Thứ ba 22/09/2026 06:20
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Ở nước ta hiện nay, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp cả nước, đóng góp trên 40% GDP, thu hút hơn 50% tổng số lao động, đặc biệt là lao động tại địa phương và khu vực nông thôn (chiếm gần 60%).

1. Hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhu cầu cầp thiết


Để doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng phát triển và đứng vững trên thị trường, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu, rộng vào thị trường kinh tế thế giới, thì yếu tố vốn đưa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh là điều kiện tiên quyết. Bởi lẽ, vốn chính là khả năng tài chính mà chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa phải có ngay từ thời điểm thành lập, từ đó họ sẽ quyết định lựa chọn ngành, nghề kinh doanh, lĩnh vực, địa bàn đầu tư, kinh doanh sao cho hiệu quả. Bên cạnh đó, nếu có vốn, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng có thể thay đổi trang thiết bị, mở rộng quy mô sản xuất, cải tiến mẫu mã, lựa chọn phương án kinh doanh phù hợp, nhờ đó mà doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, nâng cao uy tín của mình trên thương trường.

Để khai thác và sử dụng vốn có hiệu quả không chỉ có sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà cần có sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua việc ban hành những chủ trương, chính sách, cơ chế phù hợp, đặc biệt là những giải pháp về thủ tục vay vốn. Theo Điều 6 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, nguồn vốn hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm: Nguồn vốn tín dụng có hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước; nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; nguồn vốn hỗ trợ từ miễn, giảm thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất và các khoản khác phải nộp cho ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật; nguồn vốn hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài. Ngoài ra, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (Nghị định số 56/2009/NĐ-CP), Thông tư số 13/2015/TT-BKHĐT ngày 28/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành Danh mục lĩnh vực ưu tiên hỗ trợ và tiêu chí lựa chọn đối tượng ưu tiên hỗ trợ của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; Thông tư số 37/2016/TT-BTC ngày 29/02/2016 của Bộ Tài chính quy định lãi suất cho vay của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có những quy định về hình thức hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa… Đó là những cơ sở pháp lý quy định về chính sách, chương trình trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm phát huy tiềm năng và nâng cao vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, ngày 17/4/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 601/QĐ-TTg triển khai các chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP. Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trợ giúp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa có nhu cầu về vốn để thực hiện các dự án, phương án sản xuất, kinh doanh khả thi; tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước và các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước… Mục đích hoạt động của Quỹ là giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp. Đối tượng của Quỹ là các doanh nghiệp nhỏ và vừa được vay với mức lãi suất ưu đãi là 5.5% đối với khoản vay ngắn hạn và 7% đối với khoản vay trung và dài hạn. Để cụ thể hóa những quy định hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong năm 2016 Chính phủ đã đưa ra hàng loạt các chương trình hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

2. Thực trạng hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua

Đến năm 2016, cả nước có 25 quỹ hỗ trợ và phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập với mục đích tạo điều kiện để doanh nghiệp nhỏ và vừa có vốn để hoạt động sản xuất, kinh doanh, lãi suất áp dụng từ 5-7%/năm với điều kiện tài sản đảm bảo không vượt quá 100% tài sản đảm bảo và khuyến khích doanh nghiệp sử dụng tài sản hình thành trong tương lai làm tài sản đảm bảo, cùng với đó Quỹ đưa ra các kế hoạch hỗ trợ trước và sau cho vay. Theo báo cáo của Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nguồn vốn triển khai năm 2016 của Quỹ là 560 tỷ đồng, với mức lãi suất là 7% đối với khoản vay trung hạn, dài hạn và cố định trong suốt thời hạn vay. Mức cho vay tối đa là 70% tổng mức đầu tư (không bao gồm vốn lưu động), thời hạn vay là 07 năm (có thể trả trước hạn và được miễn phí trả nợ trước hạn). Tài sản đảm bảo tối đa bằng 100% giá trị khoản vay, có thể sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay để làm tài sản đảm bảo; hình thức giải ngân được thực hiện thông qua các ngân hàng nhận ủy thác của Quỹ. Các lĩnh vực hỗ trợ tiếp cận vốn gồm: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải.

Năm 2017, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa có tổng hạn mức khoảng 560 tỷ đồng để hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó, đối tượng ưu tiên sẽ là những doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản; các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xử lý rác thải, nước thải. Tính đến tháng 4/2017, đã có hơn 1.000 lượt doanh nghiệp tiếp cận Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tìm hiểu thông tin về các chương trình hỗ trợ qua các kênh như hội thảo, truyền thông[1]… Mặc dù đã có những chương trình hỗ trợ, nhưng nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn vay do hồ sơ vay vốn còn phức tạp; 50% hồ sơ vay vốn không có tài sản để thế chấp, chưa minh bạch về tài chính, kế hoạch kinh doanh chưa rõ ràng, khả thi, nhiều ngân hàng không đa dạng hóa tài sản thế chấp; 80% tỷ lệ lãi suất chưa phù hợp, các điều kiện vay vốn hiện nay chưa phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa… Hoạt động của các quỹ bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng vô cùng khó khăn. Hiện nay, cả nước có 27 quỹ bảo lãnh tín dụng, tổng vốn điều lệ ước khoảng 1.462 tỷ đồng, tổng số dư nợ bảo lãnh đang là 361 tỷ đồng và các quỹ này phải thực hiện trả nợ thay doanh nghiệp nhỏ và vừa ước khoảng 137 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính hiệu quả của các quỹ bảo lãnh tín dụng còn thấp do vốn không đạt mức tối thiểu 30 tỷ đồng, chủ yếu do ngân sách địa phương góp, tổ chức tín dụng có tham gia góp vốn nhưng ở mức khiêm tốn, năng lực bộ máy còn hạn chế[2]…

Vay vốn với tài sản thế chấp là một trong những bất cập gây ra rào cản cho doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp nhỏ và vừa phải chứng minh được khả năng trả nợ. Thực tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường không có tài sản lớn, nếu doanh nghiệp nhỏ và vừa có tài sản đảm bảo thì việc định giá tài sản thường rất thấp so với giá trị thông thường. Mặt khác, năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa còn hạn chế nên việc triển khai thực hiện minh bạch thông tin về tài chính còn nhiều khó khăn, do vậy, khi phía ngân hàng yêu cầu minh bạch hóa thông tin tài chính là điều kiện vay vốn thì gần như rất ít doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng được. Bên cạnh đó, khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải tôn trọng hợp đồng tín dụng, đảm bảo hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn và phải tôn trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả hay không. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có phương án sản xuất khả thi. Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có hiệu quả. Có thể nói, những bất cập nêu trên là nguyên nhân chủ yếu trong việc khó tiếp cận vốn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa.

3. Một số giải pháp hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Để hướng đến mục tiêu năm 2020 cả nước có trên một triệu doanh nghiệp thì chúng ta cần có những giải pháp nhằm tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng giữa doanh nghiệp nhỏ và vừa với các loại hình doanh nghiệp khác về thể chế, chính sách, thủ tục vay vốn, thuế, hải quan, kết cấu hạ tầng, hỗ trợ tiếp cận cách mạng công nghiệp 4.0… Cụ thể:

Thứ nhất, công tác hỗ trợ về vốn cần được quy định cụ thể hơn, đặc biệt là chính sách ưu đãi về hạn mức vay vốn, lãi suất, thời hạn vay theo đúng chủ trương của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lấy Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 làm căn cứ cho việc triển khai hoạt động hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời tạo nên sự đồng bộ, thống nhất, có định hướng chú trọng hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên phạm vi cả nước. Ngoài ra, cũng nên hướng đến khuyến khích các tổ chức ngoài Nhà nước tham gia tài trợ, hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua hình thành các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, mở rộng thị trường hoạt động kinh doanh, tạo sự liên kết chuỗi các giá trị toàn cầu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa… Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tuân thủ tốt các báo cáo tài chính, kế toán, thuế, pháp luật và điều kiện kinh doanh, trách nhiệm bảo hành thông qua các hình thức hỗ trợ tư vấn pháp lý, minh bạch các thông tin để doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận và kịp thời điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước cần chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ ban hành cơ chế khuyến khích và dành một số dự án hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính phù hợp, mở rộng tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa; đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư và các dịch vụ hỗ trợ khác cho khách hàng là đối tượng doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn nhưng không trái với quy định của pháp luật, tạo điều kiện để xem xét cho vay đối với doanh nghiệp chất lượng tốt mà không cần dựa hoàn toàn vào tài sản đảm bảo.

Thứ ba, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cần xây dựng và ban hành các chương trình, kế hoạch triển khai hỗ trợ về vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn của mình. Đặc biệt, cần hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp thay đổi tư duy theo hướng tập trung chú trọng vào sự đổi mới, khác biệt; phát huy những sản phẩm của chính địa phương mình với những ý tưởng, hình thức và phương thức kinh doanh, phục vụ phù hợp với thời kỳ hội nhập chứ không theo tư duy lợi ích cục bộ, xin - cho, lợi dụng cơ chế của Nhà nước như từ trước đến nay. Khẩn trương hoàn thiện Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tại từng địa phương và cải thiện hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn, đa dạng hóa các nguồn tài chính phục vụ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

TS. Nguyễn Thị Thu Thủy

Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo:

[1]. Http://phattriendnnvv.mpi.gov.vn.

[2]. Nguồn: vcci.com.vn.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2026 được ban hành với nhiều điểm mới nhằm khắc phục những khó khăn, vướng mắc của Luật hiện hành; đổi mới hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; bảo đảm quyền tiếp cận pháp luật, quyền tham gia góp ý, phản ánh, kiến nghị về chính sách, pháp luật; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo; đồng thời góp phần xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo trong kỷ nguyên số

Chủ trương khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam được Đảng và Nhà nước nhận thức, định hướng trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư khi nền sản xuất toàn cầu có sự kết hợp của các công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo, Internet of Things (IoT), robot tự động, dữ liệu lớn và nhiều công nghệ tiên tiến khác. Để thúc đẩy, tạo động lực cho cá nhân, tổ chức phát huy đam mê khởi nghiệp sáng tạo, tối đa hóa năng lực, nguồn lực, cống hiến trí tuệ cho sự phát triển chung của đất nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã từng bước đề ra chủ trương, chính sách pháp luật, chiến lược lâu dài nhằm kiến tạo hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Từ định hướng chiến lược tại Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân, đến việc thể chế hóa chủ trương của Đảng trong Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 và Chính phủ cụ thể hóa thông qua Nghị quyết số 86/NQ-CP ban hành Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo. Những chủ trương, chính sách đã góp phần thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo trong hệ thống kinh tế tư nhân trở thành một động lực phát triển quan trọng của đất nước trong kỷ nguyên số.
Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô năm 2026 - Động lực mới đưa Hà Nội trở thành trung tâm giáo dục, đào tạo chất lượng cao

Luật Thủ đô số 02/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật Thủ đô số 39/2024/QH15. Với 09 chương, 36 điều, Luật Thủ đô năm 2026 tiếp tục thể chế hóa chủ trương xây dựng Thủ đô Hà Nội trở thành trung tâm chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục, đào tạo và đổi mới sáng tạo; đồng thời tạo dựng một không gian pháp lý mới với mức độ phân quyền, phân cấp và trao quyền mạnh mẽ hơn cho Thành phố.
Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Xây dựng hành lang pháp lý đột phá thúc đẩy phát triển đô thị và khu kinh tế đặc biệt

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Phát triển đô thị số 18/2026/QH16, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026. Luật được kết cấu gồm 05 chương, 66 điều quy định các cơ chế, chính sách nhằm tạo lập hành lang pháp lý ổn định, đồng bộ, đột phá và khả thi để thúc đẩy phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển đô thị đặc biệt khác, thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt; bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển và năng lực thực thi của từng địa phương; qua đó khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, tạo không gian phát triển mới, thu hút nguồn lực đầu tư chất lượng cao và hình thành các động lực tăng trưởng mới.
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026: Bổ sung nhiều quy định mới tháo gỡ vướng mắc trong thực tiễn thi hành

Trên cơ sở kế thừa những quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 đã được thực tiễn chứng minh là phù hợp, Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đồng thời bổ sung nhiều quy định để tháo gỡ những vướng mắc, bất cập, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, đồng bộ cho công tác hòa giải ở cơ sở.
Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chứng cứ điện tử trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tại ngân hàng

Chuyển đổi số trong hoạt động ngân hàng đã làm thay đổi căn bản phương thức xác lập và thực hiện các hợp đồng, giao dịch. Nhiều giao dịch được thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Internet Banking, Mobile Banking, eKYC, chữ ký điện tử, xác thực OTP và các hệ thống ngân hàng lõi (Core Banking). Khi phát sinh tranh chấp, chứng cứ không chỉ là hồ sơ giấy mà còn là dữ liệu điện tử được lưu giữ trên các hệ thống thông tin của ngân hàng và của khách hàng. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã thiết lập cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thừa nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, việc xác định giá trị chứng minh của loại chứng cứ này vẫn còn nhiều khoảng trống cần tiếp tục hoàn thiện.
Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

THỂ CHẾ HÓA TĂNG TRƯỞNG XANH VÀ BÀI TOÁN AN NINH NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA: ĐỘT PHÁ CƠ CHẾ, HÀNH ĐỘNG CHIẾN LƯỢC

Trong cấu trúc an ninh phi truyền thống hiện đại, an ninh năng lượng đóng vai trò là “mạch máu” sống còn, quyết định sức bền kinh tế và vị thế quốc gia. Bước vào giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu bứt phá tăng trưởng GDP ở mức hai con số gắn liền với cam kết lịch sử phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, Việt Nam đứng trước bài toán vừa bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng trước biến động địa chính trị toàn cầu, vừa chủ động chuyển dịch năng lượng xanh theo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH VÀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM, TẠO ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG XANH, BỀN VỮNG

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả không chỉ là giảm bớt hóa đơn tiền điện, mà còn trở thành “chìa khóa” bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, bảo vệ môi trường và hướng tới tăng trưởng xanh. Đứng trước những biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu, sự ra đời của các văn bản chỉ đạo chiến lược như Chỉ thị số 09/CT-TTg, Chỉ thị số 10/CT-TTg và Công điện số 27/CĐ-TTg từ Chính phủ đang tạo ra những bước ngoặt lớn. Cuộc cách mạng này đòi hỏi sự đồng bộ từ hoàn thiện hành lang pháp lý, đổi mới công nghệ, đến sự thay đổi tư duy và hành động của mỗi người dân, doanh nghiệp.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 2)

Du lịch xanh, du lịch bền vững đã trở thành xu hướng phổ biến tại Việt Nam, nhưng để tiến tới mục tiêu "du lịch Net Zero", ngành Du lịch cần có nhiều thay đổi theo chiều sâu: từ việc xây dựng những sản phẩm xanh sang xây dựng những doanh nghiệp lữ hành thực sự bền vững. Đây là cả một quá trình bởi phát triển "du lịch Net Zero" không chỉ liên quan đến môi trường mà còn đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về mô hình kinh doanh, sản phẩm, công nghệ, nhân lực, quan hệ với cộng đồng và cách thức ứng xử với các giá trị văn hóa.
“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

“DU LỊCH NET ZERO” - BẢO TỒN GIÁ TRỊ VĂN HÓA, KIẾN TẠO HÀNH TRÌNH XANH (KỲ 1)

Du lịch Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới, trong đó yêu cầu tăng trưởng không thể tách rời nhiệm vụ bảo tồn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc dân tộc. Nếu thiên nhiên tạo nên diện mạo của đất nước thì văn hóa chính là chiều sâu, là ký ức, là “hồn cốt” để Việt Nam trở thành một điểm đến khác biệt trong mắt du khách trong nước và quốc tế. Bởi vậy, phát triển du lịch hôm nay không chỉ là câu chuyện về lượng khách, doanh thu hay số lượng cơ sở lưu trú, mà còn là câu chuyện về cách gìn giữ di sản, bảo vệ cảnh quan, duy trì lối sống cộng đồng và trao truyền những giá trị văn hóa Việt Nam cho các thế hệ mai sau. Trong câu chuyện đó, doanh nghiệp lữ hành đóng vai trò trung tâm, là “cầu nối” đưa văn hoá Việt Nam đến với du khách.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.

Theo dõi chúng tôi trên: