Thứ hai 07/09/2026 04:28
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự

Đối với khiếu nại văn bản, hành vi của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm: Khiếu nại thông báo không thụ lý giải quyết khiếu nại, trả lời đơn; khiếu nại chậm giải quyết khiếu nại; không thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cần hướng dẫn không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà có công văn trả lời đương sự nội dung khiếu nại không thuộc trường hợp được giải quyết khiếu nại theo Điều 140 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Thực trạng công tác tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự cho thấy, bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và công dân ở Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Nhiều quy định pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự chưa cụ thể, chưa thực sự tạo cơ hội thuận lợi cho việc sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và công dân. Mặt khác, vẫn còn một số nơi, các cấp chính quyền, các ngành thiếu sự phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, đùn đẩy trách nhiệm, dẫn đến tình trạng chậm giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, từ đó làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự cũng như làm giảm lòng tin của người khiếu nại, tố cáo vào đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, cản trở công cuộc cải cách tư pháp hướng tới nền tư pháp hiện đại, vững mạnh.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thi hành án dân sự nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng đạt hiệu quả cao hơn, bài viết đưa ra giải pháp nhằm giải quyết vướng mắc của một số quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự và những tình huống phát sinh từ thực tiễn.

1. Hoàn thiện thể chế

Về lâu dài, do pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự gắn liền với pháp luật về thi hành án dân sự nên khi Luật Thi hành án dân sự thay đổi, đặc biệt trường hợp có sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức bộ máy phù hợp với xu thế chung của thế giới về lĩnh vực thi hành án dân sự thì quy định về thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đó cũng sẽ thay đổi theo. Với bối cảnh pháp luật về thi hành án dân sự như hiện nay, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) hoặc ban hành văn bản hướng dẫn đối với các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu quy định về tiêu chí phân biệt khiếu nại với tố cáo trong thi hành án dân sự

Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng, việc quy định phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo trong thi hành án dân sự hiện nay là không rõ ràng, khó có thể phân biệt rạch ròi giữa khiếu nại và tố cáo. Do đó, cần có tiêu chí để phân biệt khiếu nại với tố cáo. Nghiên cứu pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự cho thấy khiếu nại và tố cáo khác nhau ở những điểm cơ bản sau:

- Về chủ thể thực hiện khiếu nại, tố cáo: Luật Thi hành án dân sự cho phép nhiều chủ thể thực hiện khiếu nại, bao gồm: Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong đó, “đương sự” bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án. Còn chủ thể thực hiện tố cáo lại rất rộng là “công dân” (Điều 154 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

- Về đối tượng, mục đích của khiếu nại, tố cáo: Đối tượng bị khiếu nại là “quyết định, hành vi” của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự; đối tượng bị tố cáo là “hành vi vi phạm pháp luật” của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

- Về mức độ vi phạm giữa khiếu nại và tố cáo: Về khiếu nại, bất kỳ quyết định, hành vi nào của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự đều bị khiếu nại. Đối với tố cáo, chủ thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự “gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại” đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Nghiên cứu về mặt lý luận cho thấy, chỉ có thể xác định một người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi hành vi đó có đầy đủ các yếu tố mà từ đó vi phạm pháp luật hình thành. Các yếu tố (dấu hiệu) vi phạm pháp luật được quy định trong các quy phạm pháp luật. Khái quát hành vi vi phạm pháp luật cấu thành từ các yếu tố: Tính trái pháp luật, có lỗi, năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể.

Để đánh giá đúng đắn về mặt pháp lý hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật hay không, cần xác định tình trạng tâm lý và khuynh hướng ý chí của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác khi họ có vi phạm, tức là xem xét yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là yếu tố quan trọng.

Như vậy, vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự thực hiện, xâm phạm tới những quan hệ xã hội được pháp luật về thi hành án dân sự điều chỉnh và bảo vệ.

- Về quyền của người khiếu nại, người tố cáo: Người khiếu nại có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại, nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại. Người tố cáo có các quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (không được ủy quyền cho người khác).

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thi hành một số quy định

- Quy định cụ thể về “đương sự” được quyền khiếu nại là những đối tượng nào, thế nào là “người liên quan” được quyền khiếu nại về thi hành án dân sự.

- Nghiên cứu chế định xử lý kiên quyết đối với những trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, gây rối; quy định các biện pháp chế tài đối với các trường hợp lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo xúc phạm cơ quan và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là những đối tượng xúi giục công dân thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Hướng dẫn các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện quy trình ra thông báo chấm dứt khiếu nại, tố cáo và thông báo không thụ lý đối với vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài về thi hành án dân sự đã được giải quyết đúng chính sách pháp luật, thấu tình, đạt lý; trường hợp đã được người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo giải quyết dứt điểm, đúng quy định pháp luật nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo đến nhiều cơ quan chức năng ở trung ương, địa phương, đặc biệt là trường hợp cố tình khiếu nại, tố cáo nhằm kéo dài, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

- Sửa đổi, bổ sung đầy đủ biểu mẫu về giải quyết khiếu nại, tố cáo; sổ theo dõi công tác giải quyết khiếu nại; các biểu mẫu báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

2. Cần có văn bản hướng dẫn các cơ quan thi hành án dân sự địa phương về những vấn đề pháp luật đã quy định nhưng chưa rõ ràng để áp dụng thống nhất

Điều 37 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định trường hợp thu hồi quyết định thi hành án là bao gồm cả thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự.

Đối với khiếu nại văn bản, hành vi của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm: Khiếu nại thông báo không thụ lý giải quyết khiếu nại, trả lời đơn; khiếu nại chậm giải quyết khiếu nại; không thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cần hướng dẫn không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà có công văn trả lời đương sự nội dung khiếu nại không thuộc trường hợp được giải quyết khiếu nại theo Điều 140 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Trường hợp đối tượng tố cáo bị thu hồi, hủy bỏ (quyết định về thi hành án) trước và trong khi người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có xem xét, giải quyết tố cáo cần xác định, nếu hành vi ban hành quyết định về thi hành án đã bị thu hồi, hủy bỏ là hành vi vi phạm pháp luật thì phải giải quyết tố cáo theo quy định.

3. Tập huấn nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Hướng dẫn việc áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo bảo đảm giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục;

- Vấn đề hiểu thế nào là người liên quan được quyền khiếu nại;

- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chỉ ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về trình tự, thủ tục thi hành án; không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thông báo không thụ lý khiếu nại, khiếu nại công văn hướng dẫn nghiệp vụ...

Ngoài ra, hiện nay, Tổng cục Thi hành án dân sự đang nghiên cứu đề tài cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự”. Kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự; là nguồn tham khảo cho các cơ quan trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong quá trình quản lý, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự cũng như sửa đổi, bổ sung các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự; góp phần bảo đảm và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự nói riêng.

TS. Nguyễn Thanh Thủy

Tổng cục Thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Bước đổi mới trong quản lý ngân sách đáp ứng yêu cầu chính quyền địa phương hai cấp

Ngày 25/6/2025, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 (Luật số 89/2025/QH15) đánh dấu bước quan trọng trong tư duy lập pháp, quản lý của Nhà nước đối với hệ thống ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp trên phạm vi toàn quốc. Bài viết đề cập nội dung của Luật Ngân sách nhà nước năm 2025 gắn với việc tổ chức mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, làm rõ những kết quả từ việc sửa đổi Luật phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức bộ máy hành chính hiện nay.
Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Yêu cầu đồng bộ dữ liệu trong cải cách thủ tục hành chính

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp, cải cách thủ tục hành chính tiếp tục được đẩy mạnh gắn với chuyển đổi số, phân cấp, phân quyền và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp. Kết quả thực hiện trong tháng 8/2026 cho thấy nhiều chuyển biến tích cực, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục đồng bộ dữ liệu, hoàn thiện quy trình và nâng cao hiệu quả phối hợp trong cải cách thủ tục hành chính.
Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Cải cách thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu hướng tới đổi mới phương thức vận hành

Theo Báo cáo số 732/BC-BTP ngày 28/8/2026 của Bộ Tư pháp về tình hình, kết quả cải cách thủ tục hành chính (TTHC) tháng 8 và nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026, cải cách TTHC đang chuyển sang một giai đoạn mới, trong đó dữ liệu và công nghệ số ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quản trị và tổ chức thực hiện. Việc khai thác, kết nối, chia sẻ dữ liệu để tái cấu trúc quy trình, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục đang từng bước làm thay đổi phương thức quản lý, hướng tới nền hành chính hiện đại, hiệu quả, phục vụ tốt hơn người dân và doanh nghiệp.
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong chuyển đổi số

Bài viết phân tích yêu cầu tái cấu trúc phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện tiếp tục tinh gọn tổ chức bộ máy và đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia. Từ cách tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ sự dịch chuyển từ bảo vệ bằng tuyên truyền tuyến tính sang bảo vệ bằng năng lực thể chế hóa, năng lực quản trị và hiệu quả tổ chức thực hiện; đồng thời phân tích vai trò của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 66-NQ/TW) và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW) như hai trục lớn của quá trình tái cấu trúc này. Trên cơ sở đó, bài viết khảo sát thực tiễn thi hành án dân sự, qua đó cho thấy “gọn hơn về tổ chức, mạnh hơn về quản trị” không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính, mà còn là một phương thức củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị.
Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Chuyển đổi số trong an toàn, vệ sinh lao động: Từ đổi mới phương thức huấn luyện đến phòng ngừa tai nạn bằng công nghệ

Trong bối cảnh tai nạn lao động vẫn diễn biến phức tạp, chuyển đổi số đang mở ra khả năng thay đổi căn bản phương thức quản trị an toàn, vệ sinh lao động (ATVSLĐ) tại doanh nghiệp. Từ số hóa hoạt động huấn luyện, cấp chứng nhận điện tử đến ứng dụng trí tuệ nhân tạo, cảm biến và robot để nhận diện, cảnh báo sớm nguy cơ, vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý để chuyển từ quản lý mang tính thủ tục, hậu kiểm sang quản trị chủ động, lấy phòng ngừa rủi ro làm trọng tâm.
Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi

Với mục tiêu đưa pháp luật đến gần hơn với người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thành phố Hà Nội đặt trọng tâm vào đổi mới nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, tăng cường ứng dụng công nghệ số và xây dựng đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán và văn hóa của người dân nơi đây.
Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Con người – “Chìa khóa” đánh thức nguồn lực phát triển văn hóa trong kỷ nguyên vươn mình

Trong bước chuyển mình của đất nước bước vào kỷ nguyên mới, văn hóa đang được đặt ở vị trí ngày càng quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Cùng với đó, con người được xác định là trung tâm của sự nghiệp phát triển văn hóa khi vừa là chủ thể sáng tạo, gìn giữ, vừa là lực lượng trực tiếp biến những giá trị ấy thành nguồn lực phát triển cho đất nước.
Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Quan điểm, định hướng mới của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai

Ngày 16/6/2022, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao" (Nghị quyết số 18-NQ/TW). Để hiện thực hóa mục tiêu đưa đất nước trở thành nước phát triển có thu nhập cao, trong thời điểm hiện tại, nhằm phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra những quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan tại Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 28/7/2026 (Nghị quyết số 21-NQ/TW) làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động sửa đổi chính sách pháp luật sau này. Nghị quyết số 21-NQ/TW đã thể hiện những điểm mới trong chủ trương của Đảng về sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.
Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026: Mở rộng cơ hội đầu tư cho nhiều dự án

Luật Thủ đô năm 2026 được Quốc hội thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xây dựng và phát triển Thủ đô. Đáng chú ý, tại Điều 26 của Luật đã thiết lập khung chính sách tương đối toàn diện về thu hút đầu tư, ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và phát triển doanh nghiệp, mở rộng cơ hội cho nhiều dự án trên địa bàn Thành phố được tiếp cận các chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, tín dụng, hạ tầng, phát triển nhân lực và đổi mới sáng tạo.
Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Hoàn thiện pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật trong kỷ nguyên số theo hướng tuân thủ phòng ngừa

Tóm tắt: Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng phức tạp và thường xuyên thay đổi, việc tiếp cận, hiểu và sử dụng pháp luật trở thành thách thức đối với người dân. Mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay chủ yếu tập trung vào truyền đạt văn bản, chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu hỗ trợ người dân sử dụng pháp luật trong thực tiễn. Trên cơ sở phân tích xu hướng quốc tế về tiếp cận công lý lấy người dân làm trung tâm và ứng dụng công nghệ số, nghiên cứu đề xuất chuyển từ mô hình “phổ biến pháp luật” sang “hạ tầng tuân thủ phòng ngừa”, gắn phổ biến pháp luật với nhu cầu thực tiễn, cảnh báo sớm rủi ro pháp lý và hỗ trợ tra cứu, sử dụng pháp luật hiệu quả trong môi trường số.
Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng cho người gửi tiền ở Việt Nam

Tóm tắt: Trong bối cảnh ngân hàng số phát triển, thông tin chưa được kiểm chứng có thể tác động nhanh đến tâm lý và hành vi của người gửi tiền. Nghiên cứu phân tích quy định pháp luật và thực tiễn phổ biến, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hoạt động này chưa chú trọng đầy đủ đến mức độ hiểu và khả năng vận dụng pháp luật của người gửi tiền; nội dung còn thiên về tính chuyên môn; phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật và cơ chế cung cấp thông tin kịp thời còn hạn chế. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất hoàn thiện tiêu chí đánh giá, tích hợp thông tin pháp luật ngắn gọn vào dịch vụ ngân hàng số và tăng cường cung cấp thông tin chính thức, kịp thời nhằm bảo vệ người gửi tiền và củng cố niềm tin vào hệ thống ngân hàng.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới

Tóm tắt: Quyền con người phản ánh sự kết tinh những giá trị nhân phẩm cao quý của nhân loại. Nghiên cứu công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người là phân tích, đánh giá phương thức thể chế hóa các chủ trương của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời, đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 trước thách thức mới từ công nghệ số. Trên cơ sở tổng hợp và so sánh luật học, nghiên cứu phân tích, đánh giá vai trò của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người và thực trạng thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá tính phù hợp, khả thi của dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)* (dự thảo Luật). Từ đó, kiến nghị và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Tóm tắt: Luật Phòng, chống ma túy năm 2021 quy định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi nghiện ma túy mà không tự nguyện cai nghiện. Mặc dù không được xem là biện pháp xử lý hành chính nhưng biện pháp này mang tính cách ly người bị áp dụng khỏi cộng đồng. Để bảo vệ quyền của người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật cho phép các chủ thể liên quan khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa quy định quyền khởi kiện hay kháng cáo đối với quyết định này. Nghiên cứu phân tích bản chất pháp lý của quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đồng thời, đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp này.
Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Nâng cao trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định rõ trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cải cách tư pháp và chuyển đổi số quốc gia, vai trò này ngày càng trở nên quan trọng. Nghiên cứu phân tích cơ sở chính trị, pháp lý, thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Tòa án nhân dân; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện hoạt động này trong hệ thống Tòa án nhân dân.
Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

Tóm tắt: Sự phát triển của nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang làm thay đổi phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật, đồng thời, đặt ra nhiều thách thức trong kiểm soát thông tin pháp luật trên môi trường số. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, tình trạng lan truyền thông tin pháp luật sai lệch, thiếu kiểm chứng hoặc được tạo sinh bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo đang ảnh hưởng đến hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật và quyền tiếp cận thông tin pháp luật chính xác. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam, nghiên cứu phân tích bất cập trong kiểm soát thông tin pháp luật trên nền tảng số và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm chính xác của thông tin pháp luật trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Theo dõi chúng tôi trên: