Chủ nhật 25/10/2026 13:10
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giá trị pháp lý của những giao dịch liên quan đến tài sản chung do một bên vợ hoặc chồng thực hiện

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản chung. Về nguyên tắc, các giao dịch liên quan đến tài sản chung phải có sự bàn bạc, thỏa thuận của hai vợ chồng, tuy nhiên trong một số trường hợp, pháp luật lại không bắt buộc điều này. Bài viết dưới đây đề cập đến các trường hợp như vậy.

1. Vợ, chồng tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung

- Khi vợ, chồng xác lập giao dịch nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình[1]

Đây là quy định hợp lý, nhằm đảo bảo đáp ứng kịp thời, nhanh chóng các nhu cầu thiết yếu trong gia đình - các nhu cầu sinh hoạt thông thường về ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và các nhu cầu sinh hoạt thông thường khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi nhà[2]. Bên cạnh đó còn bảo vệ quyền lợi cho người thứ ba trong giao dịch, cũng như tạo sự mềm dẻo, linh hoạt trong giao lưu dân sự. Với quy định này, nếu vợ hoặc chồng vay mượn tiền, tài sản hay bán, trao đổi một tài sản chung của vợ chồng, cho dù chồng hoặc vợ họ không biết, tuy nhiên nếu mục đích của giao dịch nhằm để đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong gia đình, vẫn có giá trị pháp lý, nghĩa vụ tài sản phát sinh từ giao dịch, cả hai vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm.

Tuy nhiên vấn đề đặt ra: Ai sẽ là người chứng minh giao dịch mà người vợ, chồng thực hiện là nhằm hoặc không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình? Đó chính là người vợ hoặc chồng trực tiếp giao dịch, nhằm bảo vệ giá trị pháp lý của giao dịch và ràng buộc chồng hoặc vợ, họ cùng liên đới chịu trách nhiệm phát sinh từ giao dịch; kế tiếp là người chồng hoặc vợ không tham gia giao dịch, để bảo vệ quyền lợi cho họ cũng như bảo toàn khối tài sản chung và cuối cùng chính là bên thứ ba trong giao dịch, để họ bảo vệ quyền lợi cho chính mình, thông qua việc chứng minh giá trị pháp lý của giao dịch cũng như ràng buộc trách nhiệm cả hai vợ chồng trong việc thực hiện nghĩa vụ, vì nếu là nghĩa vụ chung, thì khối tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ sẽ là khối tài sản chung của vợ chồng và cả khối tài sản riêng của các bên vợ, chồng.

Có một khía cạnh pháp lý khác đặt ra: Nếu giao dịch do vợ hoặc chồng thực hiện không đáp ứng trực tiếp mà chỉ đáp ứng gián tiếp các nhu cầu thiết yếu của gia đình, chẳng hạn như vay tiền để bổ sung vốn kinh doanh, nhằm tạo nguồn thu nhập cho gia đình, có chịu sự chi phối của điều luật trên?

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có điều khoản nào trả lời cho câu hỏi trên. Tác giả cho rằng: Giao dịch nhằm đáp ứng “trực tiếp” và “gián tiếp” nhu cầu thiết yếu của gia đình, đều phát sinh trách nhiệm liên đới giữa vợ và chồng. Bởi lẽ, để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, có nhiều cách khác nhau và thực tế trong nhiều trường hợp cần phải có nhiều cách thức khác nhau mới có thể đáp ứng được, chứ không thể chỉ bằng cách thức “trực tiếp”. Vì vậy, với cách hiểu và suy luận như vậy, sẽ đảm bảo đáp ứng kịp thời và lâu dài các nhu cầu thiết yếu của gia đình, đảm bảo quyền lợi cho các thành viên trong gia đình, cho người vợ, chồng trực tiếp tham gia giao dịch và cho chủ thể thứ ba trong giao dịch đó.

- Khi vợ/chồng thực hiện giao dịch với tư cách là người đại diện

Vợ, chồng có thể đại diện cho chồng, vợ họ để xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung, họ có thể thực hiện điều này với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc đại diện theo pháp luật. Điều 24, 25, 27, 32, 36 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định khá rõ về vấn đề này:

+ Vợ, chồng chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 30 hoặc giao dịch khác phù hợp với quy định về đại diện tại các điều 24, 25 và 26 của Luật này.

+ Vợ, chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch mà theo quy định của Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng.

+ Vợ, chồng đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc khi một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được Tòa án chỉ định làm người đại diện theo pháp luật cho người đó, trừ trường hợp theo quy định của pháp luật thì người đó phải tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ có liên quan.

Trong trường hợp vợ, chồng kinh doanh chung thì vợ, chồng trực tiếp tham gia quan hệ kinh doanh là người đại diện hợp pháp của nhau trong quan hệ kinh doanh đó, trừ trường hợp trước khi tham gia quan hệ kinh doanh, vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc Luật này và các luật liên quan có quy định khác.

Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình, thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.

Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình, thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật Dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.

Trong trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về việc một bên đưa tài sản chung vào kinh doanh, thì người này có quyền tự mình thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung đó. Thỏa thuận này phải lập thành văn bản.

Như vậy, có thể khẳng định, trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có quyền tự định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Chính vì vậy, khía cạnh pháp lý cần bàn ở đây là giới hạn của việc định đoạt và hậu quả của việc định đoạt vượt quá giới hạn.

2. Giới hạn của việc định đoạt

Quyền định đoạt của vợ, chồng đối với tài sản chung của vợ chồng bị giới hạn bởi mục đích của giao dịch và giá trị, tầm quan trọng của khối tài sản chung.

Theo đó, (i) việc định đoạt phải nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình[3]; (ii) định đoạt liên quan đến tài sản chung của vợ chồng là bất động sản; động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu và tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thoả thuận bằng văn bản của cả hai vợ chồng[4]. Giao dịch liên quan đến những tài sản này thường ảnh hưởng lớn đến khối tài sản chung của vợ chồng cũng như đời sống chung của gia đình, nên pháp luật yêu cầu cần có sự bàn bạc, xem xét kỹ lưỡng từ cả hai vợ chồng. Sự bàn bạc, thỏa thuận của vợ chồng trong trường hợp này phải được lập thành văn bản. Nếu một tài sản chung khi tham gia giao dịch, pháp luật yêu cầu phải tuân theo hình thức nhất định, chẳng hạn như phải công chứng, chứng thực, thì sự thoả thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó. Vì vậy, để xác định yêu cầu cụ thể về mặt hình thức của một văn bản thoả thuận, cần dựa vào luật chung, là pháp luật dân sự để xác định.

3. Hậu quả của việc định đoạt vượt quá giới hạn

Để làm rõ câu hỏi này, cần xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau trong thực tiễn:

Trường hợp thứ nhất: Vợ, chồng tự ý xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung, chồng, vợ họ có biết, hoặc sau khi giao dịch được thực hiện mới biết, nhưng không có ý kiến gì. Trường hợp này được xem như sự im lặng của vợ, chồng đối với giao dịch do chồng, vợ họ thực hiện. Vì vậy, câu hỏi đặt ra: Sự im lặng có được xem là đồng ý?

Có quan điểm cho rằng, đối với việc định đoạt tài sản không quan trọng, sự đồng ý của vợ, chồng có thể là sự đồng ý mặc nhiên, thể hiện qua sự im lặng trước việc chồng, vợ định đoạt tài sản. Còn đối với việc định đoạt tài sản có giá trị lớn, nhất là bất động sản, cả vợ và chồng đều phải đứng ra giao dịch, thì sự đồng ý mới coi là được ghi nhận[5].

Quan điểm của Tòa án nhân dân tối cao trong thực tiễn xét xử lại xem im lặng không đủ cơ sở để xác định đồng ý hay không đồng ý[6]. Cũng có quan điểm tán đồng cao với quan điểm này của Toà án nhân dân tối cao, nhưng lại cho rằng sự im lặng có thể là biểu hiện của sự chấp nhận, nếu tồn tại yếu tố khác, đó là các yếu tố như bên không biết, sau khi biết đã yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng, hay bên giữ im lặng trong quá trình giao kết hợp đồng, tiếp nhận việc thực hiện hợp đồng hoặc biết rõ việc thực hiện hợp đồng nhưng không phản đối, hay có căn cứ xác định thực tế đã có sự đồng ý[7]. Tác giả đồng ý với các quan điểm này, song cũng cần nói thêm: Thực tế trong đời sống vợ chồng, thông thường các bên vợ, chồng xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị không lớn so với khối tài sản chung của vợ chồng, không có sự bàn bạc, thoả thuận của hai vợ chồng và những giao dịch này không nhằm đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình, vẫn có giá trị pháp lý, bởi lẽ gần như không có vụ kiện nào liên quan đến các tranh chấp về các giao dịch như vậy.

Trường hợp thứ hai: Vợ, chồng tự ý xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung, chồng, vợ họ không biết, nhưng khi biết lại cùng tham gia giao dịch

Đây được xem là loại giao dịch vi phạm qui định về yêu cầu bàn bạc, thoả thuận giữa hai vợ chồng, tuy nhiên, sự vi phạm này đã bị loại bỏ kể từ thời điểm bên chồng, vợ còn lại đã biết được điều đó và tán đồng, đồng thuận với hành vi giao dịch này của vợ, chồng họ, điều này thể hiện qua việc cùng với vợ, chồng tiếp tục tham gia giao dịch, thực hiện giao dịch. Vì vậy, loại giao dịch này không còn bị xem là vi phạm qui định về thỏa thuận giữa hai vợ chồng, nên giá trị pháp lý của giao dịch sẽ được thừa nhận và nghĩa vụ phát sinh từ những giao dịch này sẽ được xác định là nghĩa vụ chung của hai vợ chồng.

Thực tiễn xét xử đối với loại giao dịch này, hiện nay đã có Án lệ số 04/2016/AL, được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thông qua ngày 06/4/2016 và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06/4/2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao. Theo đó: “Trường hợp nhà đất là tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có một người đứng tên ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất đó cho người khác, người còn lại không ký tên trong hợp đồng; nếu có đủ căn cứ xác định bên chuyển nhượng đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận, người không ký tên trong hợp đồng biết và cùng sử dụng tiền chuyển nhượng nhà đất; bên nhận chuyển nhượng nhà đất đã nhận và quản lý, sử dụng nhà đất đó công khai; người không ký tên trong hợp đồng biết mà không có ý kiến phản đối gì thì phải xác định là người đó đồng ý với việc chuyển nhượng nhà đất”. Án lệ này được rút ra từ tình huống thực tiễn: “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại thành phố Hà Nội giữa nguyên đơn là bà Kiều Thị Tý, ông Chu Văn Tiến với bị đơn là ông Lê Văn Ngự và bà Trần Thị Phấn. Theo yêu cầu của phía bị đơn, đề nghị Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà, đất ký với vợ chồng bà Kiều Thị Tý và ông Chu Văn Tiến với lý do nhà đất này là tài sản chung của hai vợ chồng, việc ký hợp đồng, nhận tiền mua bán nhà, đất chỉ do ông Ngự thực hiện, bà Phấn là vợ không biết.

Vụ tranh chấp đã được các cấp toà xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và sau đó được xét xử giám đốc thẩm trên cơ sở kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tại phiên xét xử, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định: Về hợp đồng mua bán nhà, đất ngày 26/4/1996, việc chuyển nhượng nhà, đất diễn ra từ năm 1996, sau khi mua nhà, đất, ông Tiến, bà Tý đã trả đủ tiền, nhận nhà đất, tôn nền đất, sửa lại nhà và cho các cháu đến ở. Trong khi đó, gia đình ông Ngự, bà Phấn vẫn ở trên diện tích đất còn lại, liền kề với nhà ông Tiến, bà Tý. Theo lời khai của các người con ông Ngự, bà Phấn thì sau khi bán nhà, đất cho vợ chồng bà Tý, ông Ngự, bà Phấn đã phân chia vàng cho các người con. Mặt khác, sau khi chuyển nhượng và giao nhà đất cho ông Tiến, bà Tý thì ngày 26/4/1996, ông Ngự còn viết “giấy cam kết” có nội dung mượn lại phần nhà đất đã sang nhượng để ở khi xây dựng lại nhà trên phần đất còn lại và trong thực tế vợ chồng bà Phấn, ông Ngự đã sử dụng phần nhà đất của bà Tý, ông Tiến khi xây dựng nhà. Như vậy, có cơ sở xác định bà Phấn biết có việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Ngự với vợ chồng ông Tiến và bà Tý, bà Phấn đã đồng ý, cùng thực hiện nên việc bà Phấn khiếu nại cho rằng ông Ngự chuyển nhượng nhà đất cho vợ chồng bà Tý bà không biết là không có căn cứ.

Trường hợp thứ ba: Vợ hoặc chồng tự ý xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản chung, nhưng một bên không biết và khi họ biết đã có sự phản đối

Như đoạn trên đã phân tích, những loại giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị không lớn so với khối tài sản chung và việc vợ, chồng thực hiện giao dịch cũng không vì các nhu cầu thiết yếu của gia đình, thông thường không có việc kiện tụng giữa vợ và chồng vì điều này. Vì vậy, vấn đề cần bàn đến ở đây rơi vào trường hợp việc giao dịch đó liên quan đến các tài sản chung mà theo quy định của pháp luật, bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa hai vợ chồng. Vi phạm trong giao dịch này chính là bên vợ, chồng đã định đoạt phần tài sản không phải của họ, nói cách khác, họ mang tài sản của người khác đi bán - bán cái không phải là của mình. Vậy hướng giải quyết thế nào? Có nhiều quan điểm khác nhau về điều này ở phương diện lý luận và thực tiễn.

Trước đây, hướng dẫn cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định: Bên vợ, chồng không được hỏi ý kiến khi tham gia giao dịch, có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch này vô hiệu theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Dân sự. Nghĩa là giao dịch vô hiệu do không tuân thủ điều kiện về hình thức. Có lẽ cách nhìn nhận loại giao dịch này vô hiệu do vi phạm quy định về hình thức có vẻ chưa thực sự thuyết phục, cần xác định đây là trường hợp vô hiệu về mặt nội dung sẽ hợp lý hơn, vì vợ, chồng của họ bán tài sản chung, tức là bán cả phần của chồng, vợ họ, nghĩa là bán cả tài sản không phải của mình cho người khác. Điều luật không nói rõ nếu có yêu cầu, Toà án sẽ tuyên bố vô hiệu toàn bộ hay chỉ tuyên vô hiệu một phần của giao dịch, song nếu dựa vào câu chữ của điều luật có lẽ Tòa án phải tuyên bố vô hiệu toàn bộ giao dịch, điều này cũng phù hợp trong bối cảnh tài sản này là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, nên không thể xác định cụ thể phần sở hữu của mỗi bên vợ, chồng, để tuyên bố phần giao dịch nào sẽ bị vô hiệu.

Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tại khoản 2 Điều 13 quy định: Trong trường hợp vợ, chồng định đoạt tài sản chung vi phạm qui định tại khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình, thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu. Điều luật trên cũng không nói rõ Tòa án tuyên bố vô hiệu như thế nào khi có yêu cầu.

Có quan điểm cho rằng, giao dịch trong trường hợp này không nên chấp nhận tuyên bố vô hiệu một phần, mà cần phải xác định vô hiệu toàn bộ. Người mang tài sản ra giao dịch có lỗi, nên khi có thiệt hại thì phải bồi thường, nhưng lỗi này không cho phép thừa nhận ½ hợp đồng[8]. Có quan điểm lại cho rằng, nên tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng[9].

Cũng có quan điểm lại khẳng định, trong một số trường hợp đặc biệt, giao dịch này không bị tuyên bố vô hiệu, mà vẫn có giá trị pháp lý, một trong số các trường hợp đó là khi một bên có nhu cầu giao dịch chính đáng, nhưng bên kia kiên quyết phản đối mà không có lý do chính đáng[10].

Thực tiễn giải quyết tại Toà án cũng không thống nhất về điều này. Có Toà án xác định toàn bộ giao dịch vô hiệu, có toà xác định giao dịch vô hiệu một phần, cũng có toà xác định giao dịch trên có giá trị pháp lý. Ví dụ hai trường hợp sau:

- Trường hợp thứ nhất: Chị Rồi và anh Giang kết hôn năm 1989, năm 1997 vợ chồng có mâu thuẫn nên ly thân khoảng 05 tháng. Năm 1998 quay trở về chung sống lại với nhau và nhận khoán đất ở nông trường Tân Lập 20.000 m2 để sản xuất nông nghiệp, năm 2001 được giao 0,12 ha đất để làm nhà ở. Sau khi vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, anh Giang chuyển nhượng cho anh Phong 0,66 ha đất với giá 47 triệu đồng và chuyển nhượng căn nhà trên diện tích 0,21 ha đất cho anh Tâm mà không có sự đồng ý của chị Rồi. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Rồi đề nghị hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng (đối với phần quyền của chị)[11]. Trong vụ án này, Tòa cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đều công nhận giá trị pháp lý của giao dịch, nhưng quan điểm của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao lại xác định giao dịch này vô hiệu một phần, với lập luận – Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Tâm, anh Giang không có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng, còn chị Rồi đề nghị huỷ một phần hợp đồng (phần quyền của chị). Trong trường hợp này lẽ ra phải xác định hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa anh Giang và anh Tâm bị vô hiệu một phần (phần quyền sử dụng của chị Rồi)… Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm công nhận toàn bộ hợp đồng trên là không đảm bảo quyền lợi của chị Rồi.

- Trường hợp thứ hai: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Linh và bà Thuỷ Hiện[12]. Ngày 9/11/2010 bà Linh nhận chuyển nhượng quyền sử dụng 1.884,4 m2 đất của bà Thuỷ Hiện. Việc chuyển nhượng được lập thành văn bản, có công chứng, tuy nhiên người đứng tên là chồng của bên bán không phải là ông Rua (chồng bà Thuỷ Hiện) mà là ông Bảy (người không liên quan đến quyền sử dụng thửa đất này). Sau khi ký công chứng, bà Linh làm thủ tục đăng bộ sang tên nhưng văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không đồng ý với yêu cầu của bà Linh, vì cho rằng ông Bảy không phải là chồng bà Thuỷ Hiện. Sau đó bà Linh gặp bà Thuỷ Hiện để yêu cầu tiếp tục hợp đồng, nhưng bà Thuỷ Hiện không đồng ý. Do vậy bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Thuỷ Hiện tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng nói trên.

Trong vụ án này, toà cấp sơ thẩm không công nhận giao dịch giữa bà Linh và bà Thuỷ Hiện, vì không có sự đồng ý của ông Rua, chồng bà Thuỷ Hiện. Toà cấp phúc thẩm lại công nhận giá trị của giao dịch này, trên cơ sở chứng cứ là giấy đồng thuận của ông Rua – Tại đơn xin xác nhận giấy đồng thuận của ông Rua có nội dung: “…nay tôi kính nhờ Ủy ban nhân dân xã Bình Phú chứng nhận cho tôi được làm giấy đồng thuận, chấp thuận cho vợ tôi là bà Bùi Thị Thuỷ Hiện đứng thay tôi làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất….”. Tuy nhiên, quan điểm của Toà Dân sự Tòa án nhân dân tối cao trong vụ án này lại xác định giao dịch trên vô hiệu, với nhận định: …“Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Linh với bà Thuỷ Hiện và ông Bảy, không được sự đồng ý của ông Rua, nên bị vô hiệu…”

Qua các vụ án trên, có thể rút ra kết luận về cách giải quyết của Tòa án nhân dân tối cao – Xác định giao dịch có giá trị pháp lý, hay giao dịch vô hiệu một phần, hay giao dịch bị vô hiệu toàn bộ là dựa vào ý chí của chính người vợ, chồng không được hỏi ý kiến khi chồng, vợ họ thực hiện giao dịch. Cụ thể, nếu bên vợ, chồng này yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu, thì Toà án sẽ tuyên bố giao dịch vô hiệu toàn bộ; nếu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu một phần (phần tài sản thuộc sở hữu của người này), Toà án sẽ tuyên giao dịch vô hiệu một phần (vô hiệu phần của người vợ, chồng yêu cầu), trong trường hợp này, phần giao dịch tương ứng với phần sở hữu của người chồng, vợ đứng ra giao dịch lại có giá trị pháp lý.

Hướng giải quyết như vậy tác giả cho rằng chỉ có thể vận dụng khi giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, vì bản chất của loại sở hữu này là xác định được phần quyền sở hữu của các chủ sở hữu, còn với sở hữu chung hợp nhất, cụ thể ở đây là sở hữu chung của vợ chồng, khó có thể thuyết phục khi áp dụng. Bởi lẽ, bản chất của khối tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất là không xác định được phần quyền sở hữu của mỗi người, vì vậy, hiển nhiên cũng không thể biết được trong giao dịch mà vợ, chồng thực hiện liên quan đến khối tài sản chung, phần nào trong giao dịch thuộc sở hữu của chồng và phần nào thuộc sở hữu của vợ, để có thể quyết định phần giao dịch nào sẽ bị vô hiệu và phần giao dịch nào có giá trị. Vì vậy, cách giải quyết hợp lý là Toà án phải tuyên bố vô hiệu đối với toàn bộ giao dịch khi có yêu cầu.

Tóm lại, khi vợ, chồng tự ý định đoạt tài sản chung của vợ chồng mà vi phạm qui định về việc bàn bạc, thoả thuận giữa hai vợ chồng, điều dễ dàng nhận thấy là hành vi này đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác – bán tài sản của người khác (trong trường hợp này là bán tài sản của chồng/vợ) mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu. Vì vậy, giá trị pháp lý của những giao dịch này phụ thuộc vào ý chí của chủ sở hữu tài sản đó.

Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, vì vậy phần quyền sở hữu của vợ chồng trong khối tài sản này không được xác định. Khi vợ, chồng tự ý định đoạt mà vi phạm qui định về việc bàn bạc, thoả thuận giữa hai vợ chồng và có yêu cầu huỷ bỏ giao dịch của bên còn lại, Toà án cần phải huỷ bỏ toàn bộ giao dịch, để bảo vệ quyền lợi cho bên yêu cầu, cũng như bảo toàn khối tài sản chung của vợ chồng./.

TS. Lê Vĩnh Châu

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh


[1] Xem thêm Điều 27, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2] Khoản 20 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Khoản 1, Điều 30 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Khoản 2, Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5] Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập 2 – Các quan hệ tài sản giữa vợ chồng, Nxb. Trẻ, năm 2004, tr. 88.

[6] Đỗ Văn Đại, (2008), “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án”, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 74.

[7] Đỗ Văn Đại, (2008), “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án”, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr.77, 78, 79.

[8] Đỗ Văn Đại, (2008), “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án”, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 273.

[9] Dẫn lại, Đỗ Văn Đại, “Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án”, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. 271.

[10] Bình luận khoa học Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2004, tr.194.

[11] Quyết định Giám đốc thẩm số 141/2015/DS-GĐT ngày 22/4/2015 của Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao.

[12] Quyết định Giám đốc thẩm số 191/2015/DS-GĐT ngày 21/5/2015 của Tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Định danh địa điểm: Bước chuyển quan trọng trong hiện thực hóa chủ trương quản trị hiện đại về đất đai

Ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 326/2026/NĐ-CP quy định về định danh địa điểm, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong việc thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng về chuyển đổi số quốc gia, hiện đại hóa quản lý đất đai, số hóa dữ liệu trên hệ thống quản lý của Nhà nước. Đây là bước đi mang tầm chiến lược, lấy dữ liệu làm nền tảng, người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Nghị định số 326/2026/NĐ-CP gồm 04 chương với 18 điều, thiết lập một khung khổ pháp lý đồng bộ, toàn diện cho việc định danh các địa điểm cụ thể trên toàn lãnh thổ quốc gia. Nghị định đã chứa đựng nhiều điểm mới có tính đột phá về tư duy lập pháp và tư duy quản trị hiện đại.
Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Chăm lo sức khỏe và bảo đảm an sinh cho người dân Thủ đô

Với định hướng xây dựng Thủ đô phát triển hiện đại, văn minh, có chất lượng sống ngày càng cao, Luật Thủ đô năm 2026 đã dành 01 điều riêng quy định về những cơ chế, chính sách trong lĩnh vực y tế và an sinh xã hội (Điều 17). Với các quy định tại Điều 17 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý để Hà Nội chủ động hơn trong việc tổ chức các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ người dân và từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bền vững.
Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Cơ chế thí điểm chính sách mới: Không gian để Hà Nội kiểm nghiệm và hoàn thiện pháp luật

Luật Thủ đô năm 2026 dành một cơ chế riêng cho Hà Nội trong việc thí điểm các cơ chế, chính sách mới, qua đó tạo thêm không gian để thành phố chủ động xử lý những vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Tuy nhiên, quyền thí điểm không phải là quyền "làm khác" không giới hạn, mà được đặt trong khuôn khổ pháp lý với những yêu cầu cụ thể về phạm vi, thời gian, đánh giá tác động, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm của cơ quan thực hiện.
Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.

Theo dõi chúng tôi trên: