Thứ năm 12/03/2026 23:09
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp khắc phục rào cản về thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự

Trong bài viết này, trên cơ sở phân tích, đánh giá những hạn chế, khó khăn trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự, tác giả gợi mở một số đề xuất, giải pháp khắc phục những rào cản nhằm đảm bảo khả năng thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự.


1. Những hạn chế và khó khăn trong việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự

Trong Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 1999) đã có quy định liên quan đến các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), đến Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (gọi tắt là Bộ luật Hình sự năm 2015) có những sự thay đổi để phù hợp với thực tiễn đấu tranh phòng chống nhóm tội phạm này. Cụ thể, pháp luật hình sự hiện hành đã bỏ tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; sửa đổi, bổ sung quy định liên quan đến tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo hướng cụ thể hóa số tiền thu lợi bất chính hoặc giá trị thiệt hại gây ra cho chủ thể quyền tác giả, quyền liên quan (hoặc chủ sở hữu nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý) hoặc giá trị hàng hóa vi phạm làm cơ sở để định tội và định khung hình phạt; quy định trách nhiệm của pháp nhân thương mại khi vi phạm quyền tác giả, quyền liên quan, cũng như vi phạm quyền sở hữu công nghiệp.

Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 còn sửa đổi, bổ sung một số quy định khác liên quan đến các tội phạm này như tách Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 1999 thành 02 tội danh độc lập[1]; mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền... làm cơ sở pháp lý đầy đủ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Bên cạnh sự ra đời của Bộ luật Hình sự năm 2015, các văn bản pháp luật khác như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2015; Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 cũng được ban hành, tạo khung pháp lý đầy đủ và vững chắc cho việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm nói chung và các tội xâm phạm quyền SHTT nói riêng. Tuy nhiên, còn những rào cản cơ bản đối với việc thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hình sự, cụ thể:

Một là, hạn chế trong quy định của pháp luật hình sự. Mặc dù, Bộ luật Hình sự năm 2015 về cơ bản đã khắc phục được những hạn chế trong Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tội xâm phạm quyền SHTT, tuy nhiên qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, trong pháp luật hình sự hiện hành vẫn còn một số hạn chế, vướng mắc như:

- Trong các tội xâm phạm quyền SHTT, thì tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp chỉ được khởi tố khi có đơn yêu cầu của người bị hại. Lợi dụng quy định này, các đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp khi bị phát hiện thì sử dụng thủ đoạn thỏa thuận, mua chuộc các chủ sở hữu đối tượng sở hữu công nghiệp để họ không yêu cầu khởi tố vụ án. Điều này, đã tạo ra khó khăn cho công tác phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi trên, đồng thời không đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

- Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn chưa làm rõ dấu hiệu định tội “với quy mô thương mại” trong tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hiện nay, thuật ngữ “quy mô thương mại” được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được diễn giải khác nhau ở từng quốc gia. Nhìn chung hành vi xâm phạm với “quy mô thương mại” được hiểu là: (i) Các hành vi được thực hiện một cách có chủ ý nhằm mục đích sinh lợi, không kể giá trị của vi phạm; (ii) Hoặc là những hành vi tuy không nhằm mục đích sinh lợi nhưng gây ảnh hưởng lớn đến quyền khai thác tài sản trí tuệ của chủ thể quyền.

Nếu thừa nhận cách hiểu chung như (i) dẫn tới không tính đến giá trị vi phạm thì sẽ truy cứu trách nhiệm tràn lan bất kỳ số lượng, giá trị nào. Còn nếu hiểu theo (ii) thì việc thế nào là gây ảnh hưởng đến quyền khai thác tài sản trí tụệ, lại không cụ thể, khó xác định.

Có quan điểm cho rằng[2], “quy mô thương mại” đã được cụ thể hóa ở Thông tư liên tịch số 01/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 29/02/2008 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn việc truy cứu trách nhiệm hình sư đối với các hành vi xâm phạm quyền SHTT. Đó là đánh giá bằng tiêu chí mức độ từ nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng thể hiện bằng tiêu chí lợi nhận. Như vậy, “quy mô thương mại” được hiểu là “từ mức độ nghiêm trọng trở lên cho đến rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng” và mức độ được xác định bằng lợi nhuận, giá trị gây thiệt hại và giá trị hàng hóa. Tuy nhiên, ngay trong dấu hiệu định tội của hai tội danh này đã đề cập đến khoản “thu lợi bất chính”, “giá trị gây thiệt hại” và “giá trị hàng hóa vi phạm”[3], như vậy thuật ngữ “quy mô thương mại” không thể hiểu theo cách này.

- Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ quy định hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý, nhưng theo quy định của khoản 4 Điều 4 của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), thì nội hàm của quyền sở hữu công nghiệp còn bao gồm: Sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, tên thương mại và bí mật kinh doanh. Trong các đối tượng này ta thấy rằng, sáng chế, bí mật kinh doanh là những đối tượng rất quan trọng của quyền sở hữu công nghiệp, quyết định vấn đề thành công hay thất bại của các chủ thể kinh doanh. Do đó, các hành vi xâm hại cũng có thể gây ra những hậu quả rất lớn đối với chủ thể quyền sáng chế hoặc bí mật kinh doanh, nhưng vẫn chưa được pháp luật hình sự bảo vệ.

- Chưa có sự phân định rõ ràng giữa tội sản xuất buôn bán hàng giả với tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp trong trường hợp đối tượng hàng giả là nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý. Đây chính là trường hợp sử dụng các dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức không thể phân biệt được với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho cùng một loại hàng hóa. Điều này dẫn đến việc một hành vi xâm phạm nhưng thỏa mãn nhiều tội danh, khiến việc áp dụng tùy tiện, không thống nhất và không công bằng trong tố tụng hình sự[4].

Hai là, tình hình tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng đa dạng, phức tạp

Đầu tháng 5/2012, cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ đã công bố báo cáo hàng năm về tình hình bảo hộ SHTT ở các nước đối tác của Hoa Kỳ trên thế giới, trong đó đáng lưu ý là Báo cáo đặc biệt số 301 trong 2 năm liên tiếp 2014 và 2015, Văn phòng Bộ Thương mại Hoa Kỳ (USTR) đã xếp Việt Nam vào danh sách các quốc gia cần ưu tiên theo dõi về tình trạng xâm phạm quyền SHTT.

Theo thống kê từ Chương trình phối hợp hành động phòng và chống xâm phạm quyền SHTT (Chương trình 168) giai đoạn II[5], trong giai đoạn 2012-2015, các lực lượng chức năng của các Bộ, ngành đã chủ trì, phối hợp tiến hành thanh tra, kiểm tra 25.966 vụ việc có dấu hiệu xâm phạm quyền SHTT, sản xuất, buôn bán hàng giả. Qua đó, đã xử lý vi phạm hành chính 25.543 vụ việc, trong đó cảnh cáo 68 vụ việc, phạt tiền 23.197 vụ việc với tổng số tiền phạt gần 97 tỷ đồng, khởi tố 381 vụ với 553 bị can, xét xử 55 vụ.

Từ thống kê trên, có thể thấy rằng, các hành vi xâm phạm quyền SHTT ngày càng diễn biến phức tạp, số vụ vi phạm rất lớn. Tuy nhiên, phần lớn các vụ việc đều được xử lý bằng biện pháp hành chính, tỷ lệ vụ việc bị khởi tố và xét xử vụ án hình sự rất ít. Lý do chủ yếu là đa số các hành vi vi phạm chưa đủ yếu tố để cấu thành tội phạm, mặt khác biện pháp hành chính dễ áp dụng hơn so với việc áp dụng biện pháp hình sự. Điều này dẫn đến thực trạng các hành vi xâm phạm vẫn gia tăng vì (một phần) chế tài không đủ sức răn đe, không tương xứng với hành vi xâm phạm. Các hành vi phạm tội chủ yếu tập trung vào các tội liên quan đến hàng giả và quyền sở hữu công nghiệp, các hành vi này ngày càng tăng về số lượng và rất tinh vi, phức tạp.

Ba là, cơ chế thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự còn yếu. Hiện nay, ở Việt Nam có 06 cơ quan thực thi quyền SHTT là công an, Tòa án, quản lý thị trường, hải quan, thanh tra chuyên ngành, Ủy ban nhân dân các cấp. Tuy đã có sự phân công chức năng, nhiệm vụ của từng ngành trong lĩnh vực thực thi quyền SHTT, nhưng vẫn tồn tại thực tế là các ngành chức năng hoạt động chưa thực sự hiệu quả, chồng chéo nhau. Sự phối hợp liên kết giữa các ngành còn thiếu chặt chẽ, do đó các hành vi xâm phạm không được khởi tố kịp thời hoặc khi bị khởi tố, thì cơ quan điều tra gặp nhiều khó khăn trong việc thu thập chứng cứ, chứng minh vụ án, chưa kể các vụ án này phần lớn liên quan đến các doanh nghiệp, tuy nhiên các doanh nghiệp cũng ít phối hợp để giải quyết. Bên cạnh đó, có nhiều thẩm phán, điều tra viên, ít được đào tạo về SHTT nên gây khó khăn trong việc nhận diện tội phạm, đặc biệt là những trường hợp phạm tội về nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, mặt khác chúng ta cũng chưa có tòa án chuyên ngành để thụ lý, giải quyết nên rất khó khăn.

Bốn là, thách thức từ các chuẩn mực cao về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các hiệp định thương mại quốc tế. Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đã và đang tham gia nhiều hiệp định thương mại quốc tế có liên quan đến SHTT. Phần lớn các hiệp định này đều đưa ra các tiêu chuẩn bảo hộ quyền SHTT ở mức độ cao như: Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… đòi hỏi pháp luật SHTT Việt Nam phải hoàn thiện và tương thích. Trong các hiệp định, thì TRIPs được đánh giá là hiệp định toàn diện nhất về SHTT. Theo Điều 61 Hiệp định TRIPs thì “các thành viên phải quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dụng ít nhất đối với các trường hợp cố tình giả mạo nhãn hiệu hàng hoá hoặc vi phạm bản quyền với quy mô thương mại”. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã cụ thể hóa quy định này trong hai tội danh đó là tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan và tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, cấu thành tội phạm của hai tội danh khá tương thích với quy định của TRIPs. Bên cạnh TRIPs, Hiệp định EVFTA, Hiệp định CPTPP được xem là những hiệp định rất quan trọng đối với việc hội nhập, phát triển nền kinh tế Việt Nam, đặt ra rất nhiều thách thức về bảo hộ quyền SHTT như bảo hộ về quyền tác giả, về sở hữu công nghiệp, về dược phẩm... Những chuẩn mực cao trong các hiệp định chính là động lực thúc đẩy chúng ta hoàn thiện về pháp luật, về biện pháp thực thi quyền SHTT, nhưng cũng là những thách thức đòi hỏi chúng ta phải vượt qua. Đảm bảo vấn đề thực thi quyền SHTT là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu quả và sự tương thích trong quy định về SHTT của pháp luật quốc gia với luật quốc tế. Tuy nhiên, biện pháp hình sự (cho đến nay) vẫn chưa thật sự phát huy hiệu quả áp dụng, chúng ta vẫn thiên nhiều về áp dụng biện pháp hành chính đối với những vi phạm, điều này tạo thành “thói quen” áp dụng và hạn chế mục đích răn đe của pháp luật.

2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự

Đứng trước những rào cản và thách thức hiện nay liên quan đến thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hình sự, việc tìm ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và các cơ chế thực thi là rất cần thiết, trong phạm vi bài viết này, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể sau:

Thứ nhất, giải pháp khắc phục những hạn chế trong các quy định của Bộ luật Hình sự

- Bổ sung thêm vào Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 về đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp là sáng chế và bí mật kinh doanh. Như vậy, đối tượng quyền sở hữu công nghiệp của tội phạm này sẽ gồm có: nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, sáng chế và bí mật kinh doanh. Quy định này nhằm mục đích bảo hộ đầy đủ và phù hợp hơn đối với các đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp trước các hành vi xâm phạm bị coi là tội phạm.

- Ban hành văn bản hướng dẫn dấu hiệu “với quy mô thương mại” hoặc bỏ dấu hiệu này. Bởi vì theo quy định tại khoản 1 Điều 225 và Điều 226 thì dấu hiệu định tội bao gồm: (i) Hành vi xâm phạm “với quy mô thương mại” hoặc (ii) căn cứ vào “lợi nhuận”, “giá trị gây thiệt hại”, “trị giá hàng hóa vi phạm”[6], như vậy dấu hiệu (ii) đã thể hiện được “quy mô thương mại”. Thực chất, dấu hiệu này được đưa vào từ Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 cho phù hợp với TRIPs, tuy nhiên trong Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009 chưa quy định rõ ràng các dấu hiệu (ii) như trong Bộ luật Hình sự năm 2015 và đến thời điểm trước khi có Bộ luật Hình sự năm 2015, chúng ta vẫn ngầm hiểu thuật ngữ “với quy mô thương mại” như dấu hiệu (ii) mà Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định, nên vô hình chung, dấu hiệu “với quy mô thương mại” hiện nay làm cho điều luật không rõ ràng, thậm chí bị dư thừa.

- Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể trường hợp nào thì hành vi giả về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý sẽ áp dụng các tội về sản xuất buôn bán hàng giả để giải quyết, trường hợp nào sẽ áp dụng tội xâm phạm sở hữu công nghiệp. Có quan điểm cho rằng[7], trên thực tế, chỉ cần áp dụng Điều 226 là đã bao hàm hết tất cả các dạng hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp về nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý, trong đó bao gồm cả hành vi giả mạo về hình thức. Tác giả đồng ý với quan điểm này, do đó nếu rơi vào trường hợp này, chúng ta sẽ thống nhất xử lý về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp mà không áp dụng các tội về sản xuất buôn bán hàng giả.

Ngoài ra, để tránh trường hợp người phạm tội mua chuộc hoặc có các thủ đoạn để người bị hại không yêu cầu hoặc rút đơn khởi tố, gây khó khăn cho quá trình tố tụng, Bộ luật Tố tụng hình sự không nên quy định tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp là tội danh chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc là người đại diện hợp pháp của người bị hại. Tội danh này, không chỉ xâm phạm đến chủ thể quyền mà còn xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế và đặc biệt xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, do đó Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 càng không nên đưa tội danh này vào.

Thứ hai, cần hoàn thiện cơ chế thực thi quyền SHTT và nâng cao năng lực chuyên môn về SHTT cho đội ngũ chuyên trách. Thực hiện biện pháp này thông qua việc mở các khóa đào tạo, tập huấn chuyên sâu về lĩnh vực SHTT cho kiểm sát viên, điều tra viên, thẩm phán về SHTT. Các cá nhân, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết các tội phạm phải có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, đặc biệt là trong giai đoạn điều tra thu thập chứng cứ, chứng minh vụ án. Ngoài ra, những vụ việc nào có dấu hiệu tội phạm thì phải xem xét khởi tố kịp thời để đảm bảo tính răn đe và áp dụng chế tài tương xứng với hành vi xâm phạm, tránh trường hợp “lạm dụng” áp dụng biện pháp hành chính để giải quyết.

Thứ ba, các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam cần chú trọng hơn đến quyền SHTT. Để thực thi quyền SHTT bằng biện pháp hình sự hiệu quả, doanh nghiệp và người tiêu dùng đóng vai trò rất to lớn. Đối với doanh nghiệp phải xác định rõ tầm quan trọng của tài sản trí tuệ, coi tài sản trí tuệ là một bộ phận không tách rời trong khối tài sản nói chung của doanh nghiệp để biết tự bảo vệ tài sản trí tuệ của mình. Để làm tốt vấn đề này, các doanh nghiệp cần tự trang bị cho mình kiến thức về SHTT cũng như xây dựng cơ chế bảo hộ quyền SHTT của doanh nghiệp mình nhằm phòng ngừa và chống lại những hành vi xâm phạm quyền SHTT. Điều này còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại quốc tế có chuẩn mực về quyền SHTT như TRIPs, CPTPP, EVFTA... như tác giả đã đề cập. Bên cạnh đó, cần nâng cao ý thức của người tiêu dùng về pháp luật SHTT nói chung và các tội xâm phạm quyền SHTT nói riêng để mọi người hiểu được tác hại của việc xâm phạm quyền SHTT, hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân, đơn vị, tổ chức mình, từ đó, người dân sẽ tự giác không sử dụng hàng giả, hàng vi phạm quyền SHTT, đồng thời tích cực tham gia cùng lực lượng chức năng phát hiện đấu tranh và ngăn ngừa tội phạm một cách hiệu quả.

Từ những khó khăn, hạn chế trên đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực tìm kiếm giải pháp hoàn thiện và nghiêm túc thực hiện các giải pháp khắc phục những rào cản nhằm đảm bảo khả năng thực thi quyền sở hữu trí tuệ bằng biện pháp hình sự, góp phần vào công tác đấu tranh phòng ngừa và chống loại tội phạm này, cũng như tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, thu hút đầu tư và phát triển nền kinh tế của đất nước trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

ThS. Trần Văn Hải

Khoa Luật Hình sự, Đại học Luật - Đại học Huế


[1] Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh tại Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 1999 được tách thành hai tội: (1) Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193) và (2) Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194).

[2] Nguyễn Thị Quế Anh (2014), Hiệp định Trips: Những tác động tới quy định về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (Luật học), tập 30, số 2 năm 2014.

[3] Xem thêm khoản 1 Điều 225 và khoản 1 Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì tội danh tại Điều 226 chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại, còn tội sản xuất buôn bán hàng giả (tại Điều 195, 196,197,198) thì không áp dụng quy định này.

[5] Chương trình phối hợp hành động phòng và chống xâm phạm quyền SHTT giai đoạn II (2012-2015) do Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Bộ Tài chính; Bộ Công thương; Bộ Công an; Bộ Thông tin và Truyền thông; Tòa án nhân dân tối cao; Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức.

[6] Quy định này vốn cụ thể hóa từ Thông tư liên tịch số 01/2008/ TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP.

[7] Nguyễn Thị Quế Anh (2014), Hiệp định Trips: Những tác động tới quy định về các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (Luật học), tập 30, số 2 năm 2014.

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ[1]. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
[1] Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.
Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Việc bỏ phiếu trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bỏ phiếu, cách ghi phiếu bầu, việc viết hộ, bỏ hộ phiếu và xử lý Thẻ cử tri nhằm bảo đảm việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân diễn ra đúng quy định.
Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân

Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tính dân chủ, minh bạch và hợp pháp của quá trình bầu cử. Pháp luật Việt Nam thiết lập cơ chế này trên cơ sở kết hợp giữa các quy định đặc thù của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân với các quy định chung của pháp luật về khiếu nại, tố cáo, qua đó hình thành khung pháp lý cho việc tiếp nhận, xem xét và xử lý các khiếu nại, tố cáo phát sinh trong quá trình bầu cử.
Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Xét xử vụ án in, phát hành sách giáo khoa giả: Làm rõ trách nhiệm, siết chặt bảo vệ bản quyền xuất bản

Một vụ án in và phát hành sách giáo khoa giả vừa được đưa ra xét xử đã tiếp tục gióng lên hồi chuông cảnh báo về tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản, đặc biệt là đối với sách giáo dục - mặt hàng có nhu cầu cao và ảnh hưởng trực tiếp đến hàng triệu học sinh.
Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Bầu cử sớm đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được tổ chức thống nhất vào ngày 15/3/2026 theo Nghị quyết của Quốc hội. Tuy nhiên, pháp luật cho phép tổ chức bỏ phiếu sớm trong những trường hợp đặc biệt nhằm bảo đảm quyền bầu cử của công dân không thể tham gia bỏ phiếu vào ngày chính thức. Việc tổ chức bầu cử sớm phải tuân thủ chặt chẽ các nguyên tắc về thẩm quyền quyết định, trình tự thủ tục, kiểm phiếu, niêm phong, bảo mật kết quả và kỷ luật thời gian bỏ phiếu theo đúng quy định của Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Nguyên tắc và những hành vi bị cấm trong vận động bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp

Vận động bầu cử của người ứng cử là hoạt động gặp gỡ, tiếp xúc cử tri hoặc thông qua phương tiện thông tin đại chúng để người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân báo cáo với cử tri về dự kiến chương trình hành động của mình nhằm thực hiện trách nhiệm đại biểu nếu được bầu làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và trao đổi những vấn đề mà cử tri quan tâm; tạo điều kiện để cử tri tiếp xúc với người ứng cử, hiểu rõ hơn người ứng cử; trên cơ sở đó cân nhắc, lựa chọn, bầu những người đủ tiêu chuẩn làm đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.
Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu thượng tôn Hiến pháp và pháp luật không chỉ đặt ra đối với hoạt động của bộ máy nhà nước mà trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong xã hội. Pháp luật chỉ thực sự phát huy vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội khi được các chủ thể tiếp nhận, tôn trọng, tuân thủ thực hiện trên tinh thần chủ động, tự giác, gắn với niềm tin vào công bằng và trật tự xã hội. Thực tiễn cho thấy, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật trong một số lĩnh vực vẫn diễn biến phức tạp; còn tồn tại khoảng trống giữa nhận thức pháp luật và hành vi tuân thủ; tâm lý tuân thủ thụ động, mang tính tình thế, phụ thuộc vào sự kiểm tra, giám sát và xử lý của cơ quan có thẩm quyền. Những biểu hiện này phản ánh việc tuân thủ pháp luật chưa thực sự trở thành chuẩn mực văn hóa trong xã hội. Vì vậy, việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố tác động, đánh giá đúng thực trạng, đề xuất nhiệm vụ, giải pháp xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần thể chế hóa chủ trương của Đảng, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, mạnh, bền vững trong bối cảnh mới.
Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Vui xuân có thưởng - Niềm vui ngày Tết cần được đặt trong khuôn khổ pháp luật

Tết Nguyên đán là dịp đoàn viên, nghỉ ngơi và tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí đầu năm, góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của mỗi gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, một số hình thức vui chơi có thưởng có thể vượt ngoài khuôn khổ pháp luật nếu không được nhận diện đúng. Từ yêu cầu bảo đảm kỷ cương, pháp luật trong dịp Tết, việc làm rõ ranh giới pháp lý giữa vui xuân có thưởng và hành vi vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng.
Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Con người toàn diện - Trọng tâm đổi mới giáo dục

Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW) đặt ra những yêu cầu mang tính chiến lược đối với xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành lớp trí thức mới - vừa có năng lực chuyên môn, vừa có bản lĩnh, nhân cách và tinh thần phụng sự xã hội. Nhân dịp này, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đào Thanh Trường - Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, xung quanh quan điểm xây dựng con người toàn diện, các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, cũng như những định hướng tích hợp giáo dục nhân văn với khoa học, công nghệ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Hiện thực hóa đột phá chiến lược từ các nghị quyết của Đảng - Động lực phát triển Trường Cao đẳng cơ điện Hà Nội vươn tầm trong kỷ nguyên mới

Mùa xuân về không chỉ mang theo nhựa sống của thiên nhiên mà còn là thời điểm để nhìn lại những thành quả của năm qua. Xuân Bính Ngọ 2026, với Trường Cao đẳng Cơ điện Hà Nội (HCEM), là một mùa xuân đặc biệt - mùa xuân của sự cộng hưởng giữa niềm tự hào về hành trình 80 năm đất nước độc lập và quyết tâm chính trị cao để hiện thực hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây chính là “chìa khóa” để HCEM bứt phá, vươn tầm quốc tế, trở thành biểu tượng của nền giáo dục nghề nghiệp (GDNN) hiện đại trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Khơi mở không gian phát triển mới cho quốc gia bằng sức mạnh chuyển đổi số

Năm 2025 được xem là cột mốc bản lề trên hành trình đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên số toàn diện. Trong không khí Xuân Bính Ngọ 2026, Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ KH&CN) Trần Duy Ninh chia sẻ với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật về những thành quả nổi bật, tầm nhìn, cơ hội và kỳ vọng đặt vào đội ngũ trí thức công nghệ, với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, tự chủ và thịnh vượng trên nền tảng số.
Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Hành lang pháp lý ổn định - Nền tảng để doanh nghiệp tự tin bước vào kỷ nguyên mới

Nhìn lại hành trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đội ngũ doanh nhân Việt Nam tiếp tục là lực lượng năng động, sáng tạo và đóng góp quan trọng vào tăng trưởng. Tuy nhiên, bối cảnh hội nhập sâu, rộng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh. Nhân dịp xuân mới, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Vinh - Phó Chủ tịch Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về kỳ vọng đổi mới và yêu cầu xây dựng hành lang pháp lý ổn định để doanh nghiệp Việt Nam tự tin phát triển trong giai đoạn mới.
Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Doanh nhân và công lý: Gặp nhau ở khát vọng xây dựng quốc gia tự cường

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, đội ngũ doanh nhân Việt Nam được kỳ vọng trở thành lực lượng kiến tạo thịnh vượng quốc gia. Khát vọng ấy chỉ có thể nảy nở và lớn lên trong hệ sinh thái pháp lý minh bạch, an toàn và tạo động lực.

Theo dõi chúng tôi trên: