Thứ hai 13/04/2026 18:38
Email: danchuphapluat@moj.gov.vn
Hotline: 024.627.397.37 - 024.62.739.735

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự

Đối với khiếu nại văn bản, hành vi của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm: Khiếu nại thông báo không thụ lý giải quyết khiếu nại, trả lời đơn; khiếu nại chậm giải quyết khiếu nại; không thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cần hướng dẫn không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà có công văn trả lời đương sự nội dung khiếu nại không thuộc trường hợp được giải quyết khiếu nại theo Điều 140 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Thực trạng công tác tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự cho thấy, bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và công dân ở Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại cần khắc phục. Nhiều quy định pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo về thi hành án dân sự chưa cụ thể, chưa thực sự tạo cơ hội thuận lợi cho việc sử dụng quyền khiếu nại, tố cáo của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và công dân. Mặt khác, vẫn còn một số nơi, các cấp chính quyền, các ngành thiếu sự phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, đùn đẩy trách nhiệm, dẫn đến tình trạng chậm giải quyết khiếu nại, tố cáo; quyết định giải quyết khiếu nại, kết luận nội dung tố cáo chưa được thực hiện nghiêm chỉnh, từ đó làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực thi hành án dân sự cũng như làm giảm lòng tin của người khiếu nại, tố cáo vào đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước, cản trở công cuộc cải cách tư pháp hướng tới nền tư pháp hiện đại, vững mạnh.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thi hành án dân sự nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo nói riêng đạt hiệu quả cao hơn, bài viết đưa ra giải pháp nhằm giải quyết vướng mắc của một số quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự và những tình huống phát sinh từ thực tiễn.

1. Hoàn thiện thể chế

Về lâu dài, do pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự gắn liền với pháp luật về thi hành án dân sự nên khi Luật Thi hành án dân sự thay đổi, đặc biệt trường hợp có sự thay đổi về cơ cấu, tổ chức bộ máy phù hợp với xu thế chung của thế giới về lĩnh vực thi hành án dân sự thì quy định về thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo theo đó cũng sẽ thay đổi theo. Với bối cảnh pháp luật về thi hành án dân sự như hiện nay, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) hoặc ban hành văn bản hướng dẫn đối với các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Những vấn đề cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu quy định về tiêu chí phân biệt khiếu nại với tố cáo trong thi hành án dân sự

Ở Việt Nam, có quan điểm cho rằng, việc quy định phân biệt giữa khiếu nại và tố cáo trong thi hành án dân sự hiện nay là không rõ ràng, khó có thể phân biệt rạch ròi giữa khiếu nại và tố cáo. Do đó, cần có tiêu chí để phân biệt khiếu nại với tố cáo. Nghiên cứu pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực thi hành án dân sự cho thấy khiếu nại và tố cáo khác nhau ở những điểm cơ bản sau:

- Về chủ thể thực hiện khiếu nại, tố cáo: Luật Thi hành án dân sự cho phép nhiều chủ thể thực hiện khiếu nại, bao gồm: Đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong đó, “đương sự” bao gồm người được thi hành án, người phải thi hành án. Còn chủ thể thực hiện tố cáo lại rất rộng là “công dân” (Điều 154 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

- Về đối tượng, mục đích của khiếu nại, tố cáo: Đối tượng bị khiếu nại là “quyết định, hành vi” của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự; đối tượng bị tố cáo là “hành vi vi phạm pháp luật” của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

- Về mức độ vi phạm giữa khiếu nại và tố cáo: Về khiếu nại, bất kỳ quyết định, hành vi nào của thủ trưởng, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự đều bị khiếu nại. Đối với tố cáo, chủ thể tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự “gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại” đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

Nghiên cứu về mặt lý luận cho thấy, chỉ có thể xác định một người đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khi hành vi đó có đầy đủ các yếu tố mà từ đó vi phạm pháp luật hình thành. Các yếu tố (dấu hiệu) vi phạm pháp luật được quy định trong các quy phạm pháp luật. Khái quát hành vi vi phạm pháp luật cấu thành từ các yếu tố: Tính trái pháp luật, có lỗi, năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể.

Để đánh giá đúng đắn về mặt pháp lý hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật hay không, cần xác định tình trạng tâm lý và khuynh hướng ý chí của thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác khi họ có vi phạm, tức là xem xét yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Đây là yếu tố quan trọng.

Như vậy, vi phạm pháp luật trong thi hành án dân sự là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự thực hiện, xâm phạm tới những quan hệ xã hội được pháp luật về thi hành án dân sự điều chỉnh và bảo vệ.

- Về quyền của người khiếu nại, người tố cáo: Người khiếu nại có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để khiếu nại, nhờ luật sư giúp đỡ về pháp luật trong quá trình khiếu nại. Người tố cáo có các quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền (không được ủy quyền cho người khác).

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thi hành một số quy định

- Quy định cụ thể về “đương sự” được quyền khiếu nại là những đối tượng nào, thế nào là “người liên quan” được quyền khiếu nại về thi hành án dân sự.

- Nghiên cứu chế định xử lý kiên quyết đối với những trường hợp lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, gây rối; quy định các biện pháp chế tài đối với các trường hợp lợi dụng việc khiếu nại, tố cáo xúc phạm cơ quan và người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là những đối tượng xúi giục công dân thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo.

- Hướng dẫn các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện quy trình ra thông báo chấm dứt khiếu nại, tố cáo và thông báo không thụ lý đối với vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài về thi hành án dân sự đã được giải quyết đúng chính sách pháp luật, thấu tình, đạt lý; trường hợp đã được người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo giải quyết dứt điểm, đúng quy định pháp luật nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại, tố cáo đến nhiều cơ quan chức năng ở trung ương, địa phương, đặc biệt là trường hợp cố tình khiếu nại, tố cáo nhằm kéo dài, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.

- Sửa đổi, bổ sung đầy đủ biểu mẫu về giải quyết khiếu nại, tố cáo; sổ theo dõi công tác giải quyết khiếu nại; các biểu mẫu báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.

2. Cần có văn bản hướng dẫn các cơ quan thi hành án dân sự địa phương về những vấn đề pháp luật đã quy định nhưng chưa rõ ràng để áp dụng thống nhất

Điều 37 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định trường hợp thu hồi quyết định thi hành án là bao gồm cả thu hồi quyết định giải quyết khiếu nại về thi hành án dân sự.

Đối với khiếu nại văn bản, hành vi của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại bao gồm: Khiếu nại thông báo không thụ lý giải quyết khiếu nại, trả lời đơn; khiếu nại chậm giải quyết khiếu nại; không thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại cần hướng dẫn không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại mà có công văn trả lời đương sự nội dung khiếu nại không thuộc trường hợp được giải quyết khiếu nại theo Điều 140 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Trường hợp đối tượng tố cáo bị thu hồi, hủy bỏ (quyết định về thi hành án) trước và trong khi người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có xem xét, giải quyết tố cáo cần xác định, nếu hành vi ban hành quyết định về thi hành án đã bị thu hồi, hủy bỏ là hành vi vi phạm pháp luật thì phải giải quyết tố cáo theo quy định.

3. Tập huấn nghiệp vụ về giải quyết khiếu nại, tố cáo

- Hướng dẫn việc áp dụng pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo bảo đảm giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục;

- Vấn đề hiểu thế nào là người liên quan được quyền khiếu nại;

- Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại chỉ ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về trình tự, thủ tục thi hành án; không ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đối với khiếu nại thông báo không thụ lý khiếu nại, khiếu nại công văn hướng dẫn nghiệp vụ...

Ngoài ra, hiện nay, Tổng cục Thi hành án dân sự đang nghiên cứu đề tài cấp Bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự”. Kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn của hoàn thiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự; là nguồn tham khảo cho các cơ quan trong hệ thống tổ chức thi hành án dân sự và các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong quá trình quản lý, chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự cũng như sửa đổi, bổ sung các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp nêu trên sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thi hành án dân sự thực hiện tốt công tác quản lý, chỉ đạo, tổ chức thi hành pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự; góp phần bảo đảm và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự nói chung và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự nói riêng.

TS. Nguyễn Thanh Thủy

Tổng cục Thi hành án dân sự

Bài liên quan

Tin bài có thể bạn quan tâm

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ và chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025

Bài viết phân tích quy trình xây dựng định hướng lập pháp nhiệm kỳ của Quốc hội và quy trình xây dựng chương trình lập pháp hằng năm của Quốc hội, từ đó, đưa ra một số lưu ý nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện hai quy trình này.
Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023

Tóm tắt: Bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra góp phần bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cần miễm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sản phẩm, hàng hóa có khuyết tật gây ra để bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh. Bài viết nghiên cứu những trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023, đồng thời chỉ ra ưu, nhược điểm và hạn chế của Luật, từ đó, đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Vai trò của luật sư trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý

Trong bối cảnh nhiều thách thức, đội ngũ luật sư với kiến thức chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp của mình, đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả trợ giúp pháp lý.
Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Hoạt động trợ giúp pháp lý cho người yếu thế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh - Thực trạng và giải pháp

Những năm qua, công tác trợ giúp pháp lý trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Nhiều vụ việc được trợ giúp pháp lý kịp thời, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nghèo, người có công với cách mạng và các nhóm yếu thế khác.
Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Ứng dụng công nghệ số, nền tảng trực tuyến, trí tuệ nhân tạo trong hoạt động trợ giúp pháp lý

Những nỗ lực số hóa hồ sơ, vận hành Hệ thống quản lý trợ giúp pháp lý, kết nối dữ liệu dân cư, phát triển tư vấn trực tuyến… đã mở ra hướng tiếp cận mới, góp phần nâng cao chất lượng và tính minh bạch của dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Tăng cường hiệu quả công tác trợ giúp pháp lý cho đối tượng yếu thế trong tố tụng hình sự

Trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đặc biệt, với đối tượng yếu thế, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết và nhân văn. Trong tố tụng hình sự (TTHS), đối tượng yếu thế với tư cách bị hại, người làm chứng hay bị can, bị cáo, đã và đang phải đối mặt với hệ thống tư pháp hình sự. Đối tượng yếu thế có được tiếp cận công lý bình đẳng hay không phụ thuộc vào sự công tâm, chuyên nghiệp và nhạy cảm của các cơ quan trong hoạt động tố tụng, trong đó có vai trò của hoạt động trợ giúp pháp lý.
Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho người nghèo trong bối cảnh mới

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thúc đẩy phát triển bền vững, hoạt động trợ giúp pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công bằng xã hội và tiếp cận công lý cho người dân, đặc biệt là người nghèo thuộc nhóm đối tượng yếu thế.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Đây là giải pháp quan trọng nhằm khắc phục khó khăn, vướng mắc, nâng cao chất lượng tổ chức thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.
Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề chính cần rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới

Sau hơn 08 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai Luật cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế cần sửa đổi, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.
Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Bất cập trong quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và kiến nghị hoàn thiện

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những loại tội phạm có diễn biến ngày càng phức tạp, đa dạng và tinh vi. Phương thức thực hiện tội phạm không ngừng biến đổi, đặc biệt là việc sử dụng công nghệ cao để phạm tội, gây thiệt hại lớn đối với tài sản và tâm lý hoang mang cho người dân, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự về tội này vẫn còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập từ chính quy định của pháp luật.
Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật theo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Bài viết làm rõ sự cần thiết của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên bứt phá, phát triển mới của dân tộc, theo tinh thần Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội XIV).
Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Những quy định cần biết khi xác định kết quả bầu cử

Sau ngày 15/3/2026 - khi cử tri cả nước đã hoàn thành việc bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Các tổ chức phụ trách bầu cử bắt đầu thực hiện những công việc tiếp theo để xác định kết quả bầu cử. Trong đó, việc tính tỷ lệ phiếu bầu, xác định người trúng cử và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm phiếu được thực hiện theo những nguyên tắc chặt chẽ do pháp luật quy định.
Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Những quy định cần biết về phiếu bầu cử và trình tự bỏ phiếu

Để bảo đảm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, các quy định về phiếu bầu cử cũng như nguyên tắc, trình tự bỏ phiếu đã được quy định chặt chẽ tại Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia quy định mẫu văn bản hồ sơ ứng cử và việc hồ sơ ứng cử; nội quy phòng bỏ phiếu trong công tác bầu cử ĐBQH khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Việc nắm rõ các quy định này giúp cử tri thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ trong ngày bầu cử.
Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Xử lý các tình huống đặc biệt phát sinh trong quá trình bầu cử

Trong quá trình tổ chức bầu cử, có thể phát sinh một số tình huống đặc biệt như dịch bệnh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc vấn đề về an ninh, trật tự. Pháp luật về bầu cử đã quy định rõ thẩm quyền và phương án xử lý nhằm bảo đảm cuộc bầu cử được tổ chức an toàn, đúng quy định và bảo đảm quyền bầu cử của cử tri.
Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Bảo đảm việc phân chia đơn vị bầu cử nhiệm kỳ 2026 - 2031 hợp lý, thuận tiện cho cử tri

Để chuẩn bị cho “Ngày hội non sông” - Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, công tác phân chia đơn vị bầu cử cần phải được triển khai với những yêu cầu khắt khe hơn bao giờ hết với mục tiêu trọng tâm là bảo đảm cân đối, tránh chênh lệch lớn, thuận tiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử như: Các khu vực đô thị, khu công nghiệp có đông cử tri; các khu vực miền núi, hải đảo có ít cử tri.

Theo dõi chúng tôi trên: