còn là thước đo quan trọng để đánh giá một cuộc bầu cử dân chủ, đúng pháp luật.
Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Quyền, trách nhiệm và cơ chế miễn trừ của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân

Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) là những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong bộ máy quyền lực nhà nước. Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Luật Tổ chức Quốc hội và Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định rõ hệ thống quyền hạn, trách nhiệm cũng như cơ chế miễn trừ đối với đại biểu nhằm bảo đảm thực hiện đầy đủ chức năng lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và địa phương, đồng thời tăng cường trách nhiệm của đại biểu dân cử trước cử tri và xã hội.
Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số từ thực tiễn tỉnh Gia Lai

Tóm tắt: Bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số là yêu cầu cấp thiết trong tiến trình xây dựng xã hội phát triển toàn diện và bền vững ở Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở phân tích lý luận và khảo sát thực tiễn tại tỉnh Gia Lai, nơi có 24,76% dân số là người dân tộc thiểu số thuộc 44 thành phần, bài viết đánh giá việc thực hiện quyền này theo khung phân tích của Bình luận chung số 21 của Liên hợp quốc, gồm ba tiêu chí: tính sẵn có, khả năng tiếp cận và tính chấp nhận được. Kết quả cho thấy, còn tồn tại hạn chế về thiết chế văn hóa cơ sở, chênh lệch vùng miền và mức độ tham gia còn hình thức. Từ đó, bài viết đề xuất giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả, bảo đảm quyền tham gia vào đời sống văn hóa của người dân tộc thiểu số tại tỉnh Gia Lai.
Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Công tác xây dựng Đảng trong Đảng bộ Bộ Tư pháp giai đoạn 2015 - 2025: Thành tựu, bài học kinh nghiệm và định hướng đến năm 2030

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu cải cách toàn diện, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp có ý nghĩa chiến lược và cấp thiết.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.

Theo dõi chúng tôi trên: