Thứ ba 26/05/2026 19:58
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ở nước ta hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lao động, đặc biệt là lao động tại địa phương và khu vực nông thôn (chiếm gần 60%).

1. Hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhu cầu cầp thiết


Để doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng phát triển và đứng vững trên thị trường, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào thị trường kinh tế thế giới, thì yếu tố vốn đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh là điều kiện tiên quyết. Bởi lẽ, vốn chính là khả năng tài chính mà chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải có ngay từ thời điểm thành lập, từ đó họ sẽ quyết định lựa chọn ngành, nghề kinh doanh, lĩnh vực, địa bàn đầu tư, kinh doanh sao cho hiệu quả. Bên cạnh đó, nếu có vốn, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có thể thay đổi trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến mẫu mã, lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp, nhờ đó mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường.

Để khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả không chỉ có sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà cần có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc ban hành những chủ trương, chính sách, cơ chế phù hợp, đặc biệt là những giải pháp về thủ tục vay vốn. Theo Điều 6 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm: Nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước; nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; nguồn vốn hỗ trợ từ miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và các khoản khác phải nộp cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Ngoài ra, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định số 56/2009/NĐ-CP), Thông tư số 13/2015/TT-BKHĐT ngày 28/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Danh mục lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ và tiêu chí lựa chọn đối tượng ưu tiên hỗ trợ của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Thông tư số 37/2016/TT-BTC ngày 29/02/2016 của Bộ Tài chính quy định lãi suất cho vay của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có những quy định về hình thức hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa… Đó là những cơ sở pháp lý quy định về chính sách, chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm phát huy tiềm năng và nâng cao vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, ngày 17/4/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 601/QĐ-TTg triển khai các chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP. Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trợ giúp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu về vốn để thực hiện các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi; tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước… Mục đích hoạt động của Quỹ là giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Đối tượng của Quỹ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa được vay với mức lãi suất ưu đãi là 5.5% đối với khoản vay ngắn hạn và 7% đối với khoản vay trung và dài hạn. Để cụ thể hóa những quy định hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong năm 2016 Chính phủ đã đưa ra hàng loạt các chương trình hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2. Thực trạng hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua

Đến năm 2016, cả nước có 25 quỹ hỗ trợ và phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập với mục đích tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn để hoạt động sản xuất, kinh doanh, lãi suất áp dụng từ 5-7%/năm với điều kiện tài sản đảm bảo không vượt quá 100% tài sản đảm bảo và khuyến khích doanh nghiệp sử dụng tài sản hình thành trong tương lai làm tài sản đảm bảo, cùng với đó Quỹ đưa ra các kế hoạch hỗ trợ trước và sau cho vay. Theo báo cáo của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nguồn vốn triển khai năm 2016 của Quỹ là 560 tỷ đồng, với mức lãi suất là 7% đối với khoản vay trung hạn, dài hạn và cố định trong suốt thời hạn vay. Mức cho vay tối đa là 70% tổng mức đầu tư (không bao gồm vốn lưu động), thời hạn vay là 07 năm (có thể trả trước hạn và được miễn phí trả nợ trước hạn). Tài sản đảm bảo tối đa bằng 100% giá trị khoản vay, có thể sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để làm tài sản đảm bảo; hình thức giải ngân được thực hiện thông qua các ngân hàng nhận ủy thác của Quỹ. Các lĩnh vực hỗ trợ tiếp cận vốn gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải.

Năm 2017, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có tổng hạn mức khoảng 560 tỷ đồng để hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó, đối tượng ưu tiên sẽ là những doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xử lý rác thải, nước thải. Tính đến tháng 4/2017, đã có hơn 1.000 lượt doanh nghiệp tiếp cận Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tìm hiểu thông tin về các chương trình hỗ trợ qua các kênh như hội thảo, truyền thông[1]… Mặc dù đã có những chương trình hỗ trợ, nhưng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay do hồ sơ vay vốn còn phức tạp; 50% hồ sơ vay vốn không có tài sản để thế chấp, chưa minh bạch về tài chính, kế hoạch kinh doanh chưa rõ ràng, khả thi, nhiều ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp; 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp, các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa… Hoạt động của các quỹ bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng vô cùng khó khăn. Hiện nay, cả nước có 27 quỹ bảo lãnh tín dụng, tổng vốn điều lệ ước khoảng 1.462 tỷ đồng, tổng số dư nợ bảo lãnh đang là 361 tỷ đồng và các quỹ này phải thực hiện trả nợ thay doanh nghiệp nhỏ và vừa ước khoảng 137 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính hiệu quả của các quỹ bảo lãnh tín dụng còn thấp do vốn không đạt mức tối thiểu 30 tỷ đồng, chủ yếu do ngân sách địa phương góp, tổ chức tín dụng có tham gia góp vốn nhưng ở mức khiêm tốn, năng lực bộ máy còn hạn chế[2]…

Vay vốn với tài sản thế chấp là một trong những bất cập gây ra rào cản cho doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chứng minh được khả năng trả nợ. Thực tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có tài sản lớn, nếu doanh nghiệp nhỏ và vừa có tài sản đảm bảo thì việc định giá tài sản thường rất thấp so với giá trị thông thường. Mặt khác, năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế nên việc triển khai thực hiện minh bạch thông tin về tài chính còn nhiều khó khăn, do vậy, khi phía ngân hàng yêu cầu minh bạch hóa thông tin tài chính là điều kiện vay vốn thì gần như rất ít doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng được. Bên cạnh đó, khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. Có thể nói, những bất cập nêu trên là nguyên nhân chủ yếu trong việc khó tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

3. Một số giải pháp hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để hướng đến mục tiêu năm 2020 cả nước có trên một triệu doanh nghiệp thì chúng ta cần có những giải pháp nhằm tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với các loại hình doanh nghiệp khác về thể chế, chính sách, thủ tục vay vốn, thuế, hải quan, kết cấu hạ tầng, hỗ trợ tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0… Cụ thể:

Thứ nhất, công tác hỗ trợ về vốn cần được quy định cụ thể hơn, đặc biệt là chính sách ưu đãi về hạn mức vay vốn, lãi suất, thời hạn vay theo đúng chủ trương của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lấy Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 làm căn cứ cho việc triển khai hoạt động hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tạo nên sự đồng bộ, thống nhất, có định hướng chú trọng hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, cũng nên hướng đến khuyến khích các tổ chức ngoài Nhà nước tham gia tài trợ, hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua hình thành các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, mở rộng thị trường hoạt động kinh doanh, tạo sự liên kết chuỗi các giá trị toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa… Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tuân thủ tốt các báo cáo tài chính, kế toán, thuế, pháp luật và điều kiện kinh doanh, trách nhiệm bảo hành thông qua các hình thức hỗ trợ tư vấn pháp lý, minh bạch các thông tin để doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận và kịp thời điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cần chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích và dành một số dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính phù hợp, mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ khác cho khách hàng là đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn nhưng không trái với quy định của pháp luật, tạo điều kiện để xem xét cho vay đối với doanh nghiệp chất lượng tốt mà không cần dựa hoàn toàn vào tài sản đảm bảo.

Thứ ba, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần xây dựng và ban hành các chương trình, kế hoạch triển khai hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn của mình. Đặc biệt, cần hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp thay đổi tư duy theo hướng tập trung chú trọng vào sự đổi mới, khác biệt; phát huy những sản phẩm của chính địa phương mình với những ý tưởng, hình thức và phương thức kinh doanh, phục vụ phù hợp với thời kỳ hội nhập chứ không theo tư duy lợi ích cục bộ, xin - cho, lợi dụng cơ chế của Nhà nước như từ trước đến nay. Khẩn trương hoàn thiện Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại từng địa phương và cải thiện hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn, đa dạng hóa các nguồn tài chính phục vụ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

TS. Nguyễn Thị Thu Thủy

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Http://phattriendnnvv.mpi.gov.vn.

[2]. Nguồn: vcci.com.vn.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Công tác kiểm tra, giám sát Đảng ủy cấp xã tại Hà Nội hiện nay

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát không chỉ dừng lại ở việc xử lý vi phạm mà cốt lõi là để cảnh báo, phòng ngừa và kiến tạo sự phát triển. Trước thực trạng 70% cán bộ kiểm tra cấp xã còn lúng túng về nghiệp vụ và áp lực từ việc thiếu vắng sự giám sát của Hội đồng nhân dân tại các xã, phường, Hà Nội đang nỗ lực tìm kiếm những mô hình mới như "giám sát dữ liệu số" hay cơ chế bảo vệ cán bộ "dám nói, dám làm". Đây chính là chìa khóa để bảo đảm bộ máy chính quyền Thủ đô vận hành liêm chính và hiệu quả sau khi tinh gọn.
Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Một số vướng mắc, bất cập trong quy định và tổ chức thi hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 - Kiến nghị hoàn thiện

Tóm tắt: Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 là đạo luật quan trọng nhằm cụ thể hóa quyền tiếp cận thông tin của công dân theo Hiến pháp năm 2013[*], góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước. Sau 08 năm thi hành, bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn cho thấy còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật và tổ chức thi hành, đặc biệt, liên quan đến phạm vi thông tin, trách nhiệm cung cấp thông tin, trình tự, thủ tục và điều kiện bảo đảm thực hiện quyền. Trên cơ sở nhận diện các vướng mắc, bất cập, nghiên cứu đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật theo hướng bảo đảm tính đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành, phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số và tổ chức bộ máy nhà nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành, qua đó góp phần bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân và xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) sau hơn 08 năm thi hành đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự vận động nhanh chóng của thực tiễn, đặc biệt là sự xuất hiện của các hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng và các quan hệ tôn giáo có yếu tố nước ngoài ngày càng phức tạp. Vì vậy, việc tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng là yêu cầu cấp thiết không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân mà còn nhằm giữ vững an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.
Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Triển khai thi hành các quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Thẩm quyền ban hành VBQPPL là nội dung trọng tâm nhằm bảo đảm mỗi loại VBQPPL được ban hành bởi đúng cơ quan, đúng cấp, vừa phù hợp với phạm vi pháp lý, vừa hạn chế rủi ro và xung đột giữa các văn bản.
Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Điểm mới cơ bản của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 và những việc cần thực hiện để triển khai hiệu quả Luật, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới

Việc ban hành Luật Ban hành VBQPPL số 64/2025/QH15 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn thi hành có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.
Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: