Thứ năm 11/12/2025 01:15
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giá trị pháp lý của văn bản từ chối nhận di sản không có công chứng hoặc chứng thực và những vấn đề đặt ra

Người thừa kế là người được hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Mặc dù được hưởng di sản nhưng pháp luật cũng trao cho người thừa kế được quyền từ chối nhận di sản trừ trường hợp nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. Việc từ chối này phải được lập thành văn bản.

Chúng ta có thể nhận thấy, trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì không có quy định nào bắt buộc phải công chứng, chứng thực đối với văn bản từ chối nhận di sản mà chỉ ghi nhận đây là quyền của người thừa kế. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, trong trường hợp văn bản từ chối nhận di sản được lập mà không có công chứng hoặc chứng thực thì nó có giá trị pháp lý như thế nào, tính khả thi khi đem ra giao dịch trong thực tế ra sao và công chứng viên phải xử lý thế nào khi tiếp nhận văn bản này trong hoạt động công chứng? Vấn đề này sẽ được tác giả bài viết làm rõ. Theo đó, tác giả nêu lên quy định của pháp luật hiện hành về văn bản từ chối nhận di sản, phân tích giá trị pháp lý của văn bản từ chối nhận di sản không có công chứng hoặc chứng thực và đặt ra những vấn đề đối với công chứng viên cũng như những người có liên quan.

1. Văn bản từ chối nhận di sản không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực

Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác (khoản 1 Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015), người thừa kế có quyền yêu cầu công chứng hoặc chứng thực văn bản từ chối nhận di sản (VBTCDS) nhưng đây không phải là trình tự, thủ tục bắt buộc. Theo đó, Điều 59 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Người thừa kế có thể yêu cầu công chứng văn bản từ chối nhận di sản…”; Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định số 23/2015/NĐ-CP) cũng không có điều khoản nào quy định bắt buộc VBTCDS phải chứng thực mà chỉ quy định Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có thẩm quyền và trách nhiệm chứng thực VBTCDS (điểm g khoản 2 Điều 5).

Luật Đất đai năm 2013 không quy định về việc công chứng hoặc chứng thực đối với VBTCDS mà quy định về công chứng, chứng thực đối với văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất bằng nội dung dẫn chiếu đến quy định của pháp luật về dân sự. Theo đó, điểm c khoản 3 Điều 167 Luật này quy định: “Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự”. Tại Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định: “Việc từ chối nhận di sản phải được lập thành văn bản và gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết… Việc từ chối nhận di sản phải được thể hiện trước thời điểm phân chia di sản”. Như vậy, Điều 620 này chỉ quy định bắt buộc việc từ chối nhận di sản phải tuân thủ quy định về hình thức giao dịch dân sự đó là phải lập thành văn bản, việc gửi văn bản, thời điểm thực hiện việc từ chối nhận di sản chứ hoàn toàn không quy định bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực đối với VBTCDS.

Một trong những nội dung được Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thay đổi so với Bộ luật Dân sự năm 2005 đó là khoản 2 Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã bỏ quy định người từ chối nhận di sản phải báo cho cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản tại khoản 2 Điều 642 Bộ Luật Dân sự năm 2005. Xét về phương diện công chứng, chứng thực thì việc bỏ quy định nêu trên là phù hợp, bởi lẽ, quy định nêu trên là không cần thiết, vì khi người thừa kế (trừ người đã từ chối nhận di sản) yêu cầu giải quyết việc thừa kế thì họ phải có trách nhiệm xuất trình VBTCDS cho cơ quan công chứng hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi giải quyết việc thừa kế biết, đồng thời chứng minh về việc đã có người thừa kế từ chối nhận di sản. Do vậy, Điều 620 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định VBTCDS chỉ gửi đến người quản lý di sản, những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản để biết là chặt chẽ và đầy đủ.

Mặc khác, Bộ luật Dân sự năm 2015 không còn quy định việc công chứng, chứng thực VBTCDS như một thủ tục bắt buộc làm ảnh hưởng đến hiệu lực của văn bản từ chối. Theo tác giả, việc loại bỏ quy định bắt buộc này là cần thiết để mở rộng việc thực hiện quyền của người thừa kế và phù hợp với xu thế coi việc công chứng, chứng thực như một dạng dịch vụ công[1].

2. Giá trị pháp lý của văn bản từ chối nhận di sản không có công chứng hoặc chứng thực

Trước khi xem xét giá trị pháp lý của VBTCDS không có công chứng hoặc chứng thực, chúng ta cùng tìm hiểu về giá trị pháp lý của văn bản công chứng và văn bản chứng thực. Luật Công chứng năm 2014 và Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đều ghi nhận về giá trị pháp lý của văn bản công chứng và văn bản chứng thực. Cụ thể, khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 quy định: “Hợp đồng, giao dịch được công chứng có giá trị chứng cứ; những tình tiết, sự kiện trong hợp đồng, giao dịch được công chứng không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu”; bên cạnh đó, khoản 4 Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP quy định: “Hợp đồng, giao dịch được chứng thực theo quy định của Nghị định này có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch”. Cùng quy định về giá trị pháp lý của văn bản công chứng và văn bản chứng thực nhưng khi so sánh tương quan giữa hai quy định trên thì rõ ràng văn bản công chứng có giá trị pháp lý cao hơn văn bản chứng thực. Về nội dung này, cũng đã có quan điểm cho rằng, quy định về công chứng và chứng thực hiện hành chưa đảm bảo được nguyên tắc bình đẳng và có sự phân biệt đối xử. Cụ thể: Tổ chức hành nghề công chứng và các cơ quan có thẩm quyền chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đều là những pháp nhân được Nhà nước trao quyền công chứng, chứng thực các hợp đồng, giao dịch, do đó, cần có sự bình đẳng trong hoạt động chuyên môn. Cùng là một hợp đồng, giao dịch nhưng nếu thực hiện công chứng thì công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính xác thực, hợp pháp và phải bồi thường nếu có lỗi. Tuy nhiên, nếu hợp đồng, giao dịch đó được thực hiện chứng thực thì người thực hiện chứng thực lại không có nghĩa vụ phải xem xét tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch và không phải có nghĩa vụ bồi thường. Như vậy, chế định về công chứng và chứng thực hiện nay đã phát sinh hai trường phái chứng nhận tính pháp lý của các hợp đồng, giao dịch: Chứng nhận nội dung (về tính xác thực, tính hợp pháp) và chứng nhận về hình thức (về thời gian, địa điểm giao kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên). Quy định này không đảm bảo được sự bình đẳng, không được phân biệt đối xử theo nguyên tắc chung của Bộ luật Dân sự năm 2015[2].

Trở lại với giá trị pháp lý của VBTCDS không có công chứng hoặc chứng thực, mặc dù không bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực nhưng qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tác giả cũng không tìm thấy bất kỳ quy định nào của pháp luật ghi nhận về giá trị pháp lý của VBTCDS trong trường hợp nó được lập mà không có công chứng hoặc chứng thực. Xét trong mối liên hệ liên quan đến quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực, tác giả cho rằng, nếu VBTCDS được lập mà không có công chứng hoặc chứng thực thì nó cũng là một loại giấy tờ, văn bản do cá nhân tự lập nhưng không có xác nhận và đóng dấu của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Đối chiếu quy định khoản 3 Điều 5 Luật Công chứng năm 2014 và khoản 4 Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì VBTCDS không có công chứng hoặc chứng thực không được pháp luật về công chứng, chứng thực thừa nhận về giá trị pháp lý.

3. Những vấn đặt ra đối với công chứng viên và người có liên quan đến văn bản từ chối nhận di sản không có công chứng hoặc chứng thực

Về nguyên tắc, công chứng viên không có quyền từ chối người yêu cầu công chứng khi thụ lý giải quyết các hợp đồng, giao dịch có liên quan với lý do VBTCDS không có công chứng hoặc chứng thực. Tuy nhiên, công chứng viên cũng không được phép suy luận rằng, pháp luật không quy định bắt buộc công chứng hoặc chứng thực đối với VBTCDS nên được quyền căn cứ vào văn bản này để làm cơ sở giải quyết việc công chứng các hợp đồng, giao dịch có liên quan. Trách nhiệm của công chứng viên trong trường hợp này là phải làm rõ trước khi thực hiện việc công chứng, nếu không làm rõ được thì mới có quyền từ chối công chứng; công chứng viên phải đánh giá tính hợp pháp, xác thực đối với VBTCDS mà quan trọng nhất là phải xác thực được người từ chối nhận di sản chính là người đã lập, ký hoặc điểm chỉ vào VBTCDS. Việc xác thực có thể thực hiện thông qua một trong hai hình thức đó là tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định. Căn cứ pháp lý để công chứng viên áp dụng trong trường hợp này được quy định tại khoản 5 Điều 40 Luật Công chứng năm 2014: “Trong trường hợp có căn cứ cho rằng trong hồ sơ yêu cầu công chứng có vấn đề chưa rõ, việc giao kết hợp đồng, giao dịch có dấu hiệu bị đe dọa, cưỡng ép, có sự nghi ngờ về năng lực hành vi dân sự của người yêu cầu công chứng hoặc đối tượng của hợp đồng, giao dịch chưa được mô tả cụ thể thì công chứng viên đề nghị người yêu cầu công chứng làm rõ hoặc theo đề nghị của người yêu cầu công chứng, công chứng viên tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định; trường hợp không làm rõ được thì có quyền từ chối công chứng”.

Về lý luận, dường như pháp luật không quy định bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực đối với VBTCDS sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người từ chối nhận di sản trong việc thể hiện ý chí của mình khi lập VBTCDS. Tuy nhiên, với những gì đã phân tích, việc người từ chối nhận di sản lập VBTCDS mà không yêu cầu công chứng hoặc chứng thực có thể gặp phải những khó khăn, bất lợi về sau cho chính người từ chối nhận di sản và những người thừa kế khác như: Phải có trách nhiệm làm rõ đối với VBTCDS khi công chứng viên yêu cầu làm rõ hoặc trong trường hợp phải tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định đối với VBTCDS nhưng tại thời điểm tiến hành xác minh, yêu cầu giám định, người từ chối nhận di sản đã chết, mất tích hoặc khi bị công chứng viên từ chối công chứng thì sẽ rất khó khăn cho người khai nhận di sản, người quản lý di sản, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, người thừa kế khác.

Về thực tiễn, nếu tiến hành xác minh hoặc yêu cầu giám định đối với VBTCDS không có công chứng hoặc chứng thực sẽ mất rất nhiều chi phí, thời gian, công sức, thậm chí trình tự, thủ tục xác minh hoặc yêu cầu giám định còn phức tạp gấp nhiều lần so với việc người từ chối nhận di sản yêu cầu công chứng hoặc chứng thực đối với VBTCDS. Do vậy, với tư cách là một công chứng viên, tác giả khuyến khích người từ chối nhận di sản khi lập VBTCDS nên thực hiện việc công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật để đảm bảo về giá trị pháp lý, hiệu lực thi hành của VBTCDS. Bởi lẽ, trong thực tế, VBTCDS không có công chứng hoặc chứng thực hầu như không được chấp nhận.

Phạm Huy vũ

Phòng Công chứng số 1 tỉnh Gia Lai





[1]. ThS. Nguyễn Thị Anh Thư (Khoa Kinh tế - Luật, Đại học Trà Vinh), “Sự thay đổi về quyền từ chối nhận di sản trong quy định của pháp luật dân sự Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, đăng trên https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/su-thay-doi-ve-quyen-tu-choi-nhan-di-san-trong-quy-dinh-cua-phap-luat-dan-su-viet-nam.

[2]. ThS. Nguyễn Huy Cường - Văn phòng Công chứng Công Lý Trà Vinh, “Chế định về công chứng và chứng thực theo pháp luật Việt Nam - Bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, đăng trên http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/dien-dan-cong-tac-tu-phap.aspx?ItemID=305.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bài viết nêu lên vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của Bộ Tư pháp trong giai đoạn mới.
Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Vai trò của Bộ Tư pháp trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch

Trong quá trình phát triển của đất nước, đặc biệt, trong 10 năm gần đây, với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội Việt Nam, việc xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật là công tác đặc biệt quan trọng. Với sự nỗ lực không ngừng, Bộ Tư pháp đã cùng các bộ, ngành làm tốt công tác xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và đưa pháp luật vào cuộc sống, góp phần quan trọng trong thực hiện thành công công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, giữ vững chủ quyền quốc gia, an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của Nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh theo đường lối của Đảng và Nhà nước. Để đạt được những thành tựu đó, nhiều hoạt động đã được triển khai đồng bộ, từ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); đặc biệt, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực làm công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Bộ Tư pháp đã chủ động, tích cực phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, trong đó có Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong công tác xây dựng thể chế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác pháp chế.
Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Bộ, ngành Tư pháp với công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, tổ chức thi hành pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước

Với chức năng là cơ quan của Chính phủ, thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, Bộ Tư pháp đã và đang đóng góp, góp phần quan trọng trong kiến tạo nền tảng pháp lý vững chắc, phục vụ mục tiêu phát triển đất nước; đồng thời, đóng vai trò chủ đạo trong xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những kết quả đạt được thể hiện qua các nội dung chính sau:
Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Công tác tư pháp tỉnh Lai Châu - Thành tựu và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Ngày 01/01/2004, tỉnh Lai Châu chính thức được chia tách thành tỉnh Điện Biên và Lai Châu. Đây cũng là thời điểm Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu (mới) được thành lập và đi vào hoạt động. Trải qua hơn 21 năm xây dựng và phát triển, ngành Tư pháp tỉnh Lai Châu đã vượt qua khó khăn, thử thách, ngày càng lớn mạnh và khẳng định được vai trò, vị thế của mình.
Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế - Những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện thể chế từ góc nhìn của luật sư

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là một trong những chính sách xã hội có ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền được tiếp cận công lý bình đẳng của mọi tầng lớp Nhân dân, đặc biệt là nhóm những người yếu thế trong xã hội. Thông qua các hoạt động TGPL, người yếu thế trong xã hội được cung cấp, sử dụng dịch vụ pháp lý miễn phí khi có tranh chấp, góp phần nâng cao ý thức pháp luật và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Trong hoạt động TGPL, đội ngũ luật sư đóng vai trò then chốt, là lực lượng trực tiếp thực hiện việc tư vấn, đại diện và bào chữa cho các đối tượng yếu thế. Tuy nhiên, thực tế cho thấy công tác TGPL còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, cả về cơ chế, nguồn lực và phương thức triển khai.
Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị

Việc tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong giảng dạy chương trình Trung cấp lý luận chính trị là yêu cầu tất yếu, góp phần trực tiếp vào việc xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin và năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ đương chức và dự nguồn cấp cơ sở. Trên cơ sở thực tiễn công tác giảng dạy và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị, cần đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả tích hợp nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong học phần “Thực tiễn và kinh nghiệm xây dựng, phát triển địa phương – ngành – đoàn thể” thuộc chương trình Trung cấp lý luận chính trị (Học phần) tại Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ.
Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Thực tiễn thi hành Luật Tương trợ tư pháp phần về dân sự

Sau hơn 17 năm thi hành, Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, thực tiễn đời sống xã hội đang đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với hoạt động TTTP về dân sự. Do đó, việc tổng kết thực tiễn thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 là cần thiết, từ đó, đánh giá những điểm còn hạn chế so với yêu cầu thực tiễn, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện pháp luật TTTP về dân sự trong bối cảnh mới.
Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Đào tạo pháp luật vì cộng đồng và định hướng phát triển trong giai đoạn mới

Trường Cao đẳng Luật miền Bắc được nâng cấp từ Trường Trung cấp Luật Thái Nguyên theo Quyết định số 869/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2020 của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Nội vụ), đã kế thừa hơn một thập kỷ kinh nghiệm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ pháp lý cấp cơ sở, đặc biệt, tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số tại Bộ, ngành Tư pháp - Thực trạng và định hướng phát triển trong kỷ nguyên mới

Bộ Tư pháp đã trang bị, bổ sung, ứng dụng các công nghệ mới như máy chủ ảo hóa, lưu trữ SAN; máy chủ ứng dụng, máy chủ cơ sở dữ liệu cho Trung tâm dữ liệu điện tử để đáp ứng yêu cầu quản lý, vận hành và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp.
Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Công tác hành chính tư pháp - Thành tựu và định hướng phát triển trong thời gian tới

Bài viết về những thành tựu nổi bật và định hướng phát triển công tác hành chính tư pháp trong thời gian tới.
Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Phát huy vai trò là diễn đàn khoa học trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới

Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tạp chí) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, có chức năng thông tin về khoa học pháp lý, thông tin lý luận, nghiệp vụ và thực tiễn trong xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp của Bộ, ngành Tư pháp; tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước theo quy định pháp luật; đồng thời, là diễn đàn trao đổi học thuật, thực tiễn và chính sách trong lĩnh vực pháp luật[1].
Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam với sứ mệnh truyền thông tư pháp, pháp luật, vì Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo Pháp luật Việt Nam là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về các hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội trong nước và quốc tế; truyền thông, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật và công tác tư pháp phục vụ yêu cầu quản lý của Bộ Tư pháp, đáp ứng nhu cầu của xã hội về thông tin, nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật và hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia định hướng tư tưởng, phản biện xã hội, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và tự lực, tự cường của Nhân dân, đồng hành với an sinh xã hội.
Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng bầu cử quốc gia

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026-2031 được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật và thống nhất trên phạm vi cả nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (HĐBCQG) được thành lập, giữ vai trò tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH); chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND). Việc tìm hiểu cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của HĐBCQG có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình, đồng thời giúp cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan thực hiện tốt nhiệm vụ trong công tác bầu cử.
Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới

Bài viết phân tích một số thành tựu và định hướng phát triển công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật, xử lý vi phạm hành chính và tổ chức thi hành pháp luật trong kỷ nguyên mới của Cục Kiểm tra văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Bộ Tư pháp.
Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Bộ, ngành Tư pháp - Thành tựu đạt được và những yêu cầu trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước

Trong những năm qua, hoạt động nghiên cứu khoa học của Bộ Tư pháp đã khẳng định được vai trò cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn, giúp Lãnh đạo Bộ tham mưu với các cấp có thẩm quyền xây dựng các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác pháp luật, tư pháp, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Theo dõi chúng tôi trên: